QuocHung's Blog

4 thg 2, 2010

So sánh từ ngữ miền Nam và Bắc

Trước hết , xin khẳng định những suy nghĩ sau đây hoàn toàn là ý kiến cá nhân của tác giả, hoàn toàn không (.... chưa) được mang tính GIÁO KHOA , và có thể nhiều sai sót.

TỪ NGỮ MIỀN BẮC - TỪ NGỮ MIỀN NAM:
Ấn tượng - Đáng ghi nhớ, đáng nhớ
Bác sỹ / Ca sỹ - Bác sĩ / Ca sĩ
Bang - Tiểu bang (State)
Bắc bộ / Trung bộ / Nam bộ - Bắc phần / Trung phần / Nam phần
Báo cáo - Thưa trình, nói, kể
Bảo quản - Che chở, giữ gìn, bảo vệ
Bài nói - Diễn văn
Bảo hiểm (mũ) - An tòan (mũ)
Bèo - Rẻ (tiền)
Bị (đẹp) - Không dùng động từ “bị;” chỉ dùng tĩnh từ (đẹp)
Bồi dưỡng (hối lộ?) - Nghỉ ngơi, tẩm bổ, săn sóc, chăm nom, ăn uống đầy đủ
Bóng đá - Túc cầu
Bức xúc - Dồn nén, bực tức
Bất ngờ - Ngạc nhiên (surprised)
Bổ sung - Thêm, bổ túc

Cách ly - Cô lập
Cảnh báo - Báo động, phải chú ý
Cái A-lô - Cái điện thọai (telephone receiver)
Cái đài - Radio, máy phát thanh
Căn hộ - Căn nhà
Căng (lắm) - Căng thẳng (intense)
Cầu lông - Vũ cầu
Chảnh - Kiêu ngạo, làm tàng
Chất lượng - Phẩm chất tốt (chỉ đề cập phẩm “quality,” không đề cập lượng “quantity”)
Chất xám - Trí tuệ, sự thông minh
Chế độ - Quy chế
Chỉ đạo - Chỉ thị, ra lệnh
Chỉ tiêu - Định suất
Chủ nhiệm – Trưởng ban, Khoa trưởng
Chủ trì - Chủ tọa
Chữa cháy - Cứu hỏa
Chiêu đãi - Thết đãi
Chui - Lén lút
Chuyên chở - Nói lên, nêu ra
Chuyển ngữ - Dịch
Chứng minh nhân dân - Thẻ Căn cuớc
Chủ đạo - Chính
Co cụm - Thu hẹp
Công đoàn - Nghiệp đoàn
Công nghiệp - Kỹ nghệ
Công trình - Công tác
Cơ bản - Căn bản
Cơ khí (tĩnh từ!) - Cầu kỳ, phức tạp
Cơ sở - Căn bản, nguồn gốc
Cửa khẩu - Phi cảng, Hải cảng
Cụm từ - Nhóm chữ
Cứu hộ - Cứu cấp

Diện - Thành phần
Dự kiến - Phỏng định

Đại học mở - ???
Đào tị - Tị nạn
Đầu ra / Đầu vào - Xuất lượng / Nhập lượng
Đại táo / Tiểu táo - Nấu ăn chung, ăn tập thể / Nấu ăn riêng, ăn gia đình
Đại trà - Quy mô, cỡ lớn
Đảm bảo - Bảo đảm
Đăng ký - Ghi danh, ghi tên
Đáp án - Kết quả, trả lời
Đề xuất - Đề nghị
Đội ngũ - Hàng ngũ
Động não - Vận dụng trí óc, suy luận, suy nghĩ
Đồng bào dân tộc - Đồng bào sắc tộc
Động thái - Động lực
Động viên - Khuyến khích
Đột xuất- Bất ngờ
Đường băng - Phi đạo
Đường cao tốc - Xa lộ

Gia công - Làm ăn công
Giải phóng - Lấy lại, đem đi… (riêng chữ này bị VC lạm dụng rất nhiều)
Giải phóng mặt bằng - Ủi cho đất bằng
Giản đơn - Đơn giản
Giao lưu - Giao thiệp, trao đổi

Hạch toán - Kế toán
Hải quan - Quan Thuế
Hàng không dân dụng - Hàng không dân sự
Hát đôi - Song ca
Hát tốp - Hợp ca
Hạt nhân (vũ khí) - Nguyên tử
Hậu cần - Tiếp liệu
Học vị - Bằng cấp
Hệ quả - Hậu quả
Hiện đại - Tối tân
Hộ Nhà - Gia đình
Hộ chiếu - Sổ Thông hành
Hồ hởi - Phấn khởi
Hộ khẩu - Tờ khai gia đình
Hội chữ thập đỏ - Hội Hồng Thập Tự
Hoành tráng - Nguy nga, tráng lệ, đồ sộ
Hưng phấn - Kích động, vui sướng
Hữu hảo - Tốt đẹp
Hữu nghị - Thân hữu
Huyện - Quận

Kênh - Băng tần (Channel)
Khả năng (có) - Có thể xẩy ra (possible)
Khẩn trương - Nhanh lên
Khâu - Bộ phận, nhóm, ngành, ban, khoa
Kiều hối - Ngoại tệ
Kiệt suất - Giỏi, xuất sắc
Kinh qua - Trải qua

Làm gái - Làm điếm
Làm việc - Thẩm vấn, điều tra
Lầu năm góc / Nhà trắng - Ngũ Giác Đài / Tòa Bạch Ốc
Liên hoan - Đại hội, ăn mừng
Liên hệ - Liên lạc (contact)
Linh tinh - Vớ vẩn
Lính gái - Nữ quân nhân
Lính thủy đánh bộ - Thủy quân lục chiến
Lợi nhuận - Lợi tức
Lược tóm - Tóm lược
Lý giải - Giải thích (explain)

Máy bay lên thẳng - Trực thăng
Múa đôi - Khiêu vũ
Mĩ – Mỹ (Hoa kỳ -USA)

Nắm bắt - Nắm vững
Nâng cấp - Nâng, hoặc đưa giá trị lên
Năng nổ - Siêng năng, tháo vát
Nghệ nhân - Thợ, nghệ sĩ
Nghệ danh - Tên (nghệ sĩ - stage name) dùng ngoài tên thật
Nghĩa vụ quân sự - Đi quân dịch
Nghiêm túc - Nghiêm chỉnh
Nghiệp dư - Đi làm thêm (2nd job / nghề phụ, nghề tay trái)
Nhà khách - Khách sạn
Nhất trí - Đồng lòng, đồng ý
Nhất quán - Luôn luôn, trước sau như một
Người nước ngoài - Ngoại kiều
Nỗi niềm (tĩnh từ!) - Vẻ suy tư

Phần cứng - Cương liệu
Phần mềm - Nhu liệu
Phản ánh - Phản ảnh
Phản hồi - Trả lời, hồi âm
Phát sóng - Phát thanh
Phó Tiến Sĩ - Cao Học
Phi khẩu - Phi trường, phi cảng
Phi vụ - Một vụ trao đổi thương mại (a business deal - thương vụ)
Phục hồi nhân phẩm - Hoàn lương
Phương án - Kế hoạch

