QuocHung's Blog

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng

23 thg 8, 2010

Nhớ Mẹ

 NHỚ MẸ
 -----
Chín mùa Vu Lan là chín mùa thương nhớ,
Rưng rưng buồn, nước mắt lại hoen mi.
Con gọi mẹ không thành lời thành tiếng,
Mà âm vang - bằng tiếng của con tim!
Con nhớ mẹ, trong vô vàn tiếc nhớ:
Những trưa hè yên ả của ngày xưa.
Con nhớ mẹ,trong tận cùng nỗi nhớ:
Lời thì thầm âu yếm những đêm mưa!
Vòng tay mẹ, những tháng năm dầu dãi,
Nâng con lên, sau va vấp trong đời.
Vòng tay mẹ, như sông dài biển rộng,
Trao cho con, những trải nghiệm cuộc đời!
Mẹ đã khuất nhưng mãi còn hiện diện,
Trong tâm tư, tình cảm của bao người,
Mẹ đã khuất, nhưng con còn mãi nhớ
Dáng hao gầy và tình mẹ bao la....

Thúy Hằng

3 thg 6, 2010

Thơ tếu siu tầm

Lâu quá không có bài viết nào, nên đăng thơ tếu sưu tầm:

60 là tuổi dậy thì
70 là tuổi bước đi vào đời
80 là tuổi ăn chơi
90 là tuổi cuộc đời nở hoa

Bách niên chưa hẳn đã già
So ông Bành Tổ vẫn là trẻ con
Nhập Phần còn lại ở đây

22 thg 2, 2010

Mẹ tôi

Bài thơ của chị thứ ba, Thúy Hằng:

Mẹ tôi mất vào một ngày nắng ấm
Phút giây buồn nước mắt chảy về tim !
Mẹ tôi mất trong bình yên, thanh thản
Để lại cho đời bao nỗi nhớ khôn nguôi !


Khi Mẹ mất, dù tóc tôi chớm bạc
Vẫn thấy mình thơ bé, cút côi !
Khi Mẹ mất : ngỡ chiêm bao, mộng mị ?
Giữa ban ngày – như một ánh sao rơi !

Mẹ tôi đó : một vòng tay nồng ấm
Vất vả, tảo tần hôm sớm nuôi con
Mẹ tôi đó : một vòng tay che chắn
Cho con thơ vững bước giữa cuộc đời !

Thôi Mẹ nhé, nghìn thu yên nghĩ
Bên mộ phần, vầng tang trắng Con mang
Tôi khóc Mẹ, trong đêm buồn lặng lẽ
Cõi vĩnh hằng : nơi đó – có Mẹ tôi

Dương Thúy Hằng.

18 thg 2, 2010

Bài thơ 2 về Mẹ của Bs.Kim và Thuý Huệ

CHỈ CÒN CHÚNG CON ĐI


Con sẽ đi xa khỏi “chốn nầy”
Và bao năm năm nưã chẳng “về đây”
Biết bao kỷ niệm mười năm sống
Thương nhớ buồn đau thế đã đầy
Còn nhớ hôm nào Mẹ bảo con:
“Mẹ ngại theo con suốt cuộc đời”
Thẩn thờ con chỉ ghi vào dạ
Định đến khi đi giải cạn lời.

Nào ngờ lời nói như trăn trối
Đến lúc con đi Mẹ chẳng còn
Bao nhiêu mong ước bao nhiêu tủi
Đất khách từ đây xót dạ con.
Đau lòng con lắm Mẫu thân ơi!
Những tưởng sum vầy vui bóng xế
Cửa cao nhà rộng mấy năm chờ
Chưa ở mà buồn đã thoáng vương.
Còn gì lưu luyến ở nơi nầy?
Còn gì đâu nữa ở thêm lâu
Đêm tối canh khuya choàng tỉnh giấc
Ngó quanh nhìn quẩn dạ bồi hồi.
Chỉ còn đây di ảnh của Mẹ Cha
Cho con con mang theo suốt cõi đời nầy
Bể đau thương con đắm chìm tận đáy
Hương linh xin Cha Mẹ hãy theo cùng.
Con đi mà chẳng có Mẹ Cha
Tan nát lòng con mắt lệ nhòa
Bao năm vui sống đời sum hợp
Bỗng chốc song đường cách biệt xa.
Để Cha Mẹ lại ngàn thương nhớ
Trời đất gây bao nỡi xót xa
Con gom nước mắt lòng sầu thảm
Ghép mấy vần thơ gửi lại Người
Tân Châu 01-8-2003
Huệ –Kim

