QuocHung's Blog

Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

25 thg 1, 2011

CẢM GIÁC TẾT XA XỨ

Ai đã từng đi xa sẽ có cãm giác nhớ nhà , nhớ những người thân , nhớ về cái nơi mà tuổi thơ của mình  đã gắn bó , lớn lên , biết bao kỷ niệm buồn vui của từng con người . Mỗi năm cứ đến độ này tiết trời bắt đầu chuyển mình khi ra đường ta bổng thấy khác lạ, có cơn gió mang theo cái se lạnh thổi qua làm mát tận chân tóc, có khi cũng chỉ là một nụ hoa mới nở hay một chồi lộc tươi non mơm mởn mà ta vô tình bắt gặp, đường phố hôm nay dường như tươi tắn hơn với những gam màu rực rỡ. Tất cả đều báo hiệu một mùa xuân nữa lại về.

18 thg 1, 2011

NHỚ

         “Hai năm Đà Lạt nghìn khơi mộng
          Một sáng Hàm Long vạn cổ sầu”.

Đấy là hai câu thơ của Phan Ngọc,vào một ngày buồn năm l972 đã viết dưới tấm di ảnh và mới gần đây -năm 2002- đã được khắc trên đá hoa cương làm đôi liễn gắn lên mộ Cậu NGUYỄN THIỆN ĐỨC mà ở nhà chúng tôi quen gọi là Cậu HIỆP.

29 thg 11, 2010

NHỚ MÁ

Vài năm gần đây, từ khi con học được cách làm bánh tét - món bánh Má rất thích - cứ vào ngày 20-10 ÂL tụi con lại chuẩn bị gói bánh. Năm nay cũng vậy, chế Mai đã đặt mua lá chuối từ mấy hôm trước ( vì chỗ con ở không có bán lá chuối ). Con rửa lá thật sạch, hong nắng cho lá dịu để dễ gói. Rồi ngâm đậu làm nhưng (có thêm thịt nướng,mỡ, tôm khô, nước cốt dừa thật béo...  ), nếp được trộn với nước lá dứa cho thơm và có màu xanh thật đẹp. Trưa hôm qua, mọi thứ đã chuẩn bị xong, con bắt đầu gói bánh. Bé Anh cũng muốn góp công, ngồi lúi húi buộc dây được bốn đòn bánh, thằng nhỏ thích lắm! Má biết không, chỉ có 3kg nếp mà con gói đến chiều tối mới xong. Nấu thêm sáu tiếng, vớt bánh ra treo lên cho ráo là đã 2 giờ sáng. Má thấy con có "giỏi" không? Vậy là sáng mai, chế Mai về quê đã có bánh tét út Huệ gửi về cúng giỗ Má rồi!

24 thg 11, 2010

NGÀY GIỔ MÁ

Hằng năm, cứ đến ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11 là chúng con chuẩn bị cúng giổ Má. Má còn 7 đứa con thì có 3 đứa con – hai, ba, sáu – ( bảy học sư phạm nhưng nghỉ giữa chừng) và 3 con rể – hai, ba, bảy - là giáo viên. Má lại mất ngày 18 – 11 nhưng vì cúng theo ngày âm lịch nên xê chạy dần.

Năm nào cũng vậy, còn khoảng 2 tuần lễ mới đến ngày giổ, chúng con đã bắt đầu lo lắng gọi điện nhắc nhở nhau. Mà phải làm rình rang gì cho cam, chỉ đơn giản thôi, mấy chị em họp mặt tại nhà con để cúng tiên buổi chiều hôm trước, chuẩn bị đồ ăn, thức uống để sáng hôm sau đem xuống Phủ thờ ở nhà Ngoại cúng Má. Chỉ vậy mà cứ nằm đêm suy nghĩ nấu gì cúng Má đây? Câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu. Biết được, chắc Má mĩm cười mà không trách sao con dỡ thế? Vì Má quá rõ chúng con rồi mà. Sau cùng mấy chị em thống nhất: Má thích gì thì mình nấu món đó cúng Má vậy. Nhưng Má đâu thích gì nhiều, chỉ cá lóc nướng trui thôi, nên vẫn phải tính tiếp những món khác nữa.

22 thg 10, 2010

Phố cũ bây giờ


Thương tặng Dạ Lý và bạn láng giềng cũ.
Nơi tôi ở ngày đó, là con phố bên vàm kinh chợ huyện . Địa danh, tên đất cũng là tên chợ, tên huyện, tên thị xã mà cứ mỗi mùa nước nổi bắt đầu lên  cao trên sông Tiền, là ngày ngày được nhắc đến nơi mục Dự báo thuỷ văn : Tân Châu.  Vâng, Tân Châu, quê tôi đó!

Hội chứng VC son già

Nghiệm tới nghiệm lui thì rõ!
Nhà Giảng và dãy nhà này đã bị bà Thủy nuốt hết rồi !
Hồi xưa, thời ông bà, rồi cha mẹ chưa có vụ hạn chế sinh đẻ, nên mọi người tha hồ sinh con.
Vì vậy nhà tui, ba má sinh con cách nhau từ 2 đến 3 năm và sinh đến 9 anh chị em! Nghe thấy phát hoảng, thời giờ đâu mà sinh đẻ, rồi chăm sóc 9 đứa ?
Lúc đó, việc sinh năm một là bình thường. Đứa lớn trông chừng đứa nhỏ cho cha mẹ làm ăn, tới buổi đi học nghiêm túc, đâu có vụ dạy thêm, học thêm tràn lan như giờ.

