QuocHung's Blog

6 thg 7, 2010

Ảnh địa đầu biên trấn

Núi Sam nhìn từ xa


Bờ sông Châu Đốc

Bồ Đề Đạo tràng

Chợ chiều Châu Đốc

Cầu Tha la và Thất sơn hậu cảnh

 Trong khu Siêu thị biên giới Tịnh Biên





Cầu Tha La


>

5 thg 7, 2010

Chiếc xe đạp nhỏ.

Vào năm tôi học lớp 3, ba má dời về ở trên lầu nhà số 24 đường Nguyễn Công Nhàn,Tân Châu. Đấy là một trong những nhà của ông Bang Tống cho thuê. Cách nhà tôi một căn là nhà của bác tư Tôn chuyên sửa và bán xe đạp. Ngoài ra, bác còn có rất nhiều xe đạp nhỏ cho mướn. Mỗi chiều, những đứa trẻ trạc tuổi tôi thường mướn xe chạy vòng vòng khắp nẻo chợ. Đứng trên lầu, nhìn những chiếc xe nhỏ từ nhà bác tư dắt ra, tôi thích lắm, muốn được như các bạn.

Một hôm, tôi mạnh dạn, lấy tiền để dành của Ngoại cho, đến mướn xe. Biết là con của người hàng xóm, bác gái lựa cho chiếc xe mới. Tôi cẩn thận dắt chiếc xe đạp ra cửa. Ôi! sao khó quá, xe hết nghiêng bên nầy, chỉnh lại thì ngã bên kia. Ban đầu, hai tay tôi cầm chắc vào ghi đông, xe quẹo qua quẹo lại. Theo bác tư chỉ, một tay tôi vịnh ghi đông, tay kia tôi vịnh yên xe, thế là dắt xe ra. Chưa đến nhà, tôi đã ơi ới gọi, nhờ ba tập xe. 

Ba hướng dẫn tôi, trước tiên phải ngồi ngay ngắn trên yên xe, mắt nhìn phía trước, lưng thẳng. Hai tay giữ chặt tay lái, chân phải để lên bàn đạp, chân trái chống cho xe khỏi ngã. Rồi ba đẩy xe tới trước, vì là xe líp liền nên chân tôi tự động đạp theo vòng quay của bàn đạp,còn tay thì lạng quạng bẻ ghi đông qua lại. 

Suốt buổi chiều hôm ấy, tôi chỉ biết cầm lái, còn ba đẩy và chạy bộ theo tôi suốt dọc nẻo đường. Đến khi trả xe nhìn chiếc áo thun ba lỗ của ba đã ướt đẫm mồ hôi, tôi thương ba vô cùng! Nhớ có lần ba kể, hồi còn nhỏ, lúc ở Châu Đốc, mỗi chiều, ba công kênh tôi ra sân bóng rổ để ba luyện tập. Đến nơi, khi thì tôi vui vẻ ngồi bên ngoài sân cho ba vào nhập cuộc, khi thì ba thả xuống, tôi lại co hai chân lên. Thế là ba đành ở bên ngoài làm khán giả vì đứa con gái cưng trở chứng. Bây giờ, ngẫm lại mới cảm nhận rằng: Tuy không nói ra nhưng tình thương ba dành cho tôi là vô bờ bến, vô điều kiện mà tôi đáp lại có được là bao. Tôi tự thấy như mình thật nhiều lỗi với Người, lại càng thắm thía hơn câu “nước mắt chảy xuôi” mà người ta thường nói.

Ba đi Sàigòn, việc tập xe được giao lại cho chị giúp việc. Không như ba tập, tôi bị té nhiều lần, trầy cả hai đầu gối. Có lần đau quá, định quát chị, chợt nhớ bài Đức dục vừa học “bổn phận đối với người giúp việc” nên tôi không dám la chị mà chỉ biềt khóc. Đó là hiệu quả của môn Đức dục ngày xưa là thế.

Mấy hôm sau, đi học về, tôi mừng không sao kể xiết khi thấy chiếc xe đạp nhỏ màu đỏ tươi có kẻ viền trắng xinh ơi là xinh đang dựng ở trong nhà. Hai bánh xe tròn to, vỏ màu trắng nổi bật cái sườn đỏ tươi với cặp vè bằng nhôm sáng loáng. Chiếc xe có đầy đủ đồ phụ tùng như đèn, chuông, thắng, cây chỏi, bọc sên và có cả boọc ba ga. Điều làm tôi thích nhất là xe có 2 bánh phụ phía sau, nhờ thế mà tôi không bị té khi tập xe nữa. Chiếc xe nầy ba mua đắt tiền lắm, hình như là 120 hay 1200 đồng tôi không nhớ rõ. Sau nầy, ba còn làm thêm một yên dài bằng gỗ ở phía trước để tôi chở được 3 đứa em cùng lúc, hai đứa ngồi trên yên gỗ phía trước, một đứa ngồi sau boọc ba ga. Mỗi chiều, khi cơm nước xong là tôi chở các em đi chơi.

Chiếc xe đạp đỏ, đã gắn liền với tám chị em chúng tôi. Ngoài ra còn thêm gần mười đứa cháu cũng từng sử dụng chiếc xe này. Có lẻ hiện nó đang nghỉ dưỡng ở nhà Út Huệ tại Tân Châu. Không biết nó có còn sức lực để làm tiếp nhiệm vụ dìu dẫn bước đầu cho những đứa trẻ muốn lên ngựa sắt nữa không, dù nó đã trải qua bao lần thay vỏ ruột, đổi màu sơn /.

Tân Châu 25-6-2010
VÂN KHANH

4 thg 7, 2010

Chuyện thời sự

Hai hôm nay về TC đám giỗ. Có ghé Châu Đốc và Xuân Tô chụp mấy tấm hình, hôm nào rảnh sẽ đưa lên xem.
Vừa về đến nhà LX, thấy tin thời sự của Bút Lông viết hợp ý quá nên đưa lên đây để nhớ. Hôm qua đọc báo thấy Vinashin lỗ 80 ngàn tỉ, hôm nay báo Tuổi Trẻ đăng lỗ 90 ngàn tỉ,. . . Cám ơn nhé Bút Lông Blog Phan Lợi.


“Chúng tôi muốn nói lời xin lỗi nhân dân” – lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) vừa chính thức lên tiếng sau khi thừa nhận họ đã quá say sưa tham gia thị trường chứng khoán, nhà đất, bảo hiểm (là những lĩnh vực sở đoản, ngoài ngành)... mà thiếu tập trung vào công việc chính là đóng tàu.
Vì thế trên nền tảng là vốn vay, gặp khủng hoảng kinh tế thế giới, Vinashin rơi vào khó khăn buộc phải “cơ cấu lại”, mà thực chất đó là một mỹ từ chỉ một dạng doanh nghiệp phá sản.
Tương tự, để xảy ra tình trạng mất điện trên diện rộng vừa qua, Tập đoàn Điện lực (EVN) cũng đã đưa ra lời xin lỗi.
Theo cách nói của bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc thì “hơn cả việc xin lỗi, EVN cần kiểm điểm lại toàn bộ hoạt động của mình để những sự cố tương tự không xảy ra trong thời gian tới”. Lý do là theo đánh giá của Chính phủ, trong những khó khăn gây nên thiếu điện những yếu tố chủ quan vẫn là nguyên nhân chính. Trong đó, EVN và Bộ Công thương đã không làm tốt công tác dự báo nhu cầu cũng như những khó khăn về nguồn điện, nên không thể đưa ra giải pháp kịp thời.
Trong khi đó, như một lãnh đạo dầu khí cho hay, tất cả những mặt bằng tốt nhất phục vụ cho việc đóng tàu Vinashin đã “xí chỗ”, nhất quyết không chịu “nhả” dù năng lực kém, dù nhu cầu của dầu khí về tàu chở dầu đang rất bức xúc.
Còn EVN, do độc quyền truyền tải và phân phối điện nên tất cả các nguồn phát điện đều phải “lạy” EVN theo cơ chế xin-cho thì mới mong thành phẩm của mình có “đầu ra”.
Do vậy trước cả hai lời “xin lỗi” nói trên, nhân dân (không còn cách nào khác là) buộc phải chấp thuận vì quyền lực cao nhất đã uỷ quyền cho nhà nước mất rồi.
Hơn thế, thay mặt nhân dân, nhà nước đã đứng ra bảo lãnh 700 triệu USD vốn trái phiếu Chính phủ cho Vinashin; đã khước từ đề án tái cơ cấu ngành điện mà Bộ Công thương đề xuất dẫn đến tình thế giờ đây nợ của Vinashin thì ngấp nghé tài sản (nợ 80 ngàn tỷ - tài sản 90 ngàn tỷ); EVN vẫn “một mình một chợ” trên thị trường điện nên hễ thiếu là... cắt, bất cần biết xã hội lao đao thế nào!
Rõ ràng, lãnh đạo cả hai ngành nói trên đều không hoàn thành nhiệm vụ, phụ bạc những ưu ái và niềm tin của nhân dân, cần phải có những chế tài trách nhiệm.
Thế nhưng một lãnh đạo mới đây tuyên bố: cứ kỷ luật, cách chức thì lấy đâu ra cán bộ làm việc thì e rằng nhân dân còn phải nghe “xin lỗi” dài dài...