Bài thơ về Mẹ của Bs.Kim và Thuý Huệ

VIẾNG SONG THÂN

Ra đi con hẹn tết này về
Hơn bốn mươi xuân chẳng phải xa
Thời thế xui nên giờ cách trở
Xuân nầy đành lỗi với mẹ cha.
Con biết giờ này mẹ nhận ra
Thiếu đứa con mà mẹ gần nhiều
Từ lúc ly hương luôn tưởng nhớ
Mong ngày gặp lai kể chuyện xa

Các chị,anh em chắc đủ đầy
Quây quần bên mẹ chắc vui lây
Thắp hương con gửi ngàn thương nhớ
Bay đến bên mồ viếng mẹ đây
Lâu lắm mộ phần con chửa lau
Cat bụi chắc nhiều bám đã lâu
Cho con chia chút công anh chị
Xin mẹ mĩm cười kể có con
Cho con gửi mẹ đóa cúc vàn
Và cành mai nở,cành hoa tươi
Mà mẹ vẫn thường mong như ý
Và đã vun trồng biết mấy mươi
Nén hương con thắp sáng hôm nay
Khói trầm theo gió thoảng xa bay
Thân ở phương trời lòng về mẹ
Quê nhà con vắng tết năm nay.
Xuân năm 2003
Huệ Kim

Những bài thơ về Mẹ của chị Vân Khanh

Mẹ Tôi

Như tiếng sấm giữa ngày quang đãng
Mẹ bỏ con bỏ cả cuộc đời !
Con chợt thấy như mình lạc lõng….
Giữa chợ đời nghiệt ngã bon chen.
***
Tuổi đã lớn, con nào biết lớn
Mẹ đi rồi con bỗng bơ vơ…
Kiếp nhân thế Mẹ tròn phận Mẹ
Cõi Vĩnh Hằng xin Mẹ an vui.

Tân Châu 28-11-2000
Vân Khanh


Sám hối

Mẹ yên nghỉ với nụ cười thanh thản
Bảy sáu năm tròn Mẹ được mấy ngày vui?
Các con Mẹ tuy giờ đều đã lớn
Bảy đứa là Mẹ có bảy nỗi lo riêng.
***
Con nhớ lại, thuở chúng con niên thiếu
Một thân cò, Mẹ lặn lội bon chen
Mẹ dạy bảo, Mẹ đở nâng, che chắn
Cho từng đứa con chập chững vào đời
***
Kể sao hết những truân chuyên Mẹ trải?
Mẹ nhọc nhằn, Mẹ lận đận, gian nan…
Tuy khôn lớn nhưng chúng con chưa nghĩ
Đến một ngày… Mẹ vĩnh viễn ra đi.
***
Công ơn Mẹ, chúng con chưa báo đáp
Mẹ vội vàng lìa bỏ chúng con đi
Con thảng thốt như người mộng mị
Mất mẹ rồi, sự thật nhói tim con.
***
Chúng con nguyện: suốt đời noi gương Mẹ
Thương cháu con, nhẫn nại đến quên mình
Chúng con sẽ là những người nối tiếp
Truyền thống gia đình: đùm bọc chở che nhau

TânChâu 20-12-2000
VÂN-KHANH

4 thg 2, 2010

Bài thơ "Màu Tím Hoa Sim" của Hữu Loan

Thời đi học mình thích nhất bài phổ nhạc này của Phạm Duy, nay thấy trên mạng có nguyên văn bài thơ và tâm sự của tác giả nên đưa lên để nhớ.
Quốc Nguyên
Ảnh Hữu Loan và bà Phạm Thị Nhu (vợ HL)


Màu Tím Hoa Sim


Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh
Tôi người vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như yêu người người em gái.
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê..
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về không gặp nàng
Má ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được nhìn nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa...
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu vàng cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa
(áo anh sứt chỉ đường tà
 Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...)