16 thg 10, 2010

Cưới vợ thời bao cấp

Hôm qua Scan mấy tấm hình cũ, may sao gặp những hình chụp lúc đám cưới mình (1978), trắng đen còn sót lại.

Nhớ lúc đó, thời bao cấp, đâu có hình màu, Film trắng đen tìm mua cũng không dễ, phải nhờ bạn quen bên ngành văn hóa thông tin mua dùm mới có, đám cưới thì mua theo tiêu chuẩn: 01 cái mền chỉ (mền con rồng), mấy mét vải may mùng mà nếu quen mới mua được mùng "tuyn", không thì chỉ được vải trơn mà thôi, và một mớ hàng công nghệ phẩm ....May nhờ quen lớn nên mua được 25 lít xăng cho xe rước dâu.

Film còn khó mua thì làm sao có thợ chụp hình? Nên đành phải mua film mượn máy cho thợ nhà chụp. Hình như là Đực Lớn hay Nhỏ gì đó cầm máy. Chụp 2 cuộn film mà cuối cùng rửa được có mấy tấm hình chụp cảnh ba, má, cậu 3 Nghĩa và chú Tư Thiết (ở cơ quan) dẫn chú rễ cô dâu đi các bàn tiệc cám ơn. Toàn bộ hình chụp làm lễ, lạy bàn thờ, ... đều hỏng hết. Còn tấm hình này là chụp lại nhân đám cưới của Đực Lớn.

7 thg 10, 2010

Một miền nhớ - Vân Khanh

          Đến dự lễ khai giảng năm học mới, nhìn quang cảnh nầy trường, nầy lớp, tôi bỗng nhớ đến cũng nơi đây, ngày đó : Những ánh mắt còn nhiều bỡ ngỡ, chăm chú nhìn lên bảng, miệng đồng thanh đọc theo tôi những con chữ  đầu tiên. Bỗng một xúc cảm dâng lên đến nghẹn lòng. Ôi ! Thương quá, những ánh mắt thơ ngây, trong sáng  ngày xưa ấy!

22 thg 9, 2010

Thư gửi con - Thúy Huệ

Mới đi Tây Ninh về, thấy bài viết của Út Huệ gửi con trai, nên đưa lên ngay cho kịp Trung thu cho bé Duy xem. Hình ảnh mai sẽ up lên ngay. Cậu 5.
======================
Còn vài ngày nữa là tới Trung thu. Trung thu năm nay, con không cùng cả nhà ăn bánh (mẹ nhớ con rất thích ăn bánh dẻo: đậu xanh, khoai môn, sữa dừa... loại nào con cũng thích), không biết con có buồn không? Tự nhiên mẹ thấy nhớ con quá, con trai của mẹ! Đêm nay không ngủ được, mẹ lại nhớ mọi chuyện về con...
 

Con thương, vậy là con đi học xa nhà đã gần một năm. Mẹ nhớ, lúc con mới vào học lớp sáu trường Nguyễn Gia Thiều, một hôm đi học về, con nói Trường có tổ chức hội thảo học bổng  du học để tư vấn cho học sinh (đó là năm đầu tiên trường NGT liên kết với NUS High school), con muốn tham dự nên lên văn phòng xin giấy thông báo. Cầm tờ thông báo con đưa, mẹ nói đùa: "mới lớp sáu mà con tính du học sao?" Nói vậy thôi chứ Ba Mẹ rất vui vì điều này! Đến ngày hội thảo, Mẹ đi cùng con. Vô hội trường, nhìn chung quanh thấy toàn học sinh lớp lớn, đa số là lớp 9, Mẹ sợ con ngại nhưng hình như con không chú ý điều này. Cuối buổi hội thảo, hai mẹ con đến bàn tư vấn, hỏi chi tiết để đăng ký cho con học, khi biết con đang học lớp sáu, mấy cô cười bảo: "Con còn nhỏ lắm, hẹn con hai năm nữa". Hôm đó Trường NGT giới thiệu hai học sinh được học bổng ( ngồi phía trên, đối diện với học sinh để giao lưu). Con nói: nhìn anh,chị đó thấy hay hay, chắc phải học giỏi lắm! Mẹ hỏi: "nếu con được như vậy,con có dám đi học xa nhà 4 năm không?" Con cười cười: "dạ dám!".  Mẹ thầm nghĩ, nếu được như thế thì sung sướng nào bằng! Rồi ngày tháng qua đi, chuyện học hành chiếm hết thời gian của con. Ban ngày, con bận học ở trường, học đội tuyển Toán của Quận. Buổi tối, con phải đi học thêm ngoài quận 1 (đi về gần 15km), chuyện ăn cơm trên xe là thường xuyên. Vì vậy, con không còn thời gian học thêm ở Trung tâm để chuẩn bị cho kỳ thi học bổng.