Bài gốc: Chẳng lẽ cứ phải nghe lời xin lỗi mãi?

2 thg 7, 2010

NGƯỜI VIỆT ỒN ÀO

Tôi không biết người Mỹ, nói chung, có trầm lặng hay không. Nhưng tôi biết chắc một điều: Người Việt chúng ta, nói chung, thì rất ồn ào.


Tôi không nói đến những sự ồn ào khi xem bóng đá hay trong các cuộc tranh tài khác. Ở đâu cũng vậy. Văn hoá thể thao hay văn hoá lễ hội là văn hoá của đám đông và của sự ồn ào.

Ở đây, tôi chỉ giới hạn trong đời sống hàng ngày.

Với giới hạn như thế, tôi có cảm tưởng, sự ồn ào của người Việt là một điều rất đáng nói.

Ồn ào từ ngoài đường phố. So với các đường phố trên thế giới, đường phố Việt Nam, đặc biệt ở các thành phố lớn, đứng đầu là Sài Gòn và Hà Nội, có hai đặc điểm nổi bật nhất: lộn xộn và ồn ào. Chuyện lộn xộn thì chúng ta đã bàn trong bài về văn hoá giao thông; còn chuyện ồn ào thì cũng đã được nhiều người đề cập. Tôi đã từng nghe nhiều người bạn vốn du lịch nhiều, nhận xét: Chưa thấy đường phố nào ồn ào như đường phố ở Việt Nam.

Đi xe, từ xe hơi đến xe gắn máy, người ta bóp còi inh ỏi liên tục. Ở ngoại quốc, lái xe, thỉnh thoảng chúng ta cũng bóp còi. Mục đích chủ yếu của việc bóp còi là để nhắc nhở chiếc xe phía trước điều gì đó, chẳng hạn, đèn đã xanh nhưng họ vẫn tiếp tục ngừng lại. Ở Việt Nam, bóp còi chủ yếu là để nhắc nhở những người lái xe khác, trước mặt và chung quanh, là mình đang… lái xe.

Để họ nhường đường hoặc đừng quẹo ẩu. Thành ra, bắt chước Descartes, có thể nói, ở Việt Nam, “Tôi bóp còi, vậy tôi hiện hữu!” Hậu quả của “triết lý” đó là, theo ghi nhận của mấy người bạn và người quen của tôi, ở Việt Nam, hai bộ phận trong xe hơi và xe gắn máy dễ bị hư nhất là: kèn và thắng. Hầu như lúc nào chúng cũng hoạt động liên tục.

Ồn gần ngang ngửa với đường phố là chợ. Trong tiếng Việt có thành ngữ “ồn như chợ” hay “ồn như chợ vỡ”. Không có chợ nào đang hoạt động và có khách mà lại hoàn toàn im lặng. Nhưng độ ồn của nhiều chợ, nhất là các chợ ở Tây phương, thường rất chừng mực. Nói cho đúng: ở đó có nhiều tiếng động hơn là tiếng ồn. Thỉnh thoảng có vài chợ, một lúc nào đó, có người cầm loa phóng thanh quảng cáo hay chào mời khách hàng. Nhưng, thường, trong cả chợ, chỉ có một vài người chào mời hay quảng cáo như thế. Khi cửa hàng này dùng loa phóng thanh thì cửa hàng khác im lặng. Chợ Việt Nam, ngược lại, hầu như lúc nào cũng ồn. Tiếng chân lê trên dép nhựa. Tiếng chào hàng. Tiếng trả giá. Tiếng cãi cọ. Tiếng cười nói. Tiếng nhạc mở từ trong các tiệm. Ồn nhất là tiếng rao hàng. Ra ngoại quốc, người Việt vẫn giữ nguyên thói quen rao hàng rất ồn ào như thế. Cứ vào các khu chợ Việt Nam thì thấy. Đại khái: “Xoài tươi, 20 đô một thùng đây! Mại dzô!”, “Sầu riêng mới nhập từ Thái Lan, 3 đô một ký đây! Dzô đi bà con ơi!”. Thường người ta không nhường nhau. Mạnh ai nấy gào. Người bên cạnh gào to thì mình cố gào cho to hơn nữa. Cuộc chiến giành khách được thể hiện, trước hết, bằng độ lớn của những tiếng mời khách.

Cũng ngang ngửa với chợ là quán nhậu. Vào các quán bia rượu của Tây phương, người ta dễ thấy cảnh từng nhóm ngồi vừa uống vừa chuyện trò rù rì với nhau. Ở các quán nhậu Việt Nam thì khác hẳn. Nhậu, người Việt Nam thường có một thói quen mà người ngoại quốc hiếm khi có: ép. Uống một mình hình như người ta không thấy… dzui. Người ta phải mời người khác: “Cụng ly!” Vào cuộc, cụng. Nhậu ngà ngà rồi, cũng cụng. Đã ngất ngư, cũng cụng nữa. Người nào không tự nguyện cụng ly thì bị ép. Trong quán nhậu, lúc nào cũng nghe lảnh lói những tiếng mời ép như tiếng hô xung trận: “Dzô!” hay “Trăm phần trăm!” Ngoài chuyện mời hay ép, người ta còn bày cách phạt nhau. Đến muộn: phạt! Uống ít, phá mồi nhiều: phạt! Uống mà không say thì không “đã”. Mà đã say thì nói nhiều. Nhiều nhất là chuyện tiếu lâm. Không có gì đáng ngạc nhiên khi trong các quán nhậu, lâu lâu người ta lại cười rú lên.

Ngay trong các lớp học, người Việt Nam cũng ồn. Lớp toàn sinh viên Việt Nam càng ồn. Ở các lớp xen kẽ vừa sinh viên ngoại quốc vừa sinh viên Việt Nam, theo kinh nghiệm đi dạy gần cả 20 năm của tôi, đám sinh viên Việt Nam cũng thường có thói quen nói chuyện trong lớp nhiều nhất. Trong các cuộc họp hành hay hội nghị cũng thế. Trên bục, diễn giả cứ nói; ở dưới, thính giả cứ tự nhiên chụm đầu vào nhau rì rầm. Thỉnh thoảng lại cười rinh rích trông rất hả hê.

Nhưng không phải chỉ ở ngoài đường, ngoài chợ, trong quán nhậu, trong lớp học hay hội trường, người Việt mới ồn. Tôi muốn nói thêm: ở đâu người Việt Nam cũng ồn. Cái ồn không ở hoàn cảnh mà ở cái giọng. Nói chung, theo tôi, phần lớn người Việt Nam có giọng nói và tiếng cười khá to. Dĩ nhiên không phải tất cả. Nhưng có nhiều, rất nhiều. Có thể nói là đa số.