Quá tải - Quá sức, quá mức
Quán triệt - Hiểu rõ
Quản lý - Quản trị
Quảng trường - Công trường
Quân hàm - Cấp bực
Quy hoạch - Kế hoạch
Quy trình - Tiến trình

Sốc (“shocked)” - Kinh hoàng, kinh ngạc, ngạc nhiên
Sơ tán - Tản cư
Sư - Sư đoàn
Sức khỏe công dân – Y tế công cộng
Sự cố - Trở ngại

Tập đòan / Doanh nghiệp - Công ty
Tên lửa - Hỏa tiễn
Tham gia lưu thông (xe cộ) - Lưu hành
Tham quan - Thăm viếng
Thanh lý - Thanh toán, chứng minh
Thân thương - Thân mến
Thi công - Làm
Thị phần - Thị trường
Thu nhập - Lợi tức
Thư giãn - Tỉnh táo, giải trí
Thuyết phục (tính) - Có lý (makes sense), hợp lý, tin được
Tiên tiến - Xuất sắc
Tiến công - Tấn công
Tiếp thu - Tiếp nhận, thâu nhận, lãnh hội
Tiêu dùng - Tiêu thụ
Tổ lái - Phi hành đòan
Tờ rơi - Truyền đơn
Tranh thủ - Cố gắng
Trí tuệ - Kiến thức
Triển khai - Khai triển
Tư duy - Suy nghĩ
Tư liệu - Tài liệu
Từ - Tiếng, chữ

Ùn tắc - Tắt nghẽn

Vấn nạn - Vấn đề
Vận động viên - Lực sĩ
Viện Ung Bướu – Viện Ung Thư
Vô tư - Tự nhiên

Xác tín - Chính xác
Xe con - Xe du lịch
Xe khách - Xe đò
Xử lý - Giải quyết, thi hành

(Trích từ Giáo sư . NNH)


Con số 108 là một con số huyền bí

Con số 108 là một con số huyền bí của vũ trụ, của thế giới vật chất và tâm linh:

Con số 108 là một con số huyền bí của vũ trụ, của thế giới vật chất và tâm linh:

- Đường xa cách giữa kim tinh (venus) và mặt trời là 108 triệu km; hiện nay con số 108 triệu km đang được các nhà thiên văn học dùng làm đơn vị đo lường khoảng cách từ trái đất đến các hành tinh khác ?

- Cổ của loài tinh trùng nào cũng có một cặp trung tử (centriole), mỗi cặp có 9 bó sợi, mỗi bó sợi có 3 vi ống (microtubbles) tức là 27 vi ống của mỗi trung tử, 54 vi ống trong một cặp và sẽ là 108 vi ống khi cặp này nhân đôi để chia thành 2 tế bào con?

-Con số 108 có liên quan tới hai tôn giáo lớn của thế giới, đó là Phật giáo và Kito giáo: số 54 và 108 chính là con số trong các chuỗi hạt (tràng hạt) của đạo Kitô (54) và đạo Phật (108).

- Bảng tuần hoàn Mendeleev: có 108 nguyên tố hoá học được tìm ra trong tự nhiên đã được phân bổ, khép kín với những liên kết nội tại được Mendeleev tìm ra và sắp xếp trong bảng tuần hoàn.

Khi Mendeleev tìm ra Bảng tuần hoàn, thế giới thời ông mới tìm ra được 63 nguyên tố; hiện nay con số đã lên tới 108 nguyên tố mà không phá vỡ, đảo lộn cấu trúc của Bảng tuần hoàn do ông phát minh ra ?

- Tử Vi đẩu số do Trần Đoàn đời Tống lập một khoa một đoán định về tương lai và hậu vận về số mạng của một con người dựa vào phép cân đẩu sao. Theo lý giải và lập luận của Trần Đoàn, bản mạng của con người bị chi phối bởi 108 ngôi sao trong một lá số Tử Vi?

- Có 108 anh hùng tụ nghĩa về Lương Sơn Bạc ?

- Chiến thắng mùa xuân 1975 khởi đầu tại Buôn Ma Thuột: thành phố này nằm trên kinh tuyến số 108 đông bán cầu ?

- Hà Nội có Bệnh viện 108 giành để dưỡng bệnh cho quân nhân ?

Phạm Viết Đào

Bài thơ "Màu Tím Hoa Sim" của Hữu Loan

Thời đi học mình thích nhất bài phổ nhạc này của Phạm Duy, nay thấy trên mạng có nguyên văn bài thơ và tâm sự của tác giả nên đưa lên để nhớ.
Quốc Nguyên
Ảnh Hữu Loan và bà Phạm Thị Nhu (vợ HL)


Màu Tím Hoa Sim


Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh
Tôi người vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như yêu người người em gái.
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê..
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về không gặp nàng
Má ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được nhìn nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa...
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu vàng cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa
(áo anh sứt chỉ đường tà
 Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...)



Bài của (TNTT&GT) 07/02:

Hữu Loan là người ẩn tướng. Thoạt nhìn, rất khó đoán định nội lực của con người vừa có dáng tiên phong đạo cốt vừa có vẻ một tiều phu núi xanh này. Thì đúng, Hữu Loan đã từng làm công việc nặng hơn việc một tiều phu: ông thồ xe chở đá độ nhật và nuôi cả gia đình trong thời gian khổ và đau đớn. 
 
Nhưng ông lại vốn là một “ông tú” thời Tây, là người am tường Hán học, và là một nhà thơ có “số má” ở nước mình. Chỉ một bài thơ “Màu tím hoa sim” Hữu Loan đã chinh phục được người đọc thơ rất nhiều thế hệ, chinh phục cả người ngoài Bắc lẫn trong Nam.

Góp vào cho sự quảng bá bài thơ bất tử ấy là hai ca khúc phổ thơ, một của Phạm Duy, một của Dũng Chinh. Bài Phạm Duy phổ có vẻ “bác học” hơn, còn bài Dũng Chinh bình dân hơn (bolero). Nhưng cả hai bài đều phổ biến rất rộng trong nhân gian. Tôi chính thức gặp và chơi với Hữu Loan mới từ năm 1988, khi ông và vài người bạn văn nghệ đi từ Lâm Đồng xuống Quy Nhơn. Sau đó, tới năm 1989, tôi về Quảng Ngãi và gặp Hữu Loan đang “ngao du sơn thủy” ở quê tôi. Thế là cùng dắt díu nhau đi đọc thơ và nói chuyện thơ ở các huyện, các trường PTTH. Hữu Loan có giọng đọc thơ rất ấm và đặc chất... Thanh Hóa. Nhưng đọc thơ có vẻ không phải “nghề” của ông, chẳng qua gặp lúc đò giang thì thế thôi.