Bài của (TNTT&GT) 07/02:

Hữu Loan là người ẩn tướng. Thoạt nhìn, rất khó đoán định nội lực của con người vừa có dáng tiên phong đạo cốt vừa có vẻ một tiều phu núi xanh này. Thì đúng, Hữu Loan đã từng làm công việc nặng hơn việc một tiều phu: ông thồ xe chở đá độ nhật và nuôi cả gia đình trong thời gian khổ và đau đớn. 
 
Nhưng ông lại vốn là một “ông tú” thời Tây, là người am tường Hán học, và là một nhà thơ có “số má” ở nước mình. Chỉ một bài thơ “Màu tím hoa sim” Hữu Loan đã chinh phục được người đọc thơ rất nhiều thế hệ, chinh phục cả người ngoài Bắc lẫn trong Nam.

Góp vào cho sự quảng bá bài thơ bất tử ấy là hai ca khúc phổ thơ, một của Phạm Duy, một của Dũng Chinh. Bài Phạm Duy phổ có vẻ “bác học” hơn, còn bài Dũng Chinh bình dân hơn (bolero). Nhưng cả hai bài đều phổ biến rất rộng trong nhân gian. Tôi chính thức gặp và chơi với Hữu Loan mới từ năm 1988, khi ông và vài người bạn văn nghệ đi từ Lâm Đồng xuống Quy Nhơn. Sau đó, tới năm 1989, tôi về Quảng Ngãi và gặp Hữu Loan đang “ngao du sơn thủy” ở quê tôi. Thế là cùng dắt díu nhau đi đọc thơ và nói chuyện thơ ở các huyện, các trường PTTH. Hữu Loan có giọng đọc thơ rất ấm và đặc chất... Thanh Hóa. Nhưng đọc thơ có vẻ không phải “nghề” của ông, chẳng qua gặp lúc đò giang thì thế thôi.

Chơi với Hữu Loan, thích nhất là nghe ông trò chuyện. Từ chuyện xa tới chuyện gần, từ chuyện kinh Dịch tới thơ Đỗ Phủ. Trong lòng nhà thơ già này là cả một kho kiến thức, luôn được ông nghiền ngẫm và uẩn súc nên là những kiến thức của sự trải nghiệm chứ không phải kiến thức kinh viện. Đó là kiến thức đẫm chất đời. Hữu Loan ung dung và khiêm nhường, giọng khẽ mà vang. Người như thế, phùng thời có khi làm tới chức tể tướng chứ chả chơi! Nhưng Hữu Loan chỉ là nhà thơ nơi xóm mạc, gần như hai phần ba đời ông ở quê Nga Sơn, Thanh Hóa. Ông sinh năm 1916, bằng tuổi Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử, nhưng vẫn còn tại thế. Ông có lẽ là nhà thơ Việt Nam cao tuổi nhất hiện còn sống (Nguyễn Viết Lãm thua ông 3 tuổi). Tôi có lần hỏi đùa ông, hồi ấy khoảng năm 1990, rằng nếu bây giờ bọn đàn em mời ông đi uống bia... ôm, ông có đi không? Hữu Loan cười rất ngây thơ, không ra phản đối cũng không ra đồng ý.

Hồi đại hội 5 Hội nhà văn 1995, Hữu Loan lần đầu tiên xuất hiện tại một đại hội chính thức của Hội nhà văn sau gần 40 năm vắng bóng. Thôi thì tay bắt mặt mừng, anh em các thế hệ nhà văn xúm xít quanh ông. Hữu Loan liên tục được mời... uống bia. Khi ngồi bên Mỹ Dạ, trông Hữu Loan rất tươi tỉnh. Không ai nghĩ ông già này đã trải qua những tháng năm ghê gớm thế nào! Giọng vẫn chân chất, nhỏ nhẹ. Với giọng nói đó, người ta có thể vượt qua những tháng ngày nặng nề nhất. Bây giờ mỗi khi nghĩ và nhớ tới Hữu Loan, lại cảm thấy như nghìn trùng xa cách, dù Thanh Hóa nằm ngay trên quốc lộ 1. Bởi ngay lúc ở cạnh Hữu Loan, vẫn có cảm giác “Hữu Loan thiên lý”. Ông xa xôi như hình bóng một tiên ông, lại gần gũi như một người nông dân vừa xong buổi cày. Thiên lý ấy lại gần trong gang tấc.
Nhật Chung










Lời tự thuật của tác giả

17 thg 8, 2009

Vợ - Bồ và Tiền

Chỉ có tiền mới hiểu
Bồ thương ta nhường nào,
Chỉ có vợ mới biết
Tiền lương ta là bao.