Ở trường học, ngồi trong văn phòng, nghe rộ lên những tiếng cười rổn rảng; chưa kịp nghe giọng, tôi đã biết ngay: người Việt! Thỉnh thoảng cũng nhầm: không phải người Việt. Mà là người Hoa! Thì cũng… đồng văn cả!

Thật ra, nếu đi thi giọng, chưa chắc giọng người Việt đã lớn. Có khi ngược lại. Có điều, ở chỗ công cộng, người Tây phương thường hãm âm thanh lại cho… vừa đủ nghe. Còn người Việt thì không. Ở đâu và lúc nào cũng thường chỉ có một “volume”. Lại là volume ở độ cao nhất.

Tại sao có hiện tượng như thế?

Trong cuốn “Người Trung Quốc xấu xí” (bản dịch của Nguyễn Hồi Thủ, nxb Văn Nghệ, California, 1991), Bá Dương cũng ghi nhận là người Trung Quốc, đặc biệt là người Quảng Đông, cũng rất ồn ào. Ông cũng đặt câu hỏi: Tại sao? Rồi ông trả lời: “Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng là mình mạnh. Cho nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình.” (tr. 40).

Tôi không nghĩ đó là trường hợp của người Việt Nam. Tôi cho tính ồn ào chỉ là tàn tích của xã hội nông nghiệp. Ngay cả hiện nay, đa số người Việt vẫn còn sống ở nông thôn. Tuyệt đại đa số người Việt từ trung niên trở lên, ngay trong thành phần trí thức, cũng có gốc gác nông thôn.

Đời sống nông thôn khác đời sống thành thị ở nhiều phương diện, nhưng quan trọng nhất, theo tôi, là ở quan hệ giữa nhà ở và nơi làm việc: cả hai, thật ra, là một. Nhà để ở đồng thời cũng để làm việc. Người ta may vá trong nhà, dệt cửi trong nhà, đan lát trong nhà. Người ta phơi lúa ngoài sân, giã thóc ngoài sân; nuôi heo, nuôi gà, nuôi vịt trong vườn; trồng trọt cây trái và rau cỏ cũng trong vườn. Nhà, do đó, được kiến trúc theo lối đa chức năng; rất ít khi chia phòng, ngay cả nhà của phú hộ. Ý niệm riêng tư hầu như không có. Ngủ, phần lớn là ngủ chung; ba bốn người trên chiếc giường. Giường, phần lớn đặt sát bên nhau, ở một góc nào đó, không có vách ngăn. Có khi người ta ngủ ngay trên chiếc phản đặt giữa nhà.

Từ nhà này sang nhà khác, cũng không ai cần báo trước. Cứ xồng xộc bước thẳng vào nhà. Không thấy chủ ở nhà trên thì đi thẳng xuống nhà dưới; không thấy nữa thì đi tuốt ra sau vườn. Nói chuyện, người ta cũng không cần đến gần nhau. Người mẹ vừa nấu ăn trong bếp vừa lớn tiếng la rầy con đang chơi trước sân, dặn dò chồng đang lúi húi đào đất sau vườn, hay tâm tình với bà hàng xóm bên cạnh. Không có ý niệm riêng tư, không ai “care” đến chuyện làm phiền người khác vì giọng nói hay tiếng cười rổn rảng hoặc chói lói của mình.

Ở thành thị thì khác. Nơi ở và nơi làm việc thường là hai không gian khác nhau. Sáng, người ta đến hãng, sở hay công ty làm việc với nhiều người khác: đó là không gian lao động và cũng là không gian công cộng. Tối, người ta mới về nhà nghỉ ngơi: Nhà trở thành không gian để nghỉ ngơi và hoàn toàn có tính chất riêng tư. Để bảo vệ tính riêng tư, nhà người ta lúc nào cũng cửa đóng then cài. Ngay trong nhà, giữa người này và người nọ cũng có những sự riêng tư nhất định. Mỗi người một phòng riêng. Không phải lúc nào người ta cũng có thể xồng xộc vào phòng nhau. Thậm chí, ở phòng này, người ta cũng không muốn làm phiền người ở phòng bên cạnh. Nhạc chỉ mở vừa đủ cho mình nghe. Và nói, người ta cũng chỉ nói vừa đủ cho người đối thoại nghe. Tiếng ồn, do đó, bị xem như một sự xúc phạm và vi phạm vào sự riêng tư của người khác. Có thể nói “điều chỉnh âm thanh vừa đủ nghe” hầu như là quy luật của đời sống thành thị.

Những thói quen ăn to nói lớn, bất chấp sự riêng tư và quyền có sự im lặng của người khác được nuôi dưỡng trong nền văn hoá nông nghiệp kéo dài cả hàng ngàn năm ăn sâu vào chúng ta, không dễ gì mai một, ngay khi chúng ta đã ở thành phố, kể cả các thành phố đã được đô thị hoá rất cao ở Tây phương. Còn ở các thành phố mang nhiều chất nông thôn như ở Việt Nam thì khỏi phải nói.

Sự tồn tại của người-Việt-ồn-ào không chừng còn lâu. Có khi sang tận thế kỷ 22.

Theo NGUYỄN HƯNG QUỐC

Cháu ngoại

















1 thg 7, 2010

Chuyện giờ giấc

Chu kỳ một ngày
Thời gian ngày nay đã trở thành một chủ đề quan trọng của môn vật lý, và hơn 340 chiếc đồng hồ nguyên tử trên thế giới đang góp phần xác định giờ chuẩn cho các hoạt động của xã hội. Nhưng chúng ta cũng có thể dùng những định nghĩa thời gian đơn giản hơn, hợp với cảm nhận của con người tự xa xưa: ngày, đêm, mùa màng, v.v.


Mọi chuyện bắt đầu từ các vòng quay của trái đất. Xấp xỉ như một quả cầu tròn với bán kính trung bình 6.371km, trái đất tự quay quanh một trục của chính nó, đồng thời quay chung quanh mặt trời trên một quỹ đạo hình elip – gọi là đường hoàng đạo – với một chu kỳ khoảng 365,26 vòng tự quay của nó. Trục quay của trái đất – nối các điểm Nam và Bắc cực – không thẳng góc với mặt phẳng của đường hoàng đạo, mà nghiêng một góc khoảng 23°27’ so với đường thẳng góc ấy. Trái đất cách mặt trời khoảng 150 triệu km. Với độ xa ấy, ánh sáng mặt trời có thể coi như đến từ vô cực và ở mỗi thời điểm sẽ chiếu sáng một nửa vòng trái đất, nửa kia chìm trong bóng tối.

Quỹ đạo trái đất. Ảnh CTV

Do chuyển động tự quay, mỗi điểm trên trái đất sẽ chuyển từ trưa, khi tiếp nhận các tia sáng mặt trời ở góc lớn nhất (góc đối với mặt đất), sang chiều, rồi tối, đêm, sáng, lại đến trưa… Đó là vòng thời gian ngày, đêm. Chu kỳ một ngày (kể cả đêm!) ấy, con người vì tiện ích của mình đã chia nhỏ hơn thành 24 giờ, mỗi giờ 60 phút, mỗi phút 60 giây.

Sau 365 ngày 6 giờ 9 phút, trái đất trở lại vị trí cũ trên đường hoàng đạo: một năm vừa trôi qua. Còn chuyện tháng là chuyện của chị Hằng, kéo theo các năm nhuận, xin để dịp khác. Bài này cũng sẽ không đề cập tới một số chuyển động khác của bản thân trục trái đất.