Chơi với Hữu Loan, thích nhất là nghe ông trò chuyện. Từ chuyện xa tới chuyện gần, từ chuyện kinh Dịch tới thơ Đỗ Phủ. Trong lòng nhà thơ già này là cả một kho kiến thức, luôn được ông nghiền ngẫm và uẩn súc nên là những kiến thức của sự trải nghiệm chứ không phải kiến thức kinh viện. Đó là kiến thức đẫm chất đời. Hữu Loan ung dung và khiêm nhường, giọng khẽ mà vang. Người như thế, phùng thời có khi làm tới chức tể tướng chứ chả chơi! Nhưng Hữu Loan chỉ là nhà thơ nơi xóm mạc, gần như hai phần ba đời ông ở quê Nga Sơn, Thanh Hóa. Ông sinh năm 1916, bằng tuổi Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử, nhưng vẫn còn tại thế. Ông có lẽ là nhà thơ Việt Nam cao tuổi nhất hiện còn sống (Nguyễn Viết Lãm thua ông 3 tuổi). Tôi có lần hỏi đùa ông, hồi ấy khoảng năm 1990, rằng nếu bây giờ bọn đàn em mời ông đi uống bia... ôm, ông có đi không? Hữu Loan cười rất ngây thơ, không ra phản đối cũng không ra đồng ý.

Hồi đại hội 5 Hội nhà văn 1995, Hữu Loan lần đầu tiên xuất hiện tại một đại hội chính thức của Hội nhà văn sau gần 40 năm vắng bóng. Thôi thì tay bắt mặt mừng, anh em các thế hệ nhà văn xúm xít quanh ông. Hữu Loan liên tục được mời... uống bia. Khi ngồi bên Mỹ Dạ, trông Hữu Loan rất tươi tỉnh. Không ai nghĩ ông già này đã trải qua những tháng năm ghê gớm thế nào! Giọng vẫn chân chất, nhỏ nhẹ. Với giọng nói đó, người ta có thể vượt qua những tháng ngày nặng nề nhất. Bây giờ mỗi khi nghĩ và nhớ tới Hữu Loan, lại cảm thấy như nghìn trùng xa cách, dù Thanh Hóa nằm ngay trên quốc lộ 1. Bởi ngay lúc ở cạnh Hữu Loan, vẫn có cảm giác “Hữu Loan thiên lý”. Ông xa xôi như hình bóng một tiên ông, lại gần gũi như một người nông dân vừa xong buổi cày. Thiên lý ấy lại gần trong gang tấc.
Nhật Chung










Lời tự thuật của tác giả

3 thg 2, 2010

Người VN đầu tiên trượt tuyết đến Nam Cực



Người VN đầu tiên trượt tuyết đến Nam Cực.

Cuối năm 2009 tôi đã có dịp trượt tuyết đến Nam Cực, sau khi cũng đã có một dịp tương tự đến Bắc Cực một năm trước đó.
Có người hỏi tôi tại sao lại muốn đi Nam Cực. Câu trả lời ngắn là tại sao không. Nhưng đó chỉ là một phần mà thôi.

Cuối năm 2005, tôi may mắn có dịp đi châu Nam Cực theo dạng du lịch bằng tàu đến các đảo và bán đảo châu Nam Cực. Cảnh vật ở đấy rất đẹp, thật hùng vĩ và hoang sơ.
Tôi đã đi các vùng miền bắc Canada, Greenland và Iceland và rất mê các vùng này nhưng khi đến châu Nam Cực, tôi biết mình sẽ phải thực hiện các chuyến đi lớn hơn và xa hơn để thỏa mãn sự đam mê này.

Hơn nữa tôi cũng có chút máu mạo hiểm và ưa sự thử thách, nên thế là ba năm sau tôi quyết định đi Bắc Cực theo kiểu mạo hiểm là trượt tuyết thay vì chỉ bay tới đó.
Chuyến đi Bắc Cực thành công nên tôi muốn thử thách mình hơn chút nữa, đó là Nam Cực.

Đa số chúng ta sống ở các vùng không cao hơn mặt nước biển là mấy nên nếu đặt chân đến Nam Cực, ta sẽ bị hội chứng độ cao như khó thở, nhức đầu, nôn mửa hay bị ảo giác và có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Bắc Cực vs. Nam Cực
Tuy lần này cũng trượt tuyết từ vĩ độ 89 đến vĩ độ 90, với khoảng cách 112 km, giống như chuyến đi Bắc Cực, nhưng hai chuyến là khá khác nhau.

Bắc Cực nằm giữa Bắc Băng Dương nên băng lúc nào cũng trôi dạt theo luồng nước. Cho nên việc di chuyển trên băng khá nguy hiểm vì chúng có thể vỡ.

Nam Cực tuy nằm trên băng nhưng lớp băng này rất dày, có khi gần 3000 m, phủ trên mặt đất của châu Nam Cực, nên băng chỉ trượt rất ít (khoảng 10 m mỗi năm). Do vậy việc di chuyển đến Nam Cực ít nguy hiểm hơn.

Nhưng Nam Cực có cái khó khác là vì lớp băng dày gần 3 cây số, và vì ở trục quay của trái đất, áp suất không khí thấp hơn nên nó giống như ở độ cao 4000m so với mặt biển.

Đa số chúng ta sống ở các vùng không cao hơn mặt nước biển là mấy nên nếu đặt chân đến Nam Cực, ta sẽ bị hội chứng độ cao như khó thở, nhức đầu, nôn mửa hay bị ảo giác và có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Ngoài ra, tính chất của tuyết ở hai cực rất khác nhau. Tuyết tại Bắc Cực cứng vì không khí có độ ẩm vì nằm trên mặt nước trong khi tuyết tại Nam Cực xốp và gần như là cát. Sức cản của tuyết ở Nam Cực khá lớn nên kéo sled rất mệt.


(Từ trái sang) Nubo Huang, Andreas Meyer, David Hamilton và Khải Nguyễn

Chuẩn bị
Tuy đã trượt tuyết đến Bắc Cực và đã có kinh nghiệm, nhưng để chuẩn bị tốt nhất cho chuyến đi, tôi đã tập luyện và chuẩn bị sức khoẻ gần cả năm.

Tôi nhỏ con (1m64) và nặng chỉ có 56kg vì vậy để kéo sled nặng 35-45 kg trên tuyết, cần phải có sức khỏe tốt, tim mạch tốt.

Và nhất là phải quen với độ cao với tình trạng loãng oxy. Các bài tập luyện chính là leo máy thang (stairmaster), máy chèo thuyền (rowing), chạy xe đạp, nói chung là các bài tập về cardiovascular.

Cuối tuần thì đi hiking ngọn đồi cao 767m gần nhà và mang balô nặng khoảng 18-19 kg.
Để quen việc kéo sled, tôi đi ra bãi biển cũng gần nhà kéo bánh xe hơi. Cũng may bãi biển này vắng nên ít người hỏi tôi kéo vỏ xe để làm gì.

Ngoài các bài tập như trên, tôi cũng tham gia các chuyến leo núi như Mt Shasta (4322m), Mt Rainier (4392m) và Mt Whiney (4421m) để quen với độ cao trên 4000m và cường độ hoạt động ở các độ cao này.

Lên đường.

Việc chuyên chở, hậu cần ở châu Nam Cực rất phức tạp vì thời tiết, địa hình và sự hoang sơ hiểm trở và khoảng cách. Vì vậy chuyến đi rất đắt tiền vì tất cả mọi thứ đều phải chuyên chở từ Chile đến.

Sau nhiều tháng chuẩn bị, ngày khởi hành của chuyến đi chờ đợi cũng đến.
Tôi đến Punta Arenas (Chile) vào ngày 14 tháng 12, hai ngày trước khi ngày khởi hành để chuẩn bị cho những thứ phút cuối.