Những ngày chưa kịp khao,
Bồ dạt dào thương nhớ.
Những lần lương bị hao,
Lòng vợ đau - rạn vỡ.

Nếu từ giã tiền rồi,
Bồ cũng bay theo gió.
Nếu phải cách xa lương
Vợ chỉ còn bão tố.

27 thg 7, 2009

THƠ TÂN HÌNH THỨC -

Tân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.

Thơ Tân Hình Thức có những đặc tính sau đây:
- Thơ không vần, nhịp điệu hoàn toàn khác với thơ cổ điển, nhưng được trình bày trên trang giấy như một bài thơ truyền thống : nhìn vào thì nhận ra ngay là thơ.

- Mỗi dòng như thơ cổ điển, gồm 5,6, thường là 7, 8 chữ (âm), có khi là lục bát, có thể xếp thành khổ 4 (hay nhiều) dòng. Cứ đến số chữ quy định là xuống dòng, không cần tôn trọng cú pháp, ý nghĩa của câu nói. Từ khổ trên xuống khổ dưới cũng vậy, và cứ vậy tiếp tục. Khi có, khi không chấm câu.

- Để xâu kết câu nói, các tác giả thường kể chuyện, chuyện nọ xọ chuyện kia, khi có khi không mạch lạc.

- Từ vựng đời thường, thông tục, có khi tục, của người bình thường sử dụng hằng ngày, trong sinh hoạt cụ thể. Không có mỹ từ pháp cổ điển như ẩn dụ, hoán dụ, biền ngẫu, nhưng có luyến láy để tạo nhịp cho câu nói.

Các tác giả tỏ ra hãnh diện về điều này, là đưa cuộc sống vào thơ, làm sống chất thơ trong cuộc sống, như vậy là cách tân, thậm chí là cách mạng. “Nếu không mang được những câu nói thông thường vào thơ thì làm sao mang được đời sống vào thơ? Và nếu không thì làm sao chia sẻ được nỗi vui buồn của mọi tầng lớp xã hội, để thơ trở thành tiếng nói của thời đại?”(1)

Trong chừng mực nào đó, họ có lý. Thơ tân hình thức là một loại ca dao tân thời, không phải thứ ca dao đã trở thành văn học được chọn lọc và giảng dạy ở nhà trường qua lăng kính thẩm mỹ trí thức, mà câu ca dao do người dân quê phát biểu trong đời sống, để sống đời sống hằng ngày. Ví dụ câu ru em này có hai thoại:

Thoại A, gần với thơ Tân Hình Thức:
Hai tay cầm bốn tao nôi
Tao mô thẳng thì thôi
Tao mô dùi thì sửa lại cho cân

Thoại B, gần với thơ truyền thống:
Hai tay cầm bốn tao nôi
Tao thẳng, tao dùi, tao nhớ, tao thương

Thơ Nôm Nguyễn Khuyến:
Năm nay cày cấy vẫn chân thua
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa
Phần thuế quan thu, phần trả nợ
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Đây là một bài thơ đường luật chỉnh chu, thậm chí là sắc sảo trong lề lối của nó. Nhưng đặt ra ngoài niêm luật, thì nó rất “tân hình thức”, trong lý tưởng thâm trầm nhất: đưa lời thường và đời thường vào thơ. Cụ Tam Nguyên mà sống vào thời này tí toáy nghịch thơ Tân Hình Thức, e các cụ Đỗ Kh., Nguyễn Đăng Thường phải sĩ khí rụt rè, và cụ Khế Iêm khỏi bỏ công viết cả mấy trăm trang dài thoòng biện hộ cho “hiệu ứng cánh bướm”.(2)

Ngoài ra, theo tôi, người làm thơ Tân Hình Thức đầu tiên là Nguyễn Văn Vĩnh, khi năm 1914 ông hạ bút viết câu ‘Ve sầu kêu ve ve’, là tân hình thức hết nấc.
Ngược lại, câu vè dân gian: Nghe vẻ nghe ve /Nghe vè đánh bạc /Đầu hôm xao xác lại là một câu vần vè cổ điển, gần với thi ca truyền thống.