Giờ mặt trời và giờ pháp quy
Ở xích đạo, ngày luôn luôn dài bằng đêm. Nhưng, với độ nghiêng của trục quay so với hoàng đạo, thời lượng ngày, đêm ở một điểm ngoài xích đạo biến đổi theo vị trí của trái đất trên đường hoàng đạo. Có hai điểm, xuân phân và thu phân, khi trục nam – bắc thẳng góc với đường trái đất – mặt trời, ngày bằng đêm ở mọi nơi. Từ điểm xuân phân (“xuân” là với Bắc bán cầu), ngày 20 hay 21.3 theo lịch hiện đại, trái đất chuyển dần tới điểm hạ chí (20 hay 21.6), ở nửa Bắc địa cầu ngày dài ra ít hay nhiều tuỳ theo địa phương ở gần hay xa xích đạo: mùa xuân chuyển sang mùa hè… 
Hiện tượng này càng rõ khi ta tiến từ xích đạo lên phía bắc, và trong những ngày gần ngày hạ chí. Hiện tượng này sẽ ảnh hưởng tới việc quy định giờ mùa hè ở các nước liên hệ, như sẽ trình bày dưới đây.

Các đường kinh tuyến
Trước đó, cần nêu một nhận xét khác: trên mỗi đường kinh tuyến – vòng tròn trên trái đất có đường kính là trục nam – bắc, các thời điểm trong ngày như giữa trưa (khi mặt trời lên cao nhất), nửa đêm… diễn ra đồng thời. Người ta xác định một kinh tuyến gốc, theo công ước quốc tế hiện nay là kinh tuyến đi qua đài thiên văn Greenwich, gần thủ đô London của nước Anh, và tính các kinh tuyến theo góc của mặt phẳng chứa nó với mặt phẳng của kinh tuyến Greenwich: từ 0 đến 180° về phía đông hoặc 0 đến 180° về phía tây.

Kinh tuyến 180° đông hay tây trùng nhau và chủ yếu nằm trên Thái Bình Dương, chỉ đi qua vài vùng đất rất ít người ở. Khi giữa trưa trên kinh tuyến Greenwich thì, do vòng quay của trái đất, ở kinh tuyến 15° đông, giữa trưa đã qua được đúng một giờ: nếu các đồng hồ đều chỉ 12 giờ vào thời điểm giữa trưa trên kinh tuyến Greenwich thì trên kinh tuyến 15° đông sẽ là 13 giờ, và trên kinh tuyến 17° đông là 13 giờ 8 phút v.v...

Để hạn chế việc phải đổi giờ khi di chuyển theo chiều đông – tây, người ta quy ước chia trái đất làm 24 múi giờ, mỗi múi giờ là một “múi đất” (như ta nói “múi cam”) rộng 15 kinh tuyến, ở giữa là các kinh tuyến 0° (Greenwich), 15° đông, 15° tây, v.v…, đánh số với dấu cộng ở phía đông và dấu trừ ở phía tây. Khi đồng hồ chỉ 12 giờ trưa ở kinh tuyến Greenwich thì trên tất cả các kinh tuyến trong múi số 0 cũng là 12 giờ và ở múi số +2 (chung quanh kinh tuyến 30°), sẽ là 14 giờ… Kinh tuyến 180° là kinh tuyến đổi ngày (“ngày” theo lịch, là từ nửa đêm tới nửa đêm). Đó là giờ mặt trời.

Nhưng, biên giới của các quốc gia lại không thẳng theo các kinh tuyến, và nhiều quốc gia trải rộng ra hơn một múi giờ. Ngoài ra, có nước nằm trong một múi giờ nhưng lại thích theo giờ ở một múi khác: giờ pháp quy ra đời, không hẳn trùng với giờ mặt trời.

Mỗi nước, tuỳ địa dư của nước mình, sẽ quyết định giờ chính thức của cả nước hay từng vùng (chia theo các đường biên hướng bắc nam song không nhất thiết là trùng với các kinh tuyến đổi giờ, mà chỉ là gần các kinh tuyến đó, đồng thời phù hợp với các đường biên hành chính) là giờ nào, so với giờ chuẩn quốc tế (coordinated universal time, viết tắt là UTC) – xê xích vài giây so với giờ Greenwich (GMT).
Giờ pháp quy của Trung Quốc là giờ Bắc Kinh (UTC+8) cho cả nước (ở Tân Cương, giữa trưa là… 15 giờ!). Nga cũng có 5 giờ chênh lệch từ Moscow sang Vladivostok… Thường thì các giờ pháp quy là trùng hoặc sai lệch một số nguyên so với múi giờ mặt trời trung bình của quốc gia hay vùng liên hệ, song cũng có nước quy định sai biệt nửa giờ so với múi giờ đó (như Iran, Ấn Độ).

Múi giờ của Việt Nam

Như đã trình bày, các nước Âu, Mỹ ở Bắc bán cầu có những ngày rất dài từ cuối tháng 3 tới cuối tháng 9. Mà sinh hoạt xã hội lại khá nhiều vào buổi tối và phụ thuộc giờ pháp quy hơn là giờ mặt trời.

Để tiết kiệm năng lượng (bật đèn sinh hoạt tối trễ một tiếng, còn sáng sớm thì không ảnh hưởng lắm), người ta quyết định đẩy giờ pháp quy lên một tiếng trong mùa hè (ngày cụ thể – vào khoảng cuối tháng 3, thì tuỳ nước), sang thu lại trở về giờ cũ. Biện pháp này đã được áp dụng ở Mỹ, Canada, các nước châu Âu, Nga v.v.(và một số nước ở Nam bán cầu, tất nhiên là trong chiều ngược lại), tuy có nhiều người phản đối (nếu vì di chuyển mà phải đổi giờ thì đã đành, đằng này ở nhà mà mỗi năm hai lần phải đổi giờ, đổi nhịp sinh hoạt…)

Việt Nam nằm gọn trong múi giờ +7 (điểm cực tây ở kinh tuyến 102,2° đông và điểm cực đông ở kinh tuyến 109,5° đông, quần đảo Trường Sa gần kinh tuyến 116° đông chỉ ra ngoài chút ít), lại khá gần xích đạo, ngay ở phía bắc, ngày hè cũng không dài hơn đêm bao nhiêu, thiết nghĩ việc xác định giờ pháp quy UTC+7 suốt năm như hiện nay (không đổi giờ mùa hè) là thích hợp nhất.

Những ý kiến đòi đổi sang giờ UTC+8 (trùng với giờ Bắc Kinh) “để thuận tiện trong giao dịch” là hoàn toàn không đứng vững. Pháp với Anh vẫn chênh nhau một giờ; ngay trong một nước như ở Mỹ, giờ New York khác giờ Chicago, khác giờ Los Angeles, họ có thấy gì bất tiện đâu?

Theo bài gốc của Hà Dương Tường

Bí kíp luộc rau luôn xanh

Làm lạnh rau ngay khi luộc xong

Ngay khi vừa vớt rau ra khỏi nồi luộc, hãy cho rau vào ngay thố nước lọc, có vài viên đá lạnh nhỏ trong đó. Sau đó, phải đảm bảo là rau đã nguội hoàn toàn mới vớt ra, để ráo, xếp vào dĩa. Cách này giúp rau của bạn xanh trong nhiều giờ. Nếu muốn rau luộc giòn thì cho vào ngăn mát tủ lạnh, khi nào dùng thì mới mang ra.

Hãy đợi nước thật sôi và vắt thêm chanh
Với một số loại rau như súp lơ, cà rốt muốn giữ màu sắc tươi sáng, bạn chỉ cần đợi nước thật sôi, vắt thêm vài giọt chanh, hay cho vào một muỗng giấm. Làm như thế không những rau giữ được màu sắc mà còn giữ được hương vị ban đầu.
Dầu ăn cũng giúp rau luộc xanh hơn
Để không tốn thời gian với cách làm ở trên, bạn có thể cho một muỗng dầu ăn vào nồi nước luộc trước khi vớt rau ra. Nhờ lớp dầu ăn bên ngoài, rau của bạn sẽ xanh và bóng hơn.

Phan Vân

CANH RAU ĐỒNG

(CANH RAU TẬP TÀNG , CANH RAU LÁO NHÁO )


Vào những năm còn bao cấp , món canh rau dại gắn bó miệt mài với những gia đình nông dân . Những buổi trưa hè , cây lá xơ xác , quặt quẹo với cái không khí nóng bức hâm hấp , nhìn mâm cơm nóng không ai còn ăn nổi thì món cánh rau dại là một giải pháp tốt nhất .