Trong cuộc họp chuẩn bị, tôi gặp hai trong số bốn người đồng hành của mình. Đó là một doanh nhân Trung Quốc tên Nubo Huang và một kỹ sư người Đức Andreas Meyer.
Nhóm tôi có 5 người với người dẫn đường là 6. Hai người còn lại là cặp vợ chồng luật sư người Anh, John Sipling và Tanya Sipling.

Người dẫn đường và cặp vợ chồng người Anh lúc này đã ở trại Patriot Hills tại châu Nam Cực để tập luyện trước.

Ngày bay, chuyến bay bị dời lại vài lần vì thời tiết tại Patriot Hills xấu nhưng cuối cùng chúng tôi cũng lên đường.

Đến khi ngồi trong máy bay tôi mới có cảm giác là mình sẽ bắt đầu một chuyến đi lớn, gần như là một lần trong đời.

Và lúc đó tôi nhận ra rằng giấc mơ Nam Cực đã rất gần, chỉ hy vọng mọi việc được suôn sẻ vì từ lâu tôi đã biết những chuyến đi mạo hiểm như thế này hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết, sự may mắn và sự chuẩn bị. Sự chuẩn bị tốt thì có thể nhưng hai thứ kia không ai điều khiển được.


Patriot Hills. Đây là trại (basecamp) của công ty tổ chức chuyến đi.

Trại nằm vĩ độ 80 độ nam và 81 độ tây, nằm trong đất liền của châu Nam Cực.
Trại chỉ hoạt động ba tháng từ cuối mùa xuân đến mùa hè của nam bán cầu để phục vụ công việc vận chuyển và tổ chức các chuyến đi mạo hiểm đến Nam Cực và leo núi Vinson tại châu Nam Cực. Trại được dựng lên và dẹp đi hàng năm.
Việc chuyên chở, hậu cần ở châu Nam Cực rất phức tạp vì thời tiết, địa hình và sự hoang sơ hiểm trở và khoảng cách. Vì vậy chuyến đi rất đắt tiền vì tất cả mọi thứ đều phải chuyên chở từ Chile đến.

Ngay cả việc máy bay có thể đáp xuống “đường băng” cả là một vấn đề. Đường băng ở đây đúng là một đường băng theo nghĩa đen – máy bay đáp xuống băng và không thể dùng thắng để ngưng lại mà phải cho động cơ quay ngược để máy bay chậm lại từ từ.
Tất cả những chất thải, từ rác, nước rửa chén bát đến chất thải con người (cả hai thứ) đều được mang về lại đất liền chứ không để lại tại trại vì họ muốn bảo vệ môi trường.

Chúng tôi đến trại Patriot Hills ai nấy đều phấn khởi.

Người ở chung lều với tôi, cũng là một người Anh, nói chỉ việc đến trại này thôi cũng đáng tiền.

Thật vậy, trong chuyến bay của tôi có một người Nhật còn khá trẻ nhưng anh có lẽ bị dị tật ở chân nên phải xài nạng. Anh bay đến trại chỉ để ở đó một giờ rồi bay về lại Chile. Tôi nghĩ anh cũng tốn khá nhiều cho chuyến bay này.

Chúng tôi ở trại vài ngày để thực tập và làm quen với các công việc hàng ngày mà chúng tôi sẽ làm trong chuyến đi.

Vĩ độ cuối cùng

Sau 4 ngày thực tập và chờ đợi thời tiết tốt, chúng tôi, 5 người không quen biết mấy ngày trước đó và David Hamilton (người Anh) cùng lên máy bay Twin Otter nhỏ để bay đến vĩ độ 89 nam để bắt đầu cuộc hành trình của mình.

David Hamilton là người đã dẫn đường cho Sir Ranulph Fiennes trong lần leo núi đầu tiên lên đỉnh Everest hồi năm 2005.

Khi máy rời chúng tôi tại vĩ độ 89 nam, tôi biết rằng chúng tôi chính thức chia cắt với thế giới.
Một cảm giác xáo trộn, vừa háo hức vừa lo về thử thách mà mình có thể chưa bao giờ biết đến.

Các bạn đồng hành cũng có tâm trạng này. Nhưng trên hết chúng tôi đã biết trước chuyến đi sẽ khó khăn nên sự lo lắng cũng không át đi được sự háo hức.
Hôm đó là một ngày đẹp trời, nắng chói chang. Tuy vậy nhiệt độ vẫn rất thấp, -19C. Chung quanh toàn màu trắng, không một sinh vật ngoại trừ chúng tôi.

Chúng tôi nhanh chóng dựng lều trên tuyết để nghỉ, để ngày hôm sau thật sự bắt đầu hành trình trượt tuyết đến điểm đáy thế giới.
Nubo, Andreas và tôi ở trong một lều, John and Tanya một lều khác và David ở một mình trong một lều nhỏ.

Hành trình trượt tuyết
Sáng thức dậy vào lúc 6 giờ, chúng tôi bắt bếp để làm tan tuyết và đun sôi nước để ăn cereal (bỏng ngũ cốc).

Andreas, Nubo và tôi thay phiên nhau mỗi ngày “làm bếp”. Nói làm bếp thật ra chỉ việc bắt bếp, lấy tuyết cho vào nồi cho tan đến sôi thôi.
Chỉ có bữa ăn tối chúng tôi mới nấu ăn bằng cách cho nước sôi vào nồi thức ăn khô và đảo sơ qua để không bị khét.

Việc ăn uống trong chuyến đi kiểu này rất đơn giản. Thức ăn cho bữa sáng thường là cereal với sữa bột hoặc nếu không thích thì mì ăn liền.
Trong lúc trượt tuyết thì ăn snacks với các loại hạt và mứt như hạt điều, đậu phộng và nho khô, cộng với chocolate, bánh cookies, salami và power bars.

Bữa ăn chính là bữa tối gồm các món ăn đã sấy khô chỉ cần đổ nước sôi vào là ăn được, cộng với thịt đã chín đông lạnh.
Sau khi ăn sáng chúng tôi sắp xếp sled của mình và tháo lều xuống để đi.
Ngày đầu trượt tuyết, David quyết định trượt tuyết từ từ, và chỉ có 6 tiếng thôi vì chúng tôi phải làm quen với cao độ từ từ.

Trước khi đi Chile, tôi đã đi trượt tuyết ở Colorado, ở cao độ gần 2800m nên tôi không gặp mấy khó khăn với độ cao.

Nhưng ngày đầu, sled đầy và nặng, nên 6 tiếng kéo sled khá vất vả.
Hôm đó trời cũng gió nhiều nên chúng tôi phải che chắn tất cả, không để phần cơ thể nào tiếp xúc với cái lạnh.

Vừa kéo sled nặng, vừa phải biết điều chỉnh các lớp áo quần để không bị đổ mồ hôi hoặc bị quá lạnh, trong khi cơ thể làm việc rất nhiều mà oxy hít vào không đủ là một việc khó khăn nếu chưa quen. Cuối ngày hôm đó thì chúng tôi đã trượt tuyết được khoảng 10 km.

Ngày hôm sau, sau một “đêm” nghỉ ngơi (gọi là đêm chứ thật ra mặc trời chiếu sáng 24/24, chúng tôi phải dùng miếng che mắt để có thể ngủ được), chúng tôi lại “dọn nhà” – tức là lều mà chúng tôi dựng lên buổi tối – để lên đường đi tiếp.