Nguyễn Văn Vĩnh tiết lộ: trước khi dịch bài ngụ ngôn của La Fontaine, Con Ve và Con Kiến, ông chưa hề làm thơ, nghĩa là chưa tập tành. Câu ve sầu kêu ve ve có lẽ đến tự nhiên, theo ý câu tiếng Pháp, ông Vĩnh không có ý đồ cách tân, tham vọng văn học gì. Nhưng vô hình trung, ông đã thay đổi tương quan giữa thơ và cuộc sống, và bẻ một bước ngoặt trong tâm thức văn học Việt Nam, dù rằng, trong thực tế câu thơ ấy không mấy ảnh hưởng vào văn học. Các nhà thơ sau này mới có ý thức và dụng công cách tân rõ rệt hơn.

Kỹ thuật vắt dòng, hay bắc cầu (enjambement) thường gặp trong Thơ Mới, là một kinh nghiệm tiếp thu từ thơ Pháp, làm nổi bật một từ ngữ, hình ảnh nào đó. Đến Bích Khê (1915-1946) thì lối vắt dòng trở thành một thi pháp toàn diện, có giá trị thẩm mỹ riêng (dùng chữ ngắt dòng có lẽ đúng hơn là vắt dòng) như bài Duy Tân (1941):

Người họa điệu với thiên nhiên, ân ái
Buồn, và xanh trời. (Tôi trôi với bờ
Êm biếc - khóc với thu - lời úa ngô
Vàng - Khi cách biệt - giữa hồn xây mộ -
Tình hôm qua - dài hôm nay thương nhớ...)

Trong bài tựa Thơ Bích Khê (1988), Chế Lan Viên thừa nhận là do ảnh hưởng thơ Bích Khê, ông đã làm bài Tập Qua Hàng:
Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ
Trở về. Nắng sáng cũng mong. Cây
Cũng nhớ. Ngõ cũng chờ. Và bướm
Cũng thêm màu trên cánh đang bay(3)

Bài này chưa “tân hình thức” vì còn vần cây - bay, nhưng vần ở đây, không có tác dụng gì. Bỏ vần đi, thay chữ cây bằng vườn, và xếp đặt lại, ta sẽ có:

Chỉ một ngày nữa thôi em sẽ
trở về nắng sáng cũng mong vườn
cũng nhớ ngõ cũng chờ và bướm
cũng thêm màu trên cánh đang bay

Bài thơ dưới dạng này, mà gửi đăng Tạp Chí Thơ thì tuyệt!
Nói vậy để thấy trong thơ, ranh giới giữa trường phái này trường phái khác, cựu nọ tân kia, không phải lúc nào cũng rạch ròi. Trong tinh thần đó Tân Hình Thức là một biến thái của trường thơ dân tộc; và chúng tôi tâm đắc với Khế Iêm khi anh viết “Nhìn lại mọi thời kỳ, từ truyện thống đến tự do và Tân Hình Thức, Thơ như sợi chỉ xuyên suốt, luôn luôn đổi thay, phù hợp với nhịp đập của thời đại”.(4) Là một trong những người chủ xướng, có lẽ là người tận tụy nhất với Tân Hình Thức, anh tâm sự: “Mỗi thời kỳ văn học đều có quan điểm thẩm mỹ và giá trị lịch sử của nó, vì không ai có thể phủ nhận. Nhưng có điều nghich lý là tiến trình sáng tạo cũng là tiến trình phủ nhận. Những điều chúng tôi nêu ra trong thơ tiền chiến hay tự do cũng chỉ là thể hiện tiến trình phủ nhận chính mình vì chúng tôi đã từng sáng tác thơ vần điệu và tự do trước khi chuyển qua Tân Hình Thức”(5) (Khế Iêm đã xuất bản hai tập thơ là Thanh Xuân 1992, làm theo vần điệu và Dấu Quê 1996, làm theo thể tự do).