Món ăn mẹ nấu bao giờ cũng ngon, giản đơn thôi nhưng trong bát canh thanh đạm ấy có hương vị của đường làng, đồng ruộng, có vị xa xôi man mác của gió trăng và đặc biệt có hơi ấm bàn tay mẹ nhặt từng ngọn rau. Khi đi xa con càng nhớ nhiều hơn , những bát canh rau dại của mẹ đã khuyên dạy con trên suốt quảng đường đời .

Gọi là canh rau đồng ( miền Trung gọi là canh rau tập tàng , miền Bắc gọi là rau láo nháo ) vì nó tập hợp đủ thứ rau hái trong vườn từ rau dền ,rau chay, mồng tơi, rau sam, rau diệu, bồ ngót, lá ớt non, lá khổ qua kể cả trái khổ qua còn non, trái bắp vừa nhú còn thơm mùi sữa, trái mướp vừa hái trên giàn, bông thiên lý , vài đọt bầu , đọt rau lang .... Những thứ rau ấy sau khi vừa hái xong về nấu chung với ít cá bống dừa hay tép bạc đâm nhỏ cho ngọt nước, cho them ít muối , đường , bột ngọt , cho thêm ít nước mắm đồng cho có hương vị đồng quê, vậy là làm nên một tô canh thơm lừng.


Không cao sang như các món ăn khác nhưng không chỉ thực khách thành thị, du khách khó tính nước ngoài về quê thực khách mới có thể nếm trải món canh ngon nhất và thực nhất mùi vị của nó, từ vị đắng nhẹ của lá khổ qua non đến vị ngọt đậm đà của lá bồ ngót, vị chua nhẹ nhàng của lá rau sam, vị thơm của mướp vừa hái, vị ngọt ngào thơm tho của bắp non...tất cả hòa quyện nên một hương vị đồng quê thơm ngát. Có lẽ cũng vì thế mà người đi xa quê bao giờ cũng nghĩ món ăn quê mình là ngon nhất, ngọt ngào nhất và khó có nơi nào sánh bằng.
Mà canh rau đồng thì thức mặn ăn kèm cũng đồng nội, ngon nhất vẫn là cá lòng tong hoặc cá kèo kho tiêu, thêm ít trái ớt hiểm chín làm màu. Ơ kho khô quéo dọn ra cùng nồi cơm nóng, tô canh nghi ngút khói. Bữa trưa nắng nóng và chén cơm chan ít nước canh rau đồng thì mát đến tận ruột gan.

Con đi con nhớ quê nhà
Canh rau đồng nóng cá kèo kho tiêu

PHAN VÂN

30 thg 6, 2010

Kể chuyện bắt cá bằng hình

Dưới đây là loạt ảnh mô tả vùng nuôi Global G.A.P tại xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang của CTy Việt An thu hoạch cá tra để vận chuyển về một trong 3 xí nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu của CTy làm nguyên liệu sạch đầu vào.


Trước khi bắt cá, ngư dân dùng lưới quây và gom cá vào một luồng và từ từ lùa cá vào một nơi để xúc cá khuân lên bờ. Động tác quây, gom và lùa cá ngư dân gọi là LÓN CÁ

Lưới quây cá và gom cá vào nơi xúc cá


Hai người cùng kéo, đẩy một thanh tre gạt nâng đáy lưới lên để lùa đàn cá về phía đội xúc cá đang chờ để xúc.
Nơi xúc cá: 3 người xúc cá dổ vào 3 cái CHÚM; có 3 cặp chờ sẳn cùng khuân CHÚM lên bờ ao để cân CHÚM
Xúc cá vào CHÚM để khuân lên bờ CÂN cá
Mỗi CHÚM không nặng gần 20 Kg, với số cá bên trong gần 80 Kg, nên phải hai người khuân mới được.
Khiêng cá lên bờ để CÂN cá


Nơi CÂN cá và chuyển cá lên xe gắn máy chở đến bến sông
CÂN cá trước khi chuyển xuống ghe


Đội vận chuyển LÒI cá từ ao nuôi ra bến sông
Đội chuyên nghiệp chở cá xuống bến Ghe


Bến sông. Nơi ghe chuyên dụng chờ nhận cá vận chuyển về CTy chế biến.
Bến Ghe đậu nhận cá nguyên liệu sạch


Công nhân lại phải khuân cá từ bến sông xuống ghe chuyên chở cá (Ghe ĐỤC)
Lại công đoạn Khiệng cá xuống ghe


Công đoạn sau cùng: Công nhân đổ CHÚM cá vào hầm của ghe Đục
Cuối cùng là đổ CHÚM cá xuống hầm ghe đục.
Cá chuyển về Xí nghiệp là nguyên liệu sạch đầu vào của quá trình chế biến thùy sản đông lạnh xuất khẩu.

28 thg 6, 2010

PHÒNG CSĐB VÀ 2 LẦN ĐẾN

Cơn mưa nặng hạt bất ngờ ập đến, làm không khí của thành phố bớt oi nồng. Vậy mà trong lòng tôi như bốc hoả khi được tin Nhàn bị tai nạn dẫn đến liệt cả tứ chi. Dưới bầu trời vẫn còn nặng đầy mây xám, tôi và Nga vội vã đến bệnh viện thăm em.

Khoảng năm 1985, tôi biết em qua khoá học chuyên môn ngành giáo dục.Nhìn cách ứng xử với thầy cô, với bạn đồng nghiệp, tôi và mọi người trong lớp học đếu quí mến em. Với ai, em cũng nhiệt tình, niềm nở, thân thiện và gần gũi. Có lẽ, nề nếp gia đình đã hình thành nhân cách của em. Cả nhà em đều ăn trường chay và lo tu tập theo đạo PGHH. Nhà có ba anh em trai thì em và người anh thứ năm không lập gia đình, chỉ chuyên tâm lo làm việc thiện, tu sửa bản thân. Ngoài việc giảng dạy, em nghiên cứu về kinh sách, về Phật học, về mỹ thuật. Sau nầy, em nghỉ dạy để chuyên sâu về nghiên cứu hơn. Em sống một cách an nhàn và thư thái trong một cái cốc, trên núi Cấm, gần vồ Bồ Hong. Thế mà từ một cú va đập do trượt chân té ngã, tai hoạ đã ập đến đời em: Em bị dập tuỷ ở đốt sống cổ, sinh mệnh khó bảo toàn.

Bệnh viện Quốc Tế - Phòng Chăm sóc đặc biệt! Hơn một lần tôi đã gặp. Những chữ nầy làm nhói tim tôi bởi một trạng thái cảm xúc quái lạ, nghiệt ngã. Em nằm đấy, toàn thân bất động. Chỉ còn ánh mắt là biểu hiện những cảm xúc, những suy nghĩ của em nhiều hơn là bằng những tiếng nói chậm chạp, khó nghe. Tôi sợ lắm! Tôi sẽ cầu nguỵên cho em thoát khỏi kiếp nạn nầy, đừng giống như lần trước . . .

Bệnh viện Chợ Rẩy - Phòng Chăm sóc đặc biệt! Con tôi đã ra đi! Con tôi ra đi, đã mang theo một phần lẽ sống của tôi. Sự mất mát không gì bù đắp được. Hơn ba mươi năm qua, dẫu thời gian có trôi, nhưng nỗi đau vẫn còn đó, âm ỉ triền miên. Lúc ấy, tôi đâu biết vào đây là sự sống ví như chỉ mành treo chuông nặng.