Sau khi đi được 3 chặng, Tanya và John nói với David xin được nghỉ lại.
Chúng tôi lúc này không biết việc gì xảy ra và ai cũng ngỡ ngàng. Thì ra Tanya bị hội chứng độ cao (Acute Mountain Sickness) và cô cảm thấy rất yếu không thể đi được nữa.
Sau này tôi mới biết là đêm trước, cô đã không ngủ được vì khó thở và nhức đầu. Đấy là những triệu chứng ban đầu của hội chứng này.

Chúng tôi thế là dừng lại để có thể chăm sóc cô, hy vọng cô sẽ quen dần với độ cao ngày hôm sau.
Hai vợ chồng người Anh đêm đó quyết định sẽ không tiếp tục đi nữa vì Tanya càng yếu hơn. Họ đã liên lạc với Patriot Hills để họ cho máy bay đến chở về. Nhưng Patriot Hills đã thuyết phục đôi vợ chồng hãy thong thả, và hy vọng Tanya sẽ khỏe hơn ngày hôm sau.

Ngày kế tiếp, chúng tôi quyết định chia bớt đồ đạc trong sled của Tanya cho tất cả mọi người còn lại, chỉ chừa lại một số vật nhẹ trong sled của cô.
Sled của tôi đã nặng thêm khoảng 7kg. Trong khi mỗi kg đồ đạc khi kéo lâu dài là cả một vấn đề, thì nay chúng tôi ai cũng phải thêm cả 7-8 kg. Chắc bạn cũng đoán được, chúng tôi ai cũng mệt hơn ngày hôm trước rất nhiều.

Tuy sled của cô đã nhẹ đi rất nhiều, nhưng Tanya vẫn còn triệu chứng của hội chứng độ cao, và bắt đầu có thêm những triệu chứng mới.
David quyết định sẽ lấy ngày hôm sau là ngày nghỉ cho cả đoàn để Tanya có hồi phục.
Đó là ngày trước Giáng Sinh.

Đêm đó, vì có một ngày nghỉ, chúng tôi nấu thức ăn nhiều hơn một tí và tôi đã đem ổ bánh fruit cake mà tự tay tôi nướng ở nhà và mời các bạn đồng hành sang lều của chúng tôi để có một buổi tối Giáng Sinh ấm cúng trong cái lạnh cắt da của châu Nam Cực.

Không những có bánh ăn Giáng Sinh, tôi còn đem theo quà nhỏ cho tất cả mọi người và cả “cây thông” Noel (do bé cháu tôi 3 tuổi vẽ và gửi cho tôi trước khi lên đường). Đây là một đêm trước Giáng Sinh thật đáng nhớ trong đời.

Ngày Giáng Sinh và ngày 26/12, tuy Tanya đã bình phục chút ít nhưng chúng tôi vẫn đi ít giờ để Tanya có thể theo kịp trong khi chờ máy bay đến đón Tanya và John.
Cuối cùng, đến ngày 27, máy bay mới có thể đến. Chúng tôi lúc này có những cảm xúc trái chiều, vừa buồn vì họ không thể tiếp tục đi đến Nam Cực nhưng cũng mừng cho họ vì nếu kéo dài thì sức khỏe của Tanya có thể gặp nguy hiểm. Đến ngày này, chúng tôi chỉ mới đi được nửa đường.

Bây giờ đoàn chỉ còn 4 người, chúng tăng tốc rất nhanh và đến ngày 29/12, chúng tôi đã có thể thấy trạm nghiên cứu Admundsen-Scott của Mỹ ở chân trời.

Ai nấy đều mừng rỡ vì cả tuần chỉ thấy tuyết và không gì khác.

Ngày 30/12 là ngày đặc biệt đối với tôi. Chúng tôi cuối cùng cũng đến được cái điểm mà tôi ước mình có dịp đặt chân tới, 90 độ nam. Cái điểm đó không có gì đặc biệt ngoại trừ tấm bảng “Geographic South Pole”, một cây cột đánh dấu điểm Nam Cực và lá cờ Mỹ, được dựng phía ngoài trạm nghiên cứu.

Nhưng cái điểm đó chính là đích đến của biết bao nhiêu các nhà thám hiểm ngày xưa và nay, có khi bỏ mạng sống chỉ để đến một lần trong đời.

Chỉ với trợ giúp của tiến bộ khoa học cùng với kiến thức về châu Nam Cực càng nhiều như ngày nay, những người như tôi mới có thể làm những chuyến đi mạo hiểm đến nơi đây, có phần nào an toàn hơn ngày xưa.

Suy nghĩ sau chuyến đi
Khi nghĩ lại về chuyến đi, tôi cho rằng mình quá may mắn có cơ hội đến những vùng đất mà rất ít người đã đến.

Ông Mike Sharp, một nhà thám hiểm châu Nam Cưc kỳ cựu, và là một trong những người chủ của công ty tổ chức chuyến đi, đã cho tôi biết 40 năm trong nghề, ông chưa bao giờ gặp hoặc nghe nói tới người gốc Việt đi tới Nam Cực bằng chính sức lực của mình, đi bộ hay trượt tuyết.

Nếu đúng, đây là niềm vinh dự to lớn cho tôi.

Khải Nguyễn

2 thg 2, 2010

Bài Khí công tăng tuổi thọ - Bs Lê Văn Vĩnh

Bạch hạc hoán dương (hạc trắng gọi Mặt Trời) là bài khí công dưỡng sinh đơn giản nhất của các tăng ni chùa Thiếu Lâm. Bài tập này đã có từ ngàn xưa, dùng để luyện tập cơ bản mỗi buổi sáng nhằm điều khí, dưỡng thân và định thần, tăng cường tuổi thọ.

Bạch hạc hoán dương (hạc trắng gọi Mặt Trời) là bài khí công dưỡng sinh đơn giản nhất của các tăng ni chùa Thiếu Lâm. Bài tập này đã có từ ngàn xưa, dùng để luyện tập cơ bản mỗi buổi sáng nhằm điều khí, dưỡng thân và định thần, tăng cường tuổi thọ.

Bài khí công này tuy ngắn, chỉ có 4 thế nhưng bao gồm tất cả các động tác thăng, giáng, khai, hợp làm cho khí huyết toàn thân hoạt động. Nếu muốn đạt đến mức độ cao nhất của khí công, dù bạn đã tập luyện thành thục đi nữa cũng phải an định thân tâm, hòa đồng vũ trụ.
Sau đây là cách tập đơn giản và tiết kiệm thời gian nhất, có thể thực hành mỗi buổi sáng: Hít vào bằng mũi, bụng dưới phình (đan điền). Thở ra bằng mũi, hóp bụng tối đa, thời gian hít vào bằng thời gian thở ra.

Thế 1:
Đứng nghiêm, thả lỏng toàn thân, 2 chân đứng dạng ra bằng vai, 2 tay buông thõng ép sát 2 bên đùi. Thở tự nhiên.