18 thg 9, 2010

KÍ ỨC MÙA TRUNG THU

Hàng năm, vào đêm rằm tháng tám, má tôi đều cúng Trung Thu, lũ trẻ con chúng tôi thì gọi là cúng Trăng. Vừa chạng vạng là má đã bày chiếc bàn ra trước hiên, vì ở  phố  lầu  nên chẳng có sân. Trên bàn gồm có : một cái chưng hương, hai cây đèn cầy, bánh in, bánh trung thu, một củ khoai cau hấp chín chẻ làm đôi, một trái dừa tươi vạt miệng, một trái bưởi, một chiếc gương soi thả vào trong chiếc thau đựng nước, ba chung trà nóng. Với tôi, ấn tượng nhất là cái bánh in và cây đèn cầy. Cây đèn cầy số 1, to muốn lớn hơn cườm tay của tôi, so với cây đèn cầy cỏn con trong chiếc lồng đèn giấy là đủ biết cây đèn cầy ấy to đến cở nào qua cái nhìn của một đứa  trẻ  con  chừng hơn tám tuổi như tôi. To thật là to! Còn cái bánh in nữa, nó cũng lớn lắm, choán cả trên cái đĩa lớn nhất đặt giữa bàn. Trên chiếc bánh, hình chị Hằng đang cầm quạt, múa lượn, bay bay trong chín tầng mây. Gương mặt đẹp dịu hiền, tay đưa cao  với tà áo rộng phất phơ, người uyển chuyển sinh động như người thật vậy. Những miếng mức bí trắng ngà, trong suốt, mọng đường được chèn đặt vòng quanh  làm nhân bánh, trông thật bắt mắt. Ngày nay, có bánh in nhân đậu xanh, hạt sen, khoai cau. . .đủ thứ nhưng sao tôi vẫn thích bánh in nhân mức bí ngày xưa.

15 thg 9, 2010

Điện thoại đêm - Vân Khanh


Reng. . .Reng. . .Reng. . . .
Đang ngon giấc, chị hốt hoảng choàng tỉnh, khi nghe  chuông điện thoại reo. Ở đầu dây bên kia, tiếng của cô em gái:
-         Chị ơi, mẹ mệt, mẹ biểu gọi chị !
-         Ừ, ừ , nói mẹ đợi, đợi . . .chị sẽ về !
Chị vội xách chiếc túi đựng nào sữa, nào thuốc men chị đã chuẩn bị từ hai hôm trước, nhưng chị đợi con gái thi Đại học xong mai mới về thăm mẹ. Chị vừa làm vừa thầm trách mình : Ngày xưa, khi cần tiền trường, tiền cơm, tiền nhà. . .mẹ có bảo chị đợi đâu mà bây giờ, mẹ bệnh chị lại bảo . . .đợi.

Tiếng diện thoại lại reo, lại tiếng của cô em gái:
-         Chị ơi ! Mẹ đã. . . .
Chị lặng người.
Ngoài sân, tiếng chiếc lá vàng rơi !
         
Tân Châu 8-8-2010
 VÂN  KHANH

21 thg 8, 2010

VU LAN - MỘT MÙA NHỚ

Kính dâng hương hồn Mẹ
Một mùa Vu Lan nữa lại về. Trong tâm tư khẽ vang lên tiếng gọi thân thương ngày cũ. Cơn nhớ bừng dâng cho dù chúng con không đến chùa để cài hoa hồng trắng lên áo như nhiều người vẫn làm. Đã tám mùa Vu Lan chúng con vắng Mẹ ! Mẹ ơi !