Ngay ở Hoa Kỳ, Tân Hình Thức cũng là một thuật ngữ mới xuất hiện trong thập niên 1980 dưới dạng New formalism. Đến 1996 mới có 25 nhà thơ ra mắt dưới danh xưng New formalism như hiện nay, với tập thi tuyển Những Thiên Thần Nổi Loạn.(6) Nhưng dường như Thơ Tân Hình Thức lại bắt nguồn từ Pháp, từ thi phẩm của Jean Ristat, Từ Khúc Giục Mùa Xuân Rảo Bước (Ode pour hâter la venue du Printemps), đăng nhiều kỳ trên báo La Nouvelle Critique giữa 1977-1978. Thể thơ thông dụng ở Pháp là Alexandrin, 12 chân (âm) và tiếng Pháp đa âm. Tác giả cứ mỗi dòng 12 chân thì xuống hàng, bất chấp cú pháp và từ vựng. Đỗ Kh. đã dịch bài thơ dài này, cũng bằng cách xuống dòng, dưới dạng lục bát, có lẽ vì nó “dân tộc”: đến chữ thứ sáu thì xuống dòng tám chữ, cứ như thế & như thế suốt non một ngàn câu.(7) Bản dịch có trích đoạn đăng rải rác trên các báo như Hợp Lưu, Tạp chí Thơ, số 2 (1994), số 18 (2000). Nhà thơ Nguyễn Đăng Thường, ở Luân Đôn, hợp tác vào bản dịch, tâm đắc và cao hứng làm một bài thơ dài, 31 khổ 5 câu, cũng theo lối xuống dòng tân hình thức, nhưng chọn thể thất ngôn, là bài Những Nụ Hồng của Máu, được đánh giá là tân kỳ và đặc sắc. Bài thơ đăng trên báo Thế Kỷ 21 số 27, tháng 7 năm 1991, California, có lẽ là tác phẩm thơ Tân Hình Thức đầu tiên cùng với bản dịch của Đỗ Kh. mà gần đây Nguyễn Đăng Thường đã in lại, theo dạng thủ công nghệ, dưới tên nhà xuất bản Giọt Sương Hoa.

Cuối dịch phẩm Đỗ Kh. đã cẩn thận ghi chú bối cảnh chính trị của bài thơ, Jean Ristat làm để góp phần vào tham vọng “đổi mới” của Đảng Cộng Sản Pháp trước thềm Đại Hội thứ 22 đầu năm 1977, do đó mà có hình ảnh giục giã mùa xuân. Anh còn nói thêm: Ode, dĩ nhiên, còn là một bài thơ tình. Jean Ristat là bạn trai của Aragon, là bí thư và là người thừa kế di sản văn chương của Aragon, và bài thơ có âm hưởng đồng tính luyến ái. Nói rộng ra, phong trào Tân Hình Thức tại Âu Mỹ nằm trong một khí quyển văn hóa đặc biệt, bên cạnh các phong trào Nữ Quyền, Quyền Đồng Tính luyến ái, Phản Chiến, thậm chí có cả cao trào Hội Chứng (Chiến Tranh) Việt Nam.

Cho nên khi Tạp Chí Thơ công bố: “Tân Hình Thức là một cuộc hòa điệu giữa quá khứ và hiện tại, giữa truyền thống và tự do, giữa nhiều nền văn hóa khác biệt, và ở phần sâu xa hơn, hóa giải những mầm mối phân tranh đã ăn sâu vào ký ức, chẳng phải của một dân tộc mà của cả nhân loại từ hàng trăm năm trước. Chúng ta với thời gian hơn một phần tư thế kỷ, có may mắn cận kề và học hỏi những cái hay của nền văn hóa bao quanh, áp dụng những yếu tố thích hợp vào ngôn ngữ, để làm giàu cho nền thơ Việt»(8), lời văn có vẻ đại ngôn, nhưng là tâm nguyện chân thành. Các tác giả là những người có ý thức sâu sắc về văn học, và trách nhiệm của họ, họ xả thân (và tài chánh) cho thơ mà không có một tham vọng chính trị hay văn học nào. Thậm chí, sau cả thập niên cố gắng, họ vẫn âm thầm làm việc trong đơn độc, có khi là đố kị, không được như những người chủ xướng nhóm Đa Đa tại Âu Châu hồi đầu thế kỷ trước, hay nhóm Xuân Thu Nhã Tập, tại Việt Nam về sau.