Thế 2:
a. Lật ngửa 2 bàn tay và đưa thẳng ra trước ngang vai; hít vào bằng mũi từ từ và sâu.
b. Cúi xuống đưa 2 tay sát đất, 2 mũi bàn tay hướng vào nhau, lòng bàn tay hướng lên: thở ra bằng mũi sâu. Hai chân thẳng chứ không được cong.

Thế 3:

a. Từ từ nhấc người và vai lên cho đến lúc 2 bàn tay ngang đầu gối (chỉ có vai cử động), hít vào bằng mũi.
b. Vai hạ xuống, 2 tay lại đưa xuống sát đất (chân vẫn thẳng không được cong), thở ra bằng mũi giống động tác 3.
Đưa lên xuống và thở hít như thế 3 lần.

Thế 4:
a. Đưa 2 tay từ ngoài lên cao quá đầu, 2 tay thẳng như chữ V đưa ra 2 bên; Hít vào bằng mũi.
b. Nắm 2 bàn tay lại đưa xuống ngang vai, lòng bàn tay úp vào 2 vai, từ từ mở bàn tay ra, từ 2 vai đưa thẳng xuống sát 2 bên hông, tay thẳng; thở ra bằng mũi, ngực ưỡn vai thả lỏng.
Chú ý: Có thể tập nhiều lần tùy sức, thả lỏng càng nhiều càng tốt. Động tác thật chậm rãi và hơi thở sâu từ từ, không gấp gáp như tập thể dục hoặc thể thao.
Sau khi tập xong, phải thở xả nhiều lần để trả nợ oxy (nợ rất ít): Hít vào bằng mũi phình bụng, thở ra bằng miệng thóp bụng, thời gian thở ra gấp đôi thời gian hít vào.
BS Lê Văn Vĩnh

Hot boy . . . hot beo - Nguyễn Quang Lập

Tuổi lấy chồng của con gái ngày mỗi cao, xưa quá hai mươi đã sợ ế chồng lo sốt vó, nay nhiều cô ba mươi tuổi vẫn nhởn nhơ như tuổi đang xuân, chưa đến bốn mươi chưa lo ế. Sở dĩ như vậy vì ngày xưa việc chồng con có cha mẹ lo, cứ đến tuần cập kê là cha mẹ đã sắp đặt cho một tấm chồng, may nhờ rủi chịu, khỏi phải lo lắng gì.


Ngày nay cha mẹ thả cho tự do chọn lựa, tưởng thế là sướng hoá ra gay cấn vô cùng, thằng mình ưa thì nó không ưa, đứa không ưa thì nó lại ưa. Vả, cô nào cô nấy đều ham trai thời thượng, nay gọi là hot boy xưa thì gọi là người yêu lý tưởng. Người yêu lý tưởng có một nhúm, con gái có cả đàn, phân phối làm sao cho đủ.

Người yêu lý tưởng cũng tuỳ theo thời thế mà đổi thay, thời này anh là hot boy thời sau anh chỉ là hàng tồn kho, chả ai thèm. Ở đâu không biết chứ ở ta thời này chuyển sang thời kia nhanh như chớp mắt, không thể lường trước được.

Những từ năm 60-70 thế kỉ trước người yêu lý tưởng là anh bộ đội. Có lẽ thời loạn, anh bộ đội nổi lên như mẫu người hùng, được xã hội yêu quí ngưỡng mộ. Thoạt kì thuỷ con gái hễ cứ thấy anh bộ đội là mê, sau biết phân biệt lính bộ binh, lính phòng không, lính hải quân, không quân, thiết giáp…Không quân là số 1, hải quân là số 2, bộ binh bị xếp vào hàng bét dem.

Phải cái các chị không biết phân biệt quân hàm quân hiệu. Trừ lính hải quân, còn lại thấy lính nào cũng giống lính nào. Ra đường gặp các anh bộ đội chọc ghẹo, mặt cứ hất lên ra vẻ lắm, nhưng vừa đi qua là lập tức túm lấy con nít tụi mình hỏi rối rít, nói răng răng, quân chi quân chi.

Mê quân này quân kia chán, các chị mới để ý đến chức vụ. Ai sống thời này đều nhớ như in câu hát em yêu anh trung uý, không yêu anh binh nhì một tháng năm đồng...Lương trung uý 75 đồng, thời mà cán bộ viên chức chỉ có 39 đồng năm hào thì 75 đồng là một đồng lương mơ ước. Sĩ quan thường mặc áo đại cán bốn túi, miền trung gọi là bâu, thế nên mới có câu: râu thì râu bốn bâu em cũng lấy.

Chị em nhìn quân hàm cứ mù mịt, chẳng biết chức gì ra chức gì, cứ tưởng nhiều sao là chức to, lắm khi bị hố điếng người. Một chị thấy anh đeo quân hàm ba sao đến chơi, mừng húm. Người nhà đi hỏi, ưa liền. Sau có người nói đồ gạch vải, không phải gạch đồng. Chị hoảng lên hỏi răng răng. Người này nói ba sao một gạch vải là thượng sĩ thôi, ba sao một gạch đồng mới là thượng uý, chị ngồi khóc sưng mắt. Lần sau có cô bạn nào sắp có chồng bộ đội chị đều nhắc gạch vải ẻ vô nha, nhiều sao cũng ẻ vô!

Một chị tiếp anh chuẩn uý ở phòng khách. Mạ chị đi chợ về, thấy quân hàm trọc lóc một gạch, bà đi qua lờ không chào, kéo chị vào phòng trong nghiến răng nói nhỏ răng ngu rứa con, hắn có sao đom mô mà yêu với đương, ngu ngu!

Chị nói mạ tề, một gạch đồng là chuẩn uý của người ta đó. Mắt bà sáng lên nói rứa a rứa a, quăng cái rổ chạy ra túm lấy tay anh chuẩn uý cười xoe xoe, nói con tới chơi đa con! Chuyến ni dứt khoát phải ở lại ăn cơm với nhà bác, không bác giận đó.

Một chị có anh thiêú tá đến chơi, chị cứ ngồi hất mặt lên, trả lời nhát gừng. Ba mạ chị cũng ngồi trong bếp không thèm ra chào. Chán, anh này bỏ về. Có người hỏi răng chị chê anh nớ. Chị trề môi nói đồ một sao quẹt quẹt. Sau biết một sao nhưng có hai gạch đồng là thiếu tá chị sững sờ, đập hai tay vào má kêu to: ui chao tui lại ngu rồi!

Kịp đến thời người yêu lý tưởng là lái xe. Đấy là những năm 70-80, thời này đói kinh hồn. Hậu chiến đói kém là phải, nhưng đói thế này chủ yếu là hậu quả của chế độ bao cấp, “cái gì cũng phân mà phân thì như cứt”, lại thêm ngăn sông cấm chợ khắp nơi. Phàm là hàng hoá không phải hàng quốc doanh đều bị coi là hàng lậu, cách nhau chừng vài trăm cây số giá cả có thể cách nhau chừng 4, 5 lần là chuyện thường.

Thành ra béo nhất là mấy anh lái xe, hễ ai cầm được cái xe nhà nước là coi như cầm được sự sống của cả nhà rồi. Cánh lái xe sống nhờ vào dân buôn lậu, ấm no cũng nhờ đấy mà ra. Càng ngăn sông cấm chợ thì dân buôn lậu và cánh lái xe càng béo. “ Ai ơi yêu lấy anh tài/ vào trong thịt cá ra ngoài bảnh bao”.