Năm 1993, đường sá, cầu phà, phương tiện lưu thông còn hạn hẹp, khó khăn. Con tôi bệnh nặng, phải có máy thở mới mong qua được phút hiểm nghèo. Từ Tân Châu muốn chuyển bệnh lên Thành phố Hồ Chí Minh phải ghé qua Long Xuyên mới có đủ phương tiện để đi tiếp. Con tôi phải chuyển viện đến hai lần. Lần đầu đi được khoảng 7 km, do xe chuyển bệnh thuộc loại cà tàng, chạy rề rề, nóng hầm không chịu nổi. Thấy bệnh trở xấu, bác sĩ Kim (dượng út) và bác sĩ Phương (anh ruột) bàn nhau quay trở lại. Vừa về đến bệnh viện Tân Châu thì xe bể bánh. Lại phải lo cấp cứu. Không đi được, bệnh tình nặng thêm. Sau khi các Bác sĩ ở Long Xuyên lên đặt nội khí quản và bóp bóng, ngày hôm sau lại chuyển đi lần thứ hai. Lần nầy, được sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo Chi cục thuế tỉnh An Giang điều xe -Con tôi công tác tại phòng thuế Tân Châu – xe mới mua, có máy lạnh, chạy êm ru. Ngồi trên xe, nhìn con, tôi cầu khẩn, tôi vái van. Nếu đổi một phần cơ thể mình để lấy sự sống cho con tôi, tôi sẵn sàng hoán đổi. Tôi tưởng mình đang ngồi trên dầu sôi lửa bỏng, tôi ước sao mình có phép mầu để đi nhanh đến nơi tìm sự sống cho con. Xe chạy trên đường, tôi cứ ngỡ nó đang bò vào khoảng tối âm u, vô tận. Tôi đắm mình trong khoảng lặng tối tâm đó cho đến khi thấy ánh đèn chớp tắt ở cổng cấp cứu của bệnh viện Chợ Rẩy. Tôi bừng tĩnh, tôi muốn thét to lên mừng rỡ vì nghĩ rằng, đến được đây con mình sẽ được cứu sống. Nào ngờ . . . . Phòng Chăm sóc đặc biệt ám ảnh tôi từ đấy.

Lần nầy, đến thăm Nhàn ở phòng Chăm sóc đặc biệt lòng không khỏi hoang mang, lo lắng. Liệu em có qua khỏi nguy nạn nầy? Tôi cầu xin Phật Trời phò trợ cho em vượt khỏi cơn thập tử nhất sinh. Dẫu biết đời người là vô thường, định mệnh là khắc khe nhưng tôi tin, với sự tiến bộ của khoa học từng ngày, với cách sống chan hoà, giàu lòng nhân ái, vì mọi người thì điều kì diệu ắt sẽ đến với em. Niềm tin và ý chí sẽ là sức mạnh giúp em vượt qua khổ nạn để em tiếp tục sống, giúp đời và làm việc thiện như ý nguyện của em từ bấy lâu nay.

Tân châu 15-6-2010
VÂN KHANH

Tự sự của 5 Nguyên

Cả tháng nay lu bu quá, không có gì mới trong bờ lốc.

Lo chụp ảnh vùng nuôi cá tra CTy đạt tiêu chuẩn GlobalG.A.P, làm một loạt ảnh trình diễn trong sự kiện đơn vị nhận tiêu chuẩn này, làm phóng viên trong hội chợ thủy sản quốc tế Vietfish 2010 ở Sài Gòn, rồi cấp tốc quay về Châu Đốc vì ông ba vợ cấp cứu nên không kịp ghé thăm thằng cháu học ở Singapore về nghỉ hè như đã hứa ghé thăm nó. Bây giờ thì Duy đã lên đường trở về Sing để tiếp tục học bổng toàn phần mà trường đã cấp cho.

Hôm kìa, bảy Hoa điện cho hay sáng thứ bảy Duy lên đường, định tối gọi điện hỏi thăm út Huệ mà quên tuốt, đến hôm qua mới nhớ thì đã qua rồi. Thôi thì viết mấy dòng này xem như thăm hỏi trễ vậy nghe Duy. Kêu mẹ cho địa chỉ, hai anh em vô blốc cậu đọc và xem hình cho đỡ nhớ nhà.

Sáng nay vô meo thấy chị Khanh nhắc sao vợ chồng không viết bài cho blốc nhà? Mấy đứa em Sáu, Bảy, Tám . . . với chị Ngọc Tài sao cũng im re hết vậy? Mọi người viết tiếp cây bút chủ lực nhe.

Bé Ty, bé Nhã, bé Uyên, bé Khoa, Đức Anh, Duy Anh và Tiểu Anh nữa. Bé Đằng thì viết bài thường, bé Điền có vô xem không?

Ai không viết thì gởi hình đăng lên đây coi đỡ ghiển cũng được.


24 thg 6, 2010

MIỀN QUÁ KHỨ - Vân Khanh

Chùa Hang - Núi Sam
Tôi không thể nào quên Châu Đốc, quê nội với căn nhà số 7 đường Thượng Đăng Lễ . Nơi tôi đã ở trọ học hơn bảy năm.

Tuy là quê nội nhưng tình cảm của tôi ít sâu đậm, bởi từ nhỏ, tôi lớn lên từ bên ngoại. Nhưng nhà nội đã giúp ba má tôi an tâm hơn khi có đứa con còn rất nhỏ phải đi học xa nhà. Trong 3 chị em đi học ở Châu Đốc, chỉ có một mình tôi là được ở nhà nội thôi.

Năm 1957, nhà Nội chưa có điện nước. Ban đêm, tôi học bài bằng đèn trứng vịt, loại đèn nhỏ thắp bằng dầu lửa, ánh sáng tù mù và ngủ trên lầu với chị họ, con của bác cả là chế Mùi Kía. Chế là người dỗ dành, chăm sóc, an ủi tôi trong những ngày đầu xa nhà. Nhờ chế, tôi bớt cảm giác bơ vơ, lạc lõng trong ngôi nhà của nội. Chế là người chị, là người bạn thân luôn sát cánh bên tôi hơn bảy năm dài của thời thiếu nữ khi tôi học Trung học ở Châu Đốc. 


Chế cũng là học sinh Thủ Khoa Nghĩa như tôi, tuy chế lớn hơn tôi 3 tuổi nhưng học sau tôi một lớp vì trước đó, chế học chữ Tàu hết mấy năm. Khi biết người hàng xóm làm khai sinh cho con đi học, chế nhờ làm khai sanh cho chế luôn và sang qua học chữ Việt. Từ đấy, chế với tên Dương thị Ngọc, chứ tên đúng của chế theo tiếng Tàu, là Dương Huệ Phương. 

Là con chú, con bác nhưng hai chị em rất thân thiết và yêu thương nhau như chị em ruột. Chế bảo bọc tôi như người chị cả. Có lần, trời mưa dầm mấy hôm liền làm cho những bộ đồng phục của tôi bị dơ cả. Chế phải lui cui đem ngâm, giặt và ủi cho đến khô để kịp buổi học sáng hôm sau của tôi. Chế là điểm tựa của tôi những lúc xa nhà. 

Những tháng hè, lúc tôi vui vẻ về với gia đình thì chế tự kiếm tiền bằng cách: nhận dán bịt giấy, tách nhặt những bông nhài dùng ướp trà ra khỏi đống trà, đập đậu phộng lấy hạt. Chế làm thêm là để dành dụm tiền dù bác cả đã lo cho chế đầy đủ. Tôi học ở chế tính tự lập từ rất sớm. Cho đến khi tôi lập gia đình, vì cuộc mưu sinh, mỗi người mỗi việc, chị em ít khi gặp nhau. Chế vẫn sống độc thân và lại lo cho các cháu. Sau nầy, khi cô tư và cô Út đi nước ngoài, việc chăm sóc bà nội được giao về cho chế và chế đã chu toàn bổn phận đến lúc bà nội qui tiên.