1 thg 8, 2010

Chiếc nôi sắt và con ngựa gỗ

Ngày xưa, Ba mua chiếc xe đạp nhỏ. Chiếc xe nầy đã lưu truyền từ tám chị em tôi rồi đến các cháu nhỏ. Sang đến thế hệ chúng tôi thì có cái nôi sắt và con ngựa gỗ.
Khi tôi có mang lần đầu được tầm sáu tháng, hai vợ chồng từ Tân Châu qua Châu Đốc tìm mua chiếc nôi cho con. Tôi nhớ, hình như chúng tôi mua chiếc nôi đó ở tầng trệt của khách sạn An Biên thời ấy, tôi quên hiệu tiệm rồi.
Cái nôi rộng khoảng sáu tấc, dài một mét. Mặt dưới là lớp lưới sắt có lổ nhỏ li ti, chung quanh thành nôi cao độ bốn tấc được chắn bởi những thanh sắt nhỏ đứng song song chung quanh thành. Mặt bên có thể bật mở ra, hạ xuống tiện cho việc đặt em bé vào. Nôi được đặt trên giá đỡ làm bằng hai cọng sắt ống uốn cong ở giữa cao hơn thành nôi làm thành bốn chân và cái khung hình chữ nhật để đặt nôi lên trên cũng bằng sắt. Mỗi khi cần dỗ bé ngủ, chỉ cần mắc nôi lên hai cái móc ở hai đầu giá đở nôi đung đưa, đung đưa, bé sẽ dần dần đi vào giấc ngủ. Cái nôi được sơn màu rất bắt mắt. Ngoài ra nó còn có thêm phụ kiện là tấm nệm mousse và cái mùng lưới hoa nhỏ rất dễ thương, một gối nằm và hai gối ôm nhỏ xíu. Đó là chỗ nằm êm ái đầu đời của ba đứa con tôi và những đứa cháu - con của các em tôi -khi vừa mở mắt chào đời. Tôi nhớ lần đầu, từ Phú Lâm Bà Ngoại lên thăm gặp cháu cố, ban đêm ngủ trong nôi sát cạnh giường mẹ, Ngoại không vừa lòng, buộc phải đem cháu vào giường ngủ với mẹ và Ngoại nói: “Trẻ con phải ngủ bên mẹ mới đủ hơi ấm và ngon giấc, có vậy nó mới mau lớn “.Không biết có phải nhờ vậy không mà tôi tuy không mập mạp gì mà cả ba đứa con đều “sổ sữa”quá chừng.
Đến lúc con tôi hơn một tuổi, ba nó học ở Thủ Đức, được nghỉ phép Tết. Từ Sàigòn, anh mua con ngựa gỗ mang về cho con. Con ngựa nầy xinh hơn những con ngựa bán ở Tân Châu lúc bấy giờ. Đầu to, mình mập mạp, bốn chân đứng chắc chắn trên đế làm bằng ống sắt to bằng ngón tay cái, uốn thành khung hình chữ nhật cong cong ở bốn góc. Cái khung dài khoảng tám tấc được bẻ vênh lên hai đầu để bé ngồi trên yên dễ bật lên phía trước rồi ngả bật về phía sau. Toàn thân ngựa phủ màu sơn trắng ngà, bờm tô màu đỏ sậm, nhạt dần từ trên xuống dưới, sợi dây cương xanh dương buông thỏng vòng cung nối dính lên chỗ hai tay nắm nơi bé ghì chặt khi ngồi xẩy ngựa. Phía sau chiếc yên gỗ có làm thêm cái lưng dựa để khi ngựa bật lên bé không bị tuột khỏi yên. Hai bên bụng ngựa gắn chặt hai thanh sắt dẹp để gác chân. Khi lên lưng ngựa, thế ngồi của bé trông oai phong lắm lắm, nhất là lúc cho ngựa phi, vó cất càng cao càng được nhiều người vỗ tay cổ vũ. Tôi nhớ có lần phấn khích quá, thằng bé con lớn của tôi đã phi đến lật ngựa, u trán, khiến hai vợ chồng giận nhau đến mấy hôm! Sau nầy, ông ngoại lấy ruột xe bao quanh đế, để các cháu không bị “ngã ngựa”dù có hưng phấn đến mấy cũng chẳng sao. Ông thường kiểm tra yên ngựa và bắt vít chắc chắn để đảm bảo an toàn cho các cháu của Ông.
Mỗi khi làm xong nhiệm vụ, chiếc nôi sắt và con ngựa gỗ được đưa lên gác xép nghỉ ngơi. Đến khi trong gia đình có cháu bé sắp chào đời thì cả hai lại được đưa xuống, chỉnh trang lại, tiếp tục công việc của mình. Cứ thế nó đi từ nhà nầy đến nhà khác của mấy chị em tôi ở Tân Châu, hình như nó cũng có xuống Long Xuyên rồi vòng về Tân Phú nữa.Và Má tôi cũng từng ấy lần đi như thế, Má đến bên chúng tôi mang theo tình thương bao la của một người mẹ, một người bà. Má đã chăm sóc từng miếng ăn, giấc ngủ, nấu từng nồi xông cho chị em tôi trong những lần “vượt cạn”. Má nắn bóp tay chân, hơ mắt, mũi, bụng, ngực, cho từng đứa cháu, theo cách của người xưa để cho cháu mình được mạnh khoẻ, ăn nhiều, chóng lớn. Quả vậy, đến giờ phút nầy chín đứa cháu của Má đã qua đại học, hai đứa đang học nước ngoài bằng tiền học bổng. Ở trên cao, mong Ba Má hài lòng về những thành quả nhỏ bé mà các con cháu đạt được bằng nổ lực của mỗi đứa chúng con!
Những kỉ niệm vui buồn về Ba Má đã khắc đậm trong tim của từng đứa con, đứa cháu! Nhắc đến chiếc nôi sắt và con ngựa gỗ, là nhắc đến hình ảnh của Ba Má cặm cụi, chắt chiu bên từng đứa cháu khi chúng vừa mở mắt chào đời cho đến ngày khôn lớn !

Tân Châu 01 - 8 - 2010

28 thg 7, 2010

Những bến sông

Có biết bao bến sông. Có bến sông buồn, có bến sông vui. Có bến sông gần, có bến sông xa. Có bến sông chờ … Mỗi bến sông dường như có tâm trạng riêng, nỗi niềm riêng, có uẩn khúc riêng, số phận riêng… Và, cuộc đời mỗi người đàn bà cũng vậy, giống như một bến sông.

Những bến sông có tên được con người bồi đắp. Và những bến sông vô danh, tình cờ mà được sinh thành. Dù có danh, vô danh, những bến sông làm nên nét duyên thầm không thể thiếu của những dòng sông.

27 thg 7, 2010

Cuốn sổ nợ

Truyện 100 chữ - Vân Khanh
Khi ở quê lên, ngoại thường cho anh em chúng tôi tiền để ăn quà bánh. Tôi biết dành dụm nên còn tiền dư, hai em tôi thì không thế, chúng thường mượn tiền tôi. Tôi cho và ghi vào sổ nợ. Ghi thế chứ có bao giờ chúng trả tôi đâu!

Một buổi trưa, thằng em nhỏ chạy vào, hỏi mượn tiền. Nài nỉ thế nào tôi vẫn không cho. Nó rưng rưng rồi vụt chạy ra cổng. Nhìn theo, tôi thấy một bà lão ăn xin vừa kịp bỏ đi.

Cuốn sổ nợ được cất biệt đi từ đó.

Tân Châu 27-7-2010

5 thg 7, 2010

Chiếc xe đạp nhỏ.