Hễ tài xế xuất hiện là dân tình đã lác mắt. “Quần ximili vừa đi vừa ngắm, dép tông Lào áo trắng thảnh thơi”. Mùa hè xe đỗ đường cái, con gái đi chơi từng tốp, lái xe bật đèn pha, các cô tay che mắt liếc, dẩu môi nói chi mà vô duyên rứa hè, cười cái, ngoảy đít cái, chạy. Qua khỏi bóng đèn thì túm tụm nhón chân nhìn qua cabin ngắm trộm lái xe, thì thầm trẻ hè trẻ hè.

Có cô nào được lái xe mời ngồi cabin, bụng hí hửng lắm, nhưng mặt làm bộ tỉnh bơ nhìn thẳng, cái cổ cứng ngắc, tay gác cửa xe. Thấy bạn quen thì thò cổ ra, kêu: nời, đi mô đó. Mấy bạn cô ngửa cổ nhìn cô đầy ngưỡng mộ, nói sướng hè sướng hè. Xe đi qua thì nhếch mép cười nhạt, người này nói đồ mặt như mặt mo mà cũng lấy được lái xe hà bay, người kia nói ừ đo, đúng là may hơn khôn, to l. hơn đẹp mặt.

Con gái trong xóm làm gì thì làm, không thể không đi qua ngõ nhà có xe tải đỗ một lần, mắt hất lên ra cái điều không thèm nhìn vào, mắt thì liếc xéo vào nhà, thấy cô con gái đang ti toe với anh lái xe thì mím môi bịp một cái như cái rắm, nói chà, báu lắm đó mà vênh! Thế nhưng hễ lái xe gọi một tiếng em ơi là lập tức mặt đỏ rực, cười tít, liếc một cái, rồi giả đò bỏ chạy, vừa chạy vừa ngoảnh lại, sung sướng ra mặt.

Cánh lái xe vào quán được coi là dân thượng lưu, được trọng vọng hơn cả lãnh đạo huyện. Trong làng có cô nào cưới được chồng lái xe, làng xóm bàn tán mê man cả tháng, chẳng khác gì con gái xưa vớ phải trạng nguyên.

Cùng thời này có một người yêu lý tưởng nữa là phó tiến sĩ đi tây về. Món phun thuốc sâu này ngày xưa là thứ bằng cấp quí hiếm, cao sang cực kì. Thời buổi Một yêu anh có may ô/ hai yêu anh có cá khô để dành thì cái bàn là, chiếc xe đạp cuốc, cái quạt tai voi…là cả một gia tài lớn, làm loá mắt các cô gái đẹp. Nếu trong nhà có ti vi neptune, tủ lạnh Saratop thì có thể cưới được hoa hậu.

Ở Hà Nội hồi này cứ chiều chiều các đồng chí phun thuốc sâu mặc quần zin Thái, áo bay Liên xô, đeo đồng hồ ponzot, cưỡi xe đạp cuốc lượn vè vè quanh Bờ Hồ, thỉnh thoảng nhả ra mấy câu tiếng Nga. Mỹ nhân Hà thành không cô nào không dán mắt vào gáy họ.

Nhà nào có được chàng rể là phun thuốc sâu ở Tây về đều lấy làm hãnh diện lắm. Khách đến nhà thấy cái tủ lạnh Saratop đặt giữa phòng khách, trên có bình hoa tươi; góc phòng còn có cái ti vi Peko, phủ tấm voan trắng; cạnh bàn uống nước đặt cái ấm điện mới coóng sáng loá; trên vách treo ảnh chàng rể đứng ở xứ tây, nụ cười rạng rỡ… ai nấy đều trầm trồ, nói nhà bác thật tốt phúc quá. Chủ nhà mỉm cười vẻ khiêm tốn, nói cháu nó nghiên cứu sinh ở Nga về, mình chẳng ham gì, chỉ ham ba cái chữ thôi bác. Ba tiếng nghiên cứu sinh hồi đó vang lên sao mà nghe sang quá đi mất.

Nhưng rồi phun thuốc sâu cũng chỉ tồn tại chưa đầy chục năm, những năm 80- 90 là thời kì của người yêu lý tưởng tàu viễn dương. Nhà nào có người được một suất đi tàu viễn dương thì cả phố cả huyện đều biết, nhà đó được tôn lên bậc vương giả.

Ở nhà mái bằng hai ba tầng, xài ti vi màu, đầu băng Nhật, đi hon đa cup 50, cup 70, cup 82 kim vàng giọt lệ… đều là của mấy nhà có người đi tàu viễn dương, tuyệt không có ai. Mấy hot boy lái xe, phó tiến sĩ cứ phải xách dép chạy dài.

Nhìn thấy cô nào tay đeo vòng vàng, đồng hồ Senko, cổ quàng dây chuyền vàng hạt ngọc, đi cup 82 kim vàng giọt lệ chạy thong dong trên phố thì cầm chắc đó là vợ con mấy bác tàu viễn dương. Mấy cô xách làn vào chợ, thong thả nhặt của ngon vật lạ chất đầy làn không thèm mặc cả, dưới cái nhìn thèm khát bốc cháy của không biết bao nhiêu ánh mắt đàn bà.

Cô lại xách làn thong dong đi ra, nhất định có người gọi, nói nời… chồng mới về à? Thể nào cô cũng dừng lại khẽ gật đầu, nói về đựơc vài ngày rồi lại đi, suốt đời lênh đênh trên biển vất vả lắm. Miệng nói thế nhưng mắt long lanh rạng ngời hạnh phúc.

Có lẽ đến người yêu lý tưởng tàu viễn dương là kết thúc các loại hot boy thời bao cấp, chuyển sang thời kinh tế thị trường là các doanh nghiệp trẻ, buôn lậu trẻ, quan lại trẻ, tham nhũng trẻ. Nhưng mấy hot boy này không được hot cho lắm.

Cuộc sống đã đổi thay, trí khôn đàn bà cũng đã thay đổi, họ biết lấy mấy ông giàu có nhờ trốn thuế nhờ tham nhũng phúc chưa kịp hưởng hoạ đã gần kề, hãi lắm. Nhưng không biết lấy họ thì chẳng biết lấy ai, kiếm đâu ra mấy anh ca sĩ, mấy chú đá bóng, mấy ông cai thầu, mấy bác đầu nậu, khó lắm.

Có lẽ vì thế mà tuổi lấy chồng ngày nay cứ tăng vọt chóng mặt, gái không chồng mà có con ngày một thêm nhiều. Thôi thì thà kiếm lấy đứa con ngoài giá thú nuôi lấy sau này còn nhờ cậy, hot boy hot beo, lý tưởng lý teo, mệt lắm.

Nguyễn Quang Lập(Bài viết cho Tuổi trẻ cười)
http://quechoablog.wordpress.com/2010/01/21/hot-boy-hot-beo/

27 thg 1, 2010

HAITI: Món nợ đạo đức !

Khi Haiti đang phải đối mặt với một trong những thảm họa khủng khiếp nhất trong lịch sử của mình, người ta lại đang tự hỏi: ai có lỗi ở đây?

Câu trả lời là không khó như một bài viết trên báo The Times, Anh ngày 21-1.