Nghiệm cho cùng, thơ và người đều có tử vi. Phan Khôi đã nổi danh với bài Tình Già đăng năm 1932 trên Phụ Nữ Tân Văn. Ngày nay, e không báo nào đăng một bài gọi là thơ như Tình Già; mà có đăng thì sẽ không có tiếng vang. Lỡ có tiếng vang e chỉ gây phiền hà cho tác giả. Cụ Phan dù tái sinh, e cũng đành dứt hương thề.

Gần đây, nhà thơ Chân Phương, trước kia cùng lò Tạp Chí Thơ có bài phê bình gắt gao trường phái Tân Hình Thức Việt Nam, cho rằng bắt chước không phải phép, biến trò vắt dòng thành một tiểu xảo máy móc thiếu suy nghĩ.(9) Theo tôi thì các nhà thơ Tân Hình Thức Việt Nam cũng “tôn trọng ước lệ và cách luật” ít nhất là trong tiềm thức. Chỉ lấy ví dụ trên Tạp Chí Thơ số 20 đã dẫn, thì bài Giữa Những Dòng Thơ của Phan Tấn Hải cấu trúc chìm là thơ 5 chữ, Con Mèo Đen của Khế Iêm là thơ 8 chữ, Mưa Muộn của Nguyễn Thị Thanh Bình là thơ 7 chữ. Có người sẽ hỏi: như vậy vắt dòng làm gì. Trả lời: vắt dòng là thành phần hữu cơ trong toàn bộ kỹ thuật Tân Hình Thức. Có khi gây hứng thú, như bài Những Nụ Hồng của Máu của Nguyễn Đăng Thường đã nói ở đoạn trên; mở đầu như sau:

Mười ngàn lẻ một đêm mưa trước
Ngày chúa bị đóng đinh trên cây
Vĩ cầm buổi trưa hôm đó có
Một tia nắng khẳng khiu chiếu dọi
Qua khung cửa tò vò rơi trúng...

Hứng thú vì đọc kiểu gì, vắt hay không vắt dòng, thơ vẫn hay. Như vậy, khen tác giả tài tình cũng được, chê tác giả ăn gian, bắt cá hai tay cũng xong. Anh tự sự:
“Bài thơ dài (dòng) vì tôi rất mong muốn với vài ba người nó sẽ là một thứ Chanson du Mal Aimé, hoặc Giây phút chạnh lòng hay Le condamné à Mort của một thời kỳ, thời đại nhiễu nhương. ‘Những Nụ Hồng của Máu’ là một ca khúc đầy ‘âm thanh và cuồng nộ’, là thơ tình, thơ lãng mạn, thơ hài, thơ châm, thơ hiện thực, siêu thực, thơ hạng nhất, thơ hạng bét hay không thơ (tùy người đọc), là tiểu thuyết ba xu, là soap opera, là film noir, cải lương, hát bộ, TV, phim thời sự, là một tranh cắt dán hàm bà lằng, hay đầy nghệ thuật (tùy vào người xem) với những cóp nhặt từ đông tây kim cổ”(10) (Những bài thơ Nguyễn Đăng Thường nhắc đến là của Apollinaire, Thế Lữ và Genet).

Và hứng thú ở chỗ này nữa: Nguyễn Đăng Thường vô hình trung đã đưa ra một định nghĩa linh động và cụ thể về thơ Tân Hình Thức, mà anh không ngờ tới. Ngoài ra Tân Hình Thức không cắt đứt với truyền thống, ngược lại còn đa mang, hỗn mang hằm bà lằng quá khứ.

*
Cao đẹp thay dụng tâm đưa lời thường, và đời thường, vào thơ. Khốn nỗi, đời thường, ai biết là đời nào đây?