Vào năm tôi học lớp 3, ba má dời về ở trên lầu nhà số 24 đường Nguyễn Công Nhàn,Tân Châu. Đấy là một trong những nhà của ông Bang Tống cho thuê. Cách nhà tôi một căn là nhà của bác tư Tôn chuyên sửa và bán xe đạp. Ngoài ra, bác còn có rất nhiều xe đạp nhỏ cho mướn. Mỗi chiều, những đứa trẻ trạc tuổi tôi thường mướn xe chạy vòng vòng khắp nẻo chợ. Đứng trên lầu, nhìn những chiếc xe nhỏ từ nhà bác tư dắt ra, tôi thích lắm, muốn được như các bạn.

Một hôm, tôi mạnh dạn, lấy tiền để dành của Ngoại cho, đến mướn xe. Biết là con của người hàng xóm, bác gái lựa cho chiếc xe mới. Tôi cẩn thận dắt chiếc xe đạp ra cửa. Ôi! sao khó quá, xe hết nghiêng bên nầy, chỉnh lại thì ngã bên kia. Ban đầu, hai tay tôi cầm chắc vào ghi đông, xe quẹo qua quẹo lại. Theo bác tư chỉ, một tay tôi vịnh ghi đông, tay kia tôi vịnh yên xe, thế là dắt xe ra. Chưa đến nhà, tôi đã ơi ới gọi, nhờ ba tập xe. 

Ba hướng dẫn tôi, trước tiên phải ngồi ngay ngắn trên yên xe, mắt nhìn phía trước, lưng thẳng. Hai tay giữ chặt tay lái, chân phải để lên bàn đạp, chân trái chống cho xe khỏi ngã. Rồi ba đẩy xe tới trước, vì là xe líp liền nên chân tôi tự động đạp theo vòng quay của bàn đạp,còn tay thì lạng quạng bẻ ghi đông qua lại. 

Suốt buổi chiều hôm ấy, tôi chỉ biết cầm lái, còn ba đẩy và chạy bộ theo tôi suốt dọc nẻo đường. Đến khi trả xe nhìn chiếc áo thun ba lỗ của ba đã ướt đẫm mồ hôi, tôi thương ba vô cùng! Nhớ có lần ba kể, hồi còn nhỏ, lúc ở Châu Đốc, mỗi chiều, ba công kênh tôi ra sân bóng rổ để ba luyện tập. Đến nơi, khi thì tôi vui vẻ ngồi bên ngoài sân cho ba vào nhập cuộc, khi thì ba thả xuống, tôi lại co hai chân lên. Thế là ba đành ở bên ngoài làm khán giả vì đứa con gái cưng trở chứng. Bây giờ, ngẫm lại mới cảm nhận rằng: Tuy không nói ra nhưng tình thương ba dành cho tôi là vô bờ bến, vô điều kiện mà tôi đáp lại có được là bao. Tôi tự thấy như mình thật nhiều lỗi với Người, lại càng thắm thía hơn câu “nước mắt chảy xuôi” mà người ta thường nói.

Ba đi Sàigòn, việc tập xe được giao lại cho chị giúp việc. Không như ba tập, tôi bị té nhiều lần, trầy cả hai đầu gối. Có lần đau quá, định quát chị, chợt nhớ bài Đức dục vừa học “bổn phận đối với người giúp việc” nên tôi không dám la chị mà chỉ biềt khóc. Đó là hiệu quả của môn Đức dục ngày xưa là thế.

Mấy hôm sau, đi học về, tôi mừng không sao kể xiết khi thấy chiếc xe đạp nhỏ màu đỏ tươi có kẻ viền trắng xinh ơi là xinh đang dựng ở trong nhà. Hai bánh xe tròn to, vỏ màu trắng nổi bật cái sườn đỏ tươi với cặp vè bằng nhôm sáng loáng. Chiếc xe có đầy đủ đồ phụ tùng như đèn, chuông, thắng, cây chỏi, bọc sên và có cả boọc ba ga. Điều làm tôi thích nhất là xe có 2 bánh phụ phía sau, nhờ thế mà tôi không bị té khi tập xe nữa. Chiếc xe nầy ba mua đắt tiền lắm, hình như là 120 hay 1200 đồng tôi không nhớ rõ. Sau nầy, ba còn làm thêm một yên dài bằng gỗ ở phía trước để tôi chở được 3 đứa em cùng lúc, hai đứa ngồi trên yên gỗ phía trước, một đứa ngồi sau boọc ba ga. Mỗi chiều, khi cơm nước xong là tôi chở các em đi chơi.

Chiếc xe đạp đỏ, đã gắn liền với tám chị em chúng tôi. Ngoài ra còn thêm gần mười đứa cháu cũng từng sử dụng chiếc xe này. Có lẻ hiện nó đang nghỉ dưỡng ở nhà Út Huệ tại Tân Châu. Không biết nó có còn sức lực để làm tiếp nhiệm vụ dìu dẫn bước đầu cho những đứa trẻ muốn lên ngựa sắt nữa không, dù nó đã trải qua bao lần thay vỏ ruột, đổi màu sơn /.

Tân Châu 25-6-2010
VÂN KHANH

19 thg 6, 2010

QUỐC LỘ 14 KÝ SỰ

1 PHẦN ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH - Đằng Phương


Dốc Đầu Lâu, hay còn được gọi là điểm Cao 601 cách Thành phố Kon tum chừng hơn 15 cây số về phía bắc.Địa danh nầy được hình thành khoảng từ sau 1972 khi quận lị ĐăkTô đã đã được giải phóng đến sau ngày ký Hiệp định Pa ri khu vực Điểm cao 601, là vùng tranh chấp dữ dội . Tại đây đã diễn ra nhiều trận đánh gay gắt quyết liệt.