Còn nhớ, những buổi trưa nườc lớn, hai chị em rủ Khánh Tường, Khánh Hồng cùng nhau xuống kinh Ông Cò ngụp lặn. Có lần bị hụt chân, nếu không có chế kịp kéo lên thì tôi chắc đã không còn. Rồi những buổi sáng, hai chị em dắt nhau ra Chợ Cá, ngồi xổm dưới đất ăn bún nước lèo. Học sinh thời đó ai mà không từng ăn cái món nầy, có khi ăn một trận hai ba tô liền đầy cả cái bụng. Món nầy nấu theo kiểu của người Miên, bún cọng nhỏ, chén nước mắm trong cùng ớt hiểm, nước lèo nấu bằng những con cá nhỏ đã xốc sạch xương, đựng trong những cái nồi om đất nung, luôn đặt trên bếp lửa để khi ăn chan vào cho nóng. Mỗi tô chỉ có 5 cắc thôi mà no bụng và ngon vô cùng, chắc nhờ có nêm “bồ hóc”, loại mắm đặc trưng của người Kmer ?. 

 
Dẫu hoàn cảnh và thời gian có làm chị em xa cách, nhưng trong lòng vẫn không quên hình ảnh chị em tay trong tay, đứng xếp hàng trước cửa rạp hát Lạc Thanh để chờ vào xem phim ca nhạc Ấn Độ ”Con thơ trên dòng suối”, hoặc những đêm mưa, nằm nghe kể chuyện Tam Quốc, truyện mà chế đã đọc được trong những ngày tôi về quê nghỉ hè.

 
Những kỉ niệm cũ chợt hiện về dù đã quá năm mươi năm. Chế ơi! em thương chế lắm !

Tân Châu 20-6-2010
VÂN KHANH

23 thg 6, 2010

Cây viết chủ lực bắt đầu viết lại

Nguyen,
Che ve Tan Chau hon tuan nay, moi bat dau viet lai. Vi chua co tron nen con hoi cham,  cho day.
Che Khen.

19 thg 6, 2010

QUỐC LỘ 14 KÝ SỰ

1 PHẦN ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH - Đằng Phương


Dốc Đầu Lâu, hay còn được gọi là điểm Cao 601 cách Thành phố Kon tum chừng hơn 15 cây số về phía bắc.Địa danh nầy được hình thành khoảng từ sau 1972 khi quận lị ĐăkTô đã đã được giải phóng đến sau ngày ký Hiệp định Pa ri khu vực Điểm cao 601, là vùng tranh chấp dữ dội . Tại đây đã diễn ra nhiều trận đánh gay gắt quyết liệt.


Am trên đỉnh dốc

Ngày xưa người Ba Na bản địa vùng này gọi địa danh đó là K'Rang Loong Phă, (nghĩa là dốc có nhiều cây gỗ Trắc ;Loong phă là gỗ trắc) và Điểm cao 601 là thuật ngữ quân sự gọi cứ điểm quân sự của địch trên đồi K'Rang Loong Phă. Cho đến đầu năm 1972, điểm cao vẫn là một chốt điểm quân sự quan trọng của địch, gồm có trận địa pháo binh và xe tăng được bố trí trên hai mỏm đồi hình yên ngựa.

Phía Bắc có đồn Bảo an Hà Mòn do tiểu đoàn Bảo an số 23 đóng giữ có xe thiết giáp tăng cường. Phía có Sở chỉ huy Lữ đoàn dù 3, trận địa pháo lớn, xe tăng, xe bọc thép chốt giữ. Ngoài ra còn có các trận địa pháo, đồn Bảo an của QL VNCH ở rải rác chung quannh.Với vị trí chiến lược quân sự quan trọng, chiếm được điểm cao 601 là khống chế được phần lớn thị xã Kon Tum cũng như toàn bộ vùng Đăk Tô - Tân Cảnh. Chiếm được Điểm cao 601 là làm chủ được hoàn toàn con đường chiến lược 14, đoạn phía bắc Tây Nguyên. Nhận rõ được tầm quan trọng của Điểm cao 601, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam quyết tâm đánh chiếm, về phía Quân Lực VNCH cố trấn giữ .

Tháng 4 năm l972 trên đường triệt thoái về cố thủ Kontum, Quận lực VNCH bị phục kích tại đây, tất cả lực lượng bị tiêu tán sạch, chỉ sóng sót vài chục người . Sau ngày giải phóng miền Nam (1975), những xác chết chỉ còn trơ lại đầu lâu và xương cốt. Người qua lại đây, tự ý gom nhặt, đem lên đỉnh dốc chất thành từng đống rồi nhặt những cục đá xung quanh kè lại để không bị mưa gió cuốn trôi .nên người ta gọi đó là dốc Đầu lâu.


Xung quanh địa danh nầy người dân ở đây lưu truyền nhiêu câu chuyện hư thực:Có một người đàn ông có vóc dáng lùn và thường đi chiếc hon đa 67 nên người dân ở đây gọi ông với biệt danh “ông hon đa 67” “ông lùn 67” đi buôn bán ở miệt trên hàng ngày khi về ngang qua đây thường dừng lại gom nhặt đầu lâu , hài cốt chất thành đống lấy đá đè lên rồi thắp nhang , có thể là do ông thương cảm tình đồng loại, và cầu mong các vong hồn đó phù hộ cho việc làm ăn,buôn bán.

Có người lại kể ông ta lên đây nhặt phế liệu chiến tranh, nghe nói ông trúng lớn vì nhặt được nhiều đồ trang sức ,vàng ,tiền ,và đô-la còn sót lại nên bỏ công thu gom các hài cốt ,chất thành những ngôi mộ đá.Có người ngờ rằng ông là một trong những người lính ngụy Sài Gòn may mắn sống sót trong trận giao tranh hai ngày hai đêm với quân Giải phóng .Còn nhiều lời đồn đại ma mị li kỳ khác nữa , thực hư không biết thế nào ,nhưng ít lâu sau tại đỉnh Dốc Đầu Lâu xuất hiện một cái am thờ ,có tấm bia khắc 4 chữ "Đồng sanh lạc quốc" (Xem ảnh) nghe kể ông “ông lùn 67” cho xe chở gạch, cát xi măng lên xây cái am này và từ khi xây xong am đến nay, mọi người không ai còn gặp mặt ông ta nữa.Cái am nầy nghe đồn rất thiêng , dân làm ăn buôn bán và cánh lái xe khi ngang qua đều xuống thắp nhang cúng lễ.Điều lạ là đã có nhiều vụ lật xe ở đây nhưng hình như không gây chết người nào.

Giờ đây Dốc Đầu Lâu ,điểm cao 601 đã được UBND tỉnh Kon Tum xếp hạng Di tích cấp tỉnh. Khu vực nầy đã nằm trong quy hoạch của huyện và của tỉnh về một vùng sinh thái văn hóa và phát triển kinh tế nằm trên tuyến đường Hồ Chí Minh ngang qua.
Đằng Phương

Cảm ơn Bộ GD&ĐT đã tăng lương GV gấp 2,1 lần !

Dẫu sao cũng phải cám ơn Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tăng lương cho chúng ta gấp 2,1 lần so với năm 2006. Thế là chúng ta có thể cố mà sống bằng đồng lương của chính mình, chứ không phải bằng lương của… ai khác.
Xin giới thiệu bài viết của thầy Văn Như Cương về vấn đề lương giáo viên hiện nay, thể hiện quan điểm riêng của một nhà giáo lâu năm về vấn đề này.

Dẫu sao cũng phải cám ơn Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tăng lương cho chúng ta gấp 2,1 lần so với năm 2006. Thế là chúng ta có thể cố mà sống bằng đồng lương của chính mình, chứ không phải bằng lương của… ai khác.

Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của thầy Văn Như Cương về vấn đề lương giáo viên hiện nay, thể hiện quan điểm riêng của một nhà giáo lâu năm về vấn đề này.
Mấy năm trước, các nhà giáo chúng ta rất phấn khởi khi Bộ GD&ĐT tuyên bố “năm 2010 giáo viên có thể sống bằng lương của mình”. Tuy vậy, có người tin, có người không tin…

Bây giờ đã là giữa năm 2010. Vừa rồi đại biểu quốc hội đã chất vấn Bộ GD&ĐT về vấn đề này và Bộ đã trả lời: So với năm 2006 thì tiền lương giáo viên năm 2010 đã tăng lên gấp 2,1 lần. Ví dụ một Giáo viên tốt nghiệp Đại học ra trường năm 2010 có mức lương 2.306.000 đ. Nếu có thâm niên 10 năm thì mức lương là 3.300.000 đ.