Cùng một chuyến Tân Hình Thức, cô Mai Ninh làm thơ trên du thuyền trên sông Nil, cô Trọng Tuyến làm thơ giữa một hội nghị khoa học tại Nhật, cô Thanh Bình ngược con đường gió trên cánh đồng xuân đến nhà ông Đinh Cường, khi ông này làm thơ trong lúc vẽ tranh tại Virginia; cô Ngọc Nhung làm thơ khi đi chợ đêm mua băng vệ sinh tại Quận Cam, ông Đỗ Minh Tuấn làm thơ lúc chữa ống nước tại Hà Nội, ông Đỗ Kh. vừa làm thơ, vừa làm tình rải rác đó đây trên thế giới rồi chép miệng sướng cũng chẳng có nhiều... Vậy đời nào là đời thường? Lời nào là lời thường?

Do đó mà thơ Tân Hình Thức ỳ à ỳ ạch. Trong thơ truyền thống, từ Nguyễn Trãi đến Xuân Diệu cách nhau năm trăm năm, câu thơ không khác nhau bao nhiêu. Giữa hai ông Lưu Hy Lạc và Phan Nhiên Hạo, cách nhau vài buổi chiều, vài con đường, sao mà thơ khác biệt nhau quá!(11)

Đ.T
(244/06-09)


-------------
1. Tạp Chí Thơ, số 20, tr .73, 2001, California.
2. Khế Iêm, Tân Hình Thức, tr. 35-74, nxb Văn Mới, 2003, California. Sách lý thuyết về thơ Tân Hình Thức, 180 trang.
3. Chế Lan Viên, Tuyển Tập, tr.282, nxb Văn Học, 1983, bài này trích từ tập Hái Theo Mùa, 1973-1977.
4. Khế Iêm, Tân Hình Thức, sđd, tr. 19.
5. Khế Iêm, Tạp Chí Thơ, tr.114, số 21, 2001, California.
6. Mark Jarman và David Mason ấn hành, Rebel Angels, nxb Story Line Press, 1996, Oregon, tái bản 1998.
7. Jean Ristat, Ode pour hâter la venue du Printemps, nxb Gallimard, 1978, Bản dịch Đỗ Kh. Đoản Khúc để mùa Xuân đến vội, nxb Giọt Sương Hoa, 2001, London.
8. Tạp chí Thơ, số 20, sđd, tr.75.
9. Chân Phương, Tạp Chí Văn Học, tr.74, số 226, tháng 7- 8, 2005, California.
10. Nguyễn Đăng Thường, Tạp chí Thơ, tr.124, số 18 năm 2000.
11. Cho đến hôm nay, tôi biết có ba tập Thơ Hình Thức đã xuất bản: Trong nước: Đoàn Minh Hải, Đại Nguyện của Đá, 2002. Tại Hoa Kỳ: Lưu Hy Lạc, 26 Bài Thơ Tân Hình Thức, Giọt Sương Hoa, 2002; Hà Nguyên Du, Gene Đại Dương, nxb Tạp Chí Thơ, 2003.

Theo tác giả Đặng Tiến - Tạp chí Sông Hương.com.vn

26 thg 7, 2009

Không còn lương tâm

Đậu phụ hoà bột thạch cao
Kẹo tống mạt đá trộn vào tăng cân
Rượu pha cồn độ nửa phần
Nước mắm trộn lẫn mấy lần u-rê

Giò nào cũng cho hàn the
Thuốc tăng trọng lợn, bò, dê… quá nhiều
Diêm sinh ướp thịt sáng, chiều
Bánh, mứt, bún, phở… trộn liều phoóc-môn

Dấm… chế bằng a-xit non
Su-đan pha chế cho son môi hồng
Thuốc sâu đầy rau dưa đồng
Chất bảo quản ướp táo, hồng, quít, cam…

Chao ôi, những kẻ tham lam
Vì lợi, mặc hại, cứ làm như không
Hại nhau vì một chữ “đồng”
Lương tâm ác độc, còn trông được gì!

Sao lâu dẹp độc ác đi?
Lâu dẹp, dân chết, còn gì, hỡi ai
Hỡi ông sếp, hỡi ông cai
Nạn này không dẹp là sai luật rồi!

Theo Lao Động cuối tuần