Am trên đỉnh dốc

Ngày xưa người Ba Na bản địa vùng này gọi địa danh đó là K'Rang Loong Phă, (nghĩa là dốc có nhiều cây gỗ Trắc ;Loong phă là gỗ trắc) và Điểm cao 601 là thuật ngữ quân sự gọi cứ điểm quân sự của địch trên đồi K'Rang Loong Phă. Cho đến đầu năm 1972, điểm cao vẫn là một chốt điểm quân sự quan trọng của địch, gồm có trận địa pháo binh và xe tăng được bố trí trên hai mỏm đồi hình yên ngựa.

Phía Bắc có đồn Bảo an Hà Mòn do tiểu đoàn Bảo an số 23 đóng giữ có xe thiết giáp tăng cường. Phía có Sở chỉ huy Lữ đoàn dù 3, trận địa pháo lớn, xe tăng, xe bọc thép chốt giữ. Ngoài ra còn có các trận địa pháo, đồn Bảo an của QL VNCH ở rải rác chung quannh.Với vị trí chiến lược quân sự quan trọng, chiếm được điểm cao 601 là khống chế được phần lớn thị xã Kon Tum cũng như toàn bộ vùng Đăk Tô - Tân Cảnh. Chiếm được Điểm cao 601 là làm chủ được hoàn toàn con đường chiến lược 14, đoạn phía bắc Tây Nguyên. Nhận rõ được tầm quan trọng của Điểm cao 601, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam quyết tâm đánh chiếm, về phía Quân Lực VNCH cố trấn giữ .

Tháng 4 năm l972 trên đường triệt thoái về cố thủ Kontum, Quận lực VNCH bị phục kích tại đây, tất cả lực lượng bị tiêu tán sạch, chỉ sóng sót vài chục người . Sau ngày giải phóng miền Nam (1975), những xác chết chỉ còn trơ lại đầu lâu và xương cốt. Người qua lại đây, tự ý gom nhặt, đem lên đỉnh dốc chất thành từng đống rồi nhặt những cục đá xung quanh kè lại để không bị mưa gió cuốn trôi .nên người ta gọi đó là dốc Đầu lâu.


Xung quanh địa danh nầy người dân ở đây lưu truyền nhiêu câu chuyện hư thực:Có một người đàn ông có vóc dáng lùn và thường đi chiếc hon đa 67 nên người dân ở đây gọi ông với biệt danh “ông hon đa 67” “ông lùn 67” đi buôn bán ở miệt trên hàng ngày khi về ngang qua đây thường dừng lại gom nhặt đầu lâu , hài cốt chất thành đống lấy đá đè lên rồi thắp nhang , có thể là do ông thương cảm tình đồng loại, và cầu mong các vong hồn đó phù hộ cho việc làm ăn,buôn bán.

Có người lại kể ông ta lên đây nhặt phế liệu chiến tranh, nghe nói ông trúng lớn vì nhặt được nhiều đồ trang sức ,vàng ,tiền ,và đô-la còn sót lại nên bỏ công thu gom các hài cốt ,chất thành những ngôi mộ đá.Có người ngờ rằng ông là một trong những người lính ngụy Sài Gòn may mắn sống sót trong trận giao tranh hai ngày hai đêm với quân Giải phóng .Còn nhiều lời đồn đại ma mị li kỳ khác nữa , thực hư không biết thế nào ,nhưng ít lâu sau tại đỉnh Dốc Đầu Lâu xuất hiện một cái am thờ ,có tấm bia khắc 4 chữ "Đồng sanh lạc quốc" (Xem ảnh) nghe kể ông “ông lùn 67” cho xe chở gạch, cát xi măng lên xây cái am này và từ khi xây xong am đến nay, mọi người không ai còn gặp mặt ông ta nữa.Cái am nầy nghe đồn rất thiêng , dân làm ăn buôn bán và cánh lái xe khi ngang qua đều xuống thắp nhang cúng lễ.Điều lạ là đã có nhiều vụ lật xe ở đây nhưng hình như không gây chết người nào.

Giờ đây Dốc Đầu Lâu ,điểm cao 601 đã được UBND tỉnh Kon Tum xếp hạng Di tích cấp tỉnh. Khu vực nầy đã nằm trong quy hoạch của huyện và của tỉnh về một vùng sinh thái văn hóa và phát triển kinh tế nằm trên tuyến đường Hồ Chí Minh ngang qua.
Đằng Phương

28 thg 4, 2010

DẤU NGOẶC BUỒN

Vào cuối thập niên bốn mươi, ở làng quê tình hình rối ren, trộm cướp nổi lên nhiều nơi. Những chuyến chở nông sản lên Saigon của Ông Ngoại phải tạm ngừng. Để tìm sự an bình cho gia đình, Ba Má tản cư lên Tân Châu sống chung với Mẹ và Ba Khôi ở phòng ngủ (khách sạn) Thanh Phong. Vừa từ quê lên, chưa có việc làm ổn định, Ba được Ba Khôi giới thiệu cùng làm việc dưới tàu Thanh Hương.