Có giáo viên cho rằng với mức lương như thế cũng sống được, cũng có người cho rằng không sống được…

Thưa các thầy cô giáo mới ra trường!

Theo thiển ý của tôi thì các thầy cô hoàn toàn có thể sống bằng mức 2.306.000đ/tháng, nếu biết cách ăn tiêu cho khoa học, theo truyền thống thắt lưng buộc bụng... Sợ các thầy cô còn trẻ quá chưa có kinh nghiệm quản lí quỹ lương của mình, nên tôi muốn các thầy cô đọc mấy lời khuyên sau đây của tôi, một nhà giáo già có kinh nghiệm lâu năm trong việc sống bằng lương thầy giáo:

Trước hết, về nhu cầu ăn, chúng ta cần thấm nhuần câu cách ngôn tuyệt vời: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn”. Chúng ta có thể ăn ngày ba bữa: buổi sáng 5 ngàn, buổi trưa 10 ngàn, buổi tối 10 ngàn. Thế là một ngày chi cho việc ăn là 25 ngàn, một tháng vị chi là 750.000 đ. Như thế cũng là khá lắm rồi, nếu chúng ta biết rằng nhiều nhà máy cho công nhân ăn bữa trưa một bát mì giá chỉ 5 ngàn mà thôi.

Tuyệt đối không nên uống bia, uống rượu vì rất tốn tiền, rất có hại cho sức khỏe, và nhất là rượu vào lời ra ảnh hưởng đến tư thế tác phong của thầy giáo. Tốt nhất là uống nước đun sôi để nguội, mát mẻ và vệ sinh lắm.

Sau chuyện ăn uống là chuyện ở. Cũng nên nhớ là “ăn hết nhiều chứ ở thì hết bao nhiêu” để mà đừng chi quá nhiều cho chuyện ở. Nếu chưa có nhà ở thì cố nhiên tạm thời phải đi thuê, rồi ta sẽ góp tiền dần dần để mua nhà giá rẻ. Cố tìm mà thuê lấy một căn phòng bình dân với giá khoảng 1 triệu đồng một tháng, nhưng nên rủ thêm một thầy giáo cùng giới ở chung cho vui, cho có bạn cùng đàm đạo nhân tình thế sự. Vậy là ta chỉ tốn 500.000đ cho khoản ở.

Về phương tiện sinh hoạt và làm việc thì cũng nên mua lấy cái quạt, nhưng đừng cho nó chạy nhiều quá, phải chú ý đến tiền điện. Khoản tivi thì có thể xem nhờ nhà nào đó nếu người ta dễ tính và mến khách. Máy vi tính thì cố gắng chờ đợi, tôi tin chắc rằng đến một lúc nào đó, Bộ sẽ phát không cho thầy giáo mỗi người một cái (hôm nay đọc báo, thấy học sinh tiểu học ở Urugoay được phát không máy tính rồi). Còn khoản điều hòa nhiệt độ thì đừng nghĩ đến, đó là chuyện dành cho tương lai. Nên cố gắng chỉ chi khoảng 100.000 đ cho tiền điện, tiền nước, tiền bột giặt, xà phòng tắm, xà phòng đánh răng…

Vấn đề trang phục nên hết sức giản dị, không nên chạy theo thời trang; nhà giáo thì phải ăn mặc đứng đắn để làm gương cho học sinh. Nên mặc quần áo mầu sẫm để đỡ tốn bột giặt. Giầy dép, áo vét , áo da… nên mua hàng Tàu giá rất rẻ so với hàng Việt.

Nếu chưa có xe máy thì đừng mua vội. Xe đắt mà giá xăng tăng theo tốc độ lớn hơn lương tăng. Nên mua vé ô tô tháng để đi dạy, chỉ dăm chục chục ngàn một tháng là nhiều. Nếu không tiện thì nên mua một cái xe đạp Xuân Hòa, đi làm bằng xe đạp là cách tập thể dục tốt nhất.

Đừng mua sách, mua báo làm gì, đến trường tranh thủ vào thư viện mà đọc báo ngay ở đó, còn sách thì mượn về nhà mà đọc.

Đừng mua vé xem phim, xem kịch, mất thì giờ vào trò nhảm nhí, nhố nhăng… lại khổ vì nóng nực và đông người.

Có đám tang thì nên đi vì nghĩa tử là nghĩa tận, còn đám cưới thì cố mà trốn (lấy cớ là bận dạy, hoặc bận đi họp, hoặc phải về quê…). Một tháng mà đi dự vài ba tiệc cưới là tiêu đời rồi đó.

Một điều hết sức quan trọng là hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe bằng cách sống điều độ và thanh đạm. Cương quyết “nói không” với đau ốm, bệnh tật…, “nói không” với bệnh viện, với bác sĩ với thuốc men…. Nếu không “nói không” như thế thì khó mà sống bằng lương.

Với cách phân bổ quỹ luơng như trên, tính toán lại tôi thấy mỗi tháng các thầy giáo mới ra trường sẽ phải chi không đến 2 triệu đồng, vẫn còn thừa ba đến bốn trăm ngàn đồng để gửi vào sổ tiết kiệm và mua vài cái vé sổ số…

Cố nhiên tính toán trên chỉ đúng đối với các thầy cô giáo chưa xây dựng gia đình, chưa có con cái, không phải nuôi bố mẹ già đau ốm, không phải giả tiền vay của nhà nước để học đại học, không phải đóng học phí cho em…

Đối với các trường hợp sau thì phải điều chỉnh cho phù hợp hoàn cảnh thực tế. Chẳng hạn ăn sáng thì có thể xơi vài củ khoai lang, bắp ngô luộc, hoặc cùng lắm là một gói mì ăn liền; hai bữa ăn trưa và ăn chiều có thể giảm từ 15 ngàn xuống 10 ngàn… có nghĩa là “liệu cơm mà gắp mắm”.

Dẫu sao cũng phải cám ơn Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tăng lương cho chúng ta gấp 2,1 lần so với năm 2006. Thế là chúng ta có thể cố mà sống bằng đồng lương của chính mình, chứ không phải bằng lương của… ai khác.

8 thg 6, 2010

Xem bài nhà văn Viết Đào viết về Đỗ Việt Khoa

THẦY KHOA ĐẦU HÀNG HAY THẦY NHÂN RÚT LUI

3 thg 6, 2010

Thơ tếu siu tầm

Lâu quá không có bài viết nào, nên đăng thơ tếu sưu tầm:

60 là tuổi dậy thì
70 là tuổi bước đi vào đời
80 là tuổi ăn chơi
90 là tuổi cuộc đời nở hoa

Bách niên chưa hẳn đã già
So ông Bành Tổ vẫn là trẻ con
Nhập Phần còn lại ở đây

25 thg 5, 2010

Hình đám cưới Đằng Tập 4











Đông Tây đại lộ


Đường Trần Hưng Đạo


Chợ Bến Thành


Lê Lợi


Hạ viện cũ


Bạch Đằng


Đường Tôn Đức Thắng




Hai mẹ con chờ nhập tiệc


Cô Chín và BS Điền


Huệ-Kim và Cúc, Khoa


Cô Chín và hai anh em


Chị Khanh, thiếm Út cùng hai con


Famile chú Rễ với thiếm Út


Anh Hai đang nói gì ?


Anh em bạn dì


Chú rễ với Dì Ba


Chú rễ với Famile Dì 7 Hoa


Vợ chồng nghệ sĩ 5 nguyên


Anh em bạn dì


Hai mẹ con làm duyên nhé !


Dì ba và Dì Sáu


Cặp NS này khoe hình hoài ?


Lại khoe hình nữa nhé !


Bé Nhã địa tô súp quá xá !




Chú Rễ ca nhạc cảm động ghê !


Bé Nhã lí lắc !