Ông Ngoại

Mỗi chiều, Má hoặc Mẹ đưa tôi ra cầu đúc đón những chuyến tàu từ Nam Vang xuôi về. Ngoài Ba và Ba Khôi còn có những ông Tây bồng bế và nựng nịu sau khi dúi vào tay tôi những thanh socolat mà tôi ưa thích. Ngoài việc theo tàu lên, xuống, Ba còn mua hàng vải từ Nam Vang về để Má bán lại cho các sạp vải trong nhà lồng chợ. Lúc ấy, vải ú và vải săn đầm (giống vải ú nhưng canh chỉ to hơn có một mặt láng, mặc nhẹ và mát) đen bán rất chạy, ngoài ra ai còn đặt những mặt hàng khác cũng vẫn được. Đó là những mặt hàng trốn thuế, nhờ có Ba Khôi nên việc vận chuyển hàng về trót lọt. Ở Tân Châu, Má lo việc bán hàng và ghi sổ sách (kế toán). Cuộc sống êm đềm trôi, mọi điều tưởng chừng quá tốt đẹp được một quảng thời gian thì tai hoạ ập đến, tàu Thanh Hương bị chụp.

Lúc Ba Khôi bị bắt dẫn đi mất tích, tại Tân Châu, cả nhà gồm Ông Ngoại, Mẹ, Ba, Má và luôn cả tôi bị dẫn đến trụ sở của Tây, đặt tại thành Ban Tống, để lấy lời khai rồi bị tạm giam vì họ cho là Ba Khôi theo Việt Minh, tổ chức đánh tàu. Họ buộc gia đình phải kêu gọi Ba Khôi ra đầu thú, nếu không cả gia đình sẽ phải ở tù. Lúc ấy, tôi còn nhỏ chỉ ba hay bốn tuổi nên được tha. Họ cho Má bồng tôi ra ngoài, nhờ thế Má chạy, cậy nhờ nhiều người đến can thiệp. Được tin, những người quen biết Ông Ngoại có chức quyền cao cùng đến xin bảo lãnh. Những người dân trong chợ Tân Châu, cả người Hoa lẫn người Việt, không biết làm gì hơn là họ thắp nhang cầu nguyện Phật Trời cho cả gia đình Ông Ngoại tai qua nạn khỏi. Như một bóng đen trùm phủ cả gia đình lúc ấy. Chính ông Ban Xì (trưởng ban đại diện Hoa kiều quận Tân Châu) là bạn của Ông Ngoại không ngần ngại đem cả tính mạng và tài sản ra để bảo lãnh Ông. Nhờ vậy là cả nhà được tại ngoại nhưng bị quản thúc tại gia. Mãi sau nầy khi bọn Tây điều tra biết được Ba Khôi bị Việt Minh giết vì tội theo Tây đến bấy giờ cả nhà mới được xem như là trắng án.

Má và con gái
Trong lúc lâm cảnh nguy nan như thế, mới thấy rõ được tình cảm của bạn bè,của người dân Tân Châu dành cho Ông Ngoại. Xin được nghiêng mình trân trọng hàm ơn trước nghĩa tình sâu đậm đó của Người Tân Châu với cả gia đình tôi.

Tân Châu 26-4-2010
VÂN KHANH

31 thg 3, 2010

BÀ NGOẠI ĐI XÓM

Hồi nhỏ, chắc lúc tôi học cấp 1(196…) , bà Ngoại ở Phú Lâm có một mình nên chị em tôi thường được Má cho về ở với Ngoại mỗi khi có dịp. Lúc đó chưa có điện nên thắp đèn dầu, đèn dầu lớn ống khói cao sáng hơn đèn hột vịt ống khói như cái hột vịt. Vì vậy đám nhỏ tụi tôi khoái ban ngày và sợ ban đêm.


Mỗi chiều, sau khi cơm nước, thắp nhang ông bà và bàn thờ ông Thiên xong; bà Ngoại dẫn tụi tôi đi xóm chơi. Khi thì xuống nhà ông Năm (em của ngoại) thăm bà Cố đang ở đó, khi thì ghé bà Bà sáu Trâm, nhà cậu tư Trừ, . . . đến tối mịt mới về.

Đi đêm, trời tối như mực, phải có ánh lửa làm hiệu để khỏi va đụng nhau nên phải đốt mây cây nhang hoặc cầm đèn hột vịt, khi về tới nhà, nhang thừa thì cắm ở bàn thờ ông Thiên.

Bàn thờ ông Thiên giờ cũng còn y cũ tuy đã sửa nền mấy lần, nhà Ngoại cũng như xưa, chỉ có xây tường lên thay cho cánh én gổ đã bị mối ăn mục vào năm 2002.
Sửa nhà Ngoại năm 2002
Không nhớ được nhà Ngoại cất năm nào, chắc khoảng 1960, do cậu hai Vàng (ở số 4 Long Sơn ?) là thợ cất nhà nỗi tiếng lúc đó đứng ra bao thầu xây cất; khi đó trước sân có mấy cây vú sữa nâu mà mấy chị em tôi hay hái ăn khi trái chín nâu bóng.

Mấy chị tôi ai còn nhớ thì kể cho mấy em nghe đi, còn mấy em năm, sáu, bảy, út có gì thì kể nghe với chứ!

Võ Nguyên

29 thg 3, 2010

BÀ NGOẠI VÀ CHỊ EM TÔI

Thuở ấy, ở quê chưa có nhà máy xay lúa. Muốn có gạo ăn , người ta phải xay lúa bằng cối xay tay, phải sàng sẩy rồi đem gạo lức đổ vào cối, dùng chày giã cho tróc bớt vỏ cám ra mới ăn được. Tất cả mọi thứ đều làm bằng tay .

Ngoại cũng qua những công đoạn vất vả như thế, xong đâu đấy, Ngoại cho vào bao, gửi xe lên cho Má và Mẹ tôi. Gia đình tôi đông, nên Ngoại cho bao gạo lớn hơn. Thời gian dần trôi, chị em chúng tôi lớn lên từ những hạt gạo, hạt cơm của Ngoại. Ngoài gạo, Ngoại còn gửi lên nhiều thứ khác nữa, mùa nào thức nấy.
Phía sau nhà Ngoại là một vườn chuối lớn, vì thế chúng tôi được ăn chuối thường xuyên, có khi còn ăn cả chuối khô nữa. Những khi chuối chín nhiều quá, Ngoại ép ra rồi đem phơi nắng thành chuối khô. Chuối khô vừa ngọt lại vừa thơm. Chị em chúng tôi rất thích. Hồi nhỏ, khi về quê, Ngoại thường lột những bẹ chuối cho chúng tôi giả làm củi chẻ chơi. Có khi chẻ đầy một thúng giạ, Ngoại phải đem xuống sông đổ đi.
Đến mùa dưa hấu, trong bao gạo gửi lên không thể thiếu những quả dưa hấu nho nhỏ . Dù nhỏ nhưng ruột đỏ mà ngọt lịm. Chị em chúng tôi mê lắm. Có lần , Ngoại gởi lên một trái mít to tướng. Ngoại nghe Má nói đứa em gái thứ ba của tôi rất khoái loại trái nầy. Mùi thơm toả ngát cả gian nhà khi Má mang ra xẻ và chia từng múi, từng múi vàng ươm cho chúng tôi. Nhưng cái phần tuyệt nhất không phải là múi mà là sơ mít. Cái sơ mít ngắt vội rồi len lén cho vào mồm nhai ngấu nghiến. Thật không gì bằng!
Bà Ba (em của Ngoại) cũng góp phần vào bằng những cây mía. Theo sở thích của chúng tôi, Bà gửi lên những bó mía thân ốm mỏng mảnh. Đến nay, tôi vẫn còn nhớ cảm giác đưa khúc mía nhỏ vừa miệng mình, cắn gẫy một cái rốp, hai hàm răng nghiến lại, nước mía ngọt lịm chảy ra. Ôi, tuyệt làm sao! Khi Bà cho mía lớn chị em tôi đều chê vì nó không vừa miệng.
Đến khi Má tôi sinh đứa em thứ Năm được vài tuổi thì Mẹ tôi sinh đứa con đầu lòng. Bấy giờ, Ngoại lên nhà Mẹ nhiều hơn là ở với chúng tôi. Có lần tôi ”cà nanh” sao Ngoại không ở nhà mình mà cứ ở nhà Mẹ hoài. Má tôi ôn tồn giải thích: “Mẹ goá chồng từ khi mới ngoài hai mươi, lại chưa có con, nên Mẹ thương chị em con lắm (Chính vì sự thương yêu thái quá đó dẫn đến vài chuyện không hay còn mãi đến nay); bây giờ Mẹ mới có con, Má không giúp được thì Bà Ngoại lên tiếp Mẹ, con không nên cà nanh xấu lắm”. Nghe Má nói thế tôi mới hết tủi thân. Những lần Ngoại lên, chúng tôi thường dắt nhau xuống nhà Mẹ để thăm Ngoại. Lần nào Ngoại cũng cho tiền mấy đứa để ăn quà. Có tiền, chúng tôi kéo nhau mua, khi thì chuối nướng, khi thì mía ghim (không ngon bằng mía Bà Ba cho đâu).
Nhớ lần được tin thi đậu vào Đệ Thất (lớp 6 bây giờ) trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa ở Châu Đốc, còn Tân Châu lúc ấy chưa có trường công lập. Tôi chạy xuống nhà Mẹ, xin Ngoại 10 đồng, đi qua Châu Đốc dò kết quả để được chính mắt đọc tên mình trong danh sách trúng tuyển. Thuở ấy, con cái tự biết lo hơn bây giờ. Chắc do quá phấn khích nên vừa đi tôi vừa cười. Nhìn ai cũng cười, như muốn khoe và chia xẻ niềm vui to lớn cùng mọi người. Sợ người ta nói mình khùng, tôi cố nín, nhưng không sao nín được, cứ cười mãi...
Đứa em thứ ba của tôi là gái, đứa thứ tư và thứ năm là hai đứa con trai đầu nên được cả nhà cưng chiều lắm. Ngoại sợ tụi nó khỉ bị Ba đánh đòn đau, nên lần nào lên, Ngoại cũng đem theo một bó roi bằng ruột tre. Roi ruột tre đánh ít đau hơn, có đánh gảy roi, chờ đi lấy roi khác thì đã bớt giận rồi, chắc thôi không đánh nữa. Ngoại tâm lý ghê!
Tình thương Ngoại dành cho chị em chúng tôi là vô bờ bến. Ghi lại những kỉ niệm xưa như một nén nhang lòng dành cho Ngoại trong lần giổ thứ 22 này.

Tân Châu 26-3-2010