...Vào thế kỷ 18, Haiti từng được mệnh danh là “Hòn ngọc Antilles” và là nước xuất khẩu đường hàng đầu thế giới. Những người nô lệ Haiti đã phải làm việc kiệt lực trong những đồn điền và họ chết với một nhịp độ mà đôi khi Pháp phải nhập khoảng 50.000 nô lệ mỗi năm để duy trì số lao động và lợi nhuận của mình.

Từ chính những lý tưởng của Cách mạng Pháp, năm 1791 những người nô lệ đã nổi dậy và sau một cuộc chiến tranh giải phóng đẫm máu, cuối cùng quân đội của Napoleon đã thất bại và Haiti tuyên bố độc lập vào năm 1804.

Nhưng nước Pháp đã không dễ tha thứ cho sự “hỗn xược” đã khiến nước Pháp phải trả giá bằng 800 đồn điền trồng mía và 3.000 đồn điền trồng cà phê. Một cuộc cấm vận ngặt nghèo được áp đặt cho đảo quốc này.

Năm 1825, để nhìn nhận nền độc lập của Haiti, Pháp đòi đất nước này bồi thường 150 triệu franc vàng, gấp năm lần toàn bộ nguồn thu hằng năm từ xuất khẩu của Haiti. Đòi hỏi này được Paris chuyển đến kèm theo 12 chiến thuyền và 150 khẩu pháo.
Và Haiti đã phải mua sự tự do của mình với cái giá nặng nề phải trả trong 122 năm. Thậm chí cho đến khi số tiền bồi thường này được rút lại 90 triệu franc thì đảo quốc này vẫn tiếp tục bị đè bẹp dưới món nợ chồng chất.

Haiti đã phải vay nợ nặng lãi từ các ngân hàng Mỹ, Đức và cả Pháp. Thử so sánh: Pháp đã nhường Louisiana - vùng đất rộng gấp 74 lần so với Haiti - cho Mỹ với số tiền 60 triệu franc.

Bởi vậy, nhà nước Haiti trên thực tế đã ra đời trong khánh kiệt. Năm 1900, tiền trả nợ vẫn luôn chiếm đến 80% ngân sách quốc gia. Haiti vẫn cứ phải còng lưng trả nợ mãi cho đến năm 1947.

Nền kinh tế Haiti luôn bị mất cân đối, rừng bị tàn phá và người dân sống trong cùng cực đói nghèo, trong bất ổn chính trị và kinh tế cùng những tàn phá của thiên tai và nhân tai. Năm 2003, chính quyền Haiti yêu cầu Pháp đền bù 22 tỉ USD do chính sách pháo thuyền đã biến thuộc địa giàu có này thành một nước nghèo nhất Tây bán cầu.

Sau trận động đất ngày 12-1-2010 mà những hậu quả càng trở nên nặng nề hơn bởi nền kinh tế mong manh của đảo quốc này, Pháp đã liên tục nhận được những tiếng kêu gọi nước Pháp trả món nợ đạo đức cho Haiti. Nhưng những tiếng kêu ấy không thấu đến Paris.

Theo quan điểm của điện Élysée, chuyện nợ nần của Haiti đã khép lại vào năm 1885. Năm 2004, tổng thống Pháp Chirac đã cho thành lập một ủy ban để xem xét quan hệ giữa Pháp và cựu thuộc địa này của mình. Kết luận của ủy ban: đòi hỏi bồi thường của Chính phủ Haiti “không thích đáng cả về mặt lịch sử lẫn pháp lý”.

Vào lúc Haiti đang bị đe dọa bởi sự hỗn loạn xã hội, sự tê liệt của bộ máy chính quyền và tình trạng bạo lực tràn lan sau động đất, bộ trưởng tài chính Pháp lại kêu gọi nhanh chóng xóa nợ cho đảo quốc này. Quả là sự oái oăm của lịch sử! Bởi nếu nước Pháp không bóp nghẹt đất nước này dưới núi nợ nần ngay từ khi ra đời, chắc Haiti cũng còn có chút sức lực để đối mặt với thảm họa thiên nhiên này.

Bài báo kết luận: “Chính sách thực dân đã đầu độc quan hệ của khá nhiều nước trên thế giới nhưng ít có nước nào như Haiti, nơi mà những khủng khiếp của hiện tại lại gắn liền trực tiếp với những sai lầm quá khứ đến như vậy. Nước Pháp có thể giúp hàn gắn những vết thương của Haiti bằng cách chỉ cần nhìn nhận trách nhiệm lịch sử của mình trong bi kịch mà những người dân nước này đang là những nạn nhân. Thế nhưng, nước Pháp lại đã không trả nợ cho những sai lầm quá khứ của mình”.

Trả món nợ đạo đức đối với quá khứ, đúng là bài học khó nuốt cho thực dân cũ và cho cả thực dân mới!
====================
CHÚ THÍCH: 150.000 người thiệt mạng vì động đất ở Haiti
Chính quyền Haiti đưa ra báo cáo sơ bộ cho biết số người thiệt mạng do vụ động đất là hơn 150.000 người. Theo New York Times, hiện chưa biết làm thế nào mà chính quyền Haiti có con số này vì số người chết tăng nhanh từ 111.000 lên 120.000 và rồi 150.000. Bộ trưởng Văn hóa và truyền thông Marie-Laurence Jocelyn Lassegue nói 150.000 là số người đã được chính quyền chôn cất trong 11 ngày qua, không tính những người còn mắc kẹt dưới đống đổ nát.

Cho đến nay các cơ quan cứu trợ quốc tế và các quan chức đều cho rằng nên tập trung nỗ lực giúp đỡ những người sống hơn là đếm số người đã chết.
Trong khi đó chương trình từ thiện “Hope for Haiti” (Hi vọng cho Haiti) tối 22-1 của các ngôi sao tại Los Angeles, Mỹ đã gây quỹ được con số kỷ lục: 58 triệu USD.

Nguồn: TTO 25/01

Mêkong: Cuộc sống chẳng còn là dòng sông êm ả

Bài của Thomas Fuller (The New York Times) – in lại trên tuần báo Courrier international ngày 20-01-2010 – PT dịch
Càng ngày càng có thêm nhiều dự án ngăn dòng trên con sông Mêkông. Phát triển kinh tế lại thành ra phương hại đến tương lai ngư dân và cuộc sống muôn thuở dọc đôi bờ sông, tờ New York Times viết.


Những thúng cá, những người dân làng bơi lội tắm táp, một cái chợ bán đủ thứ kiếm được từ rừng sâu: đó là những kỷ niệm ấu thơ của Pornlert Prompanya về con sông Mêkông hoang dã xưa. Bây giờ, người đàn ông 32 tuổi ấy tổ chức những chuyến du lịch dọc con sông Mêkông với bộ mặt hoàn toàn khác: ở Sop Ruak, nơi biên giới với Thái Lan và Myanmar, một sòng bạc mới toanh có mái vòm giát vàng giang tay đón những con bạc cỡ bự từ xe ô tô hòm đen bước xuống.

Dòng sông biến đổi thật nhanh, do kinh tế phát triển, do những nhu cầu về điện của vùng này và nhu cầu vận chuyển hàng hóa. Ngay cả khi con sông này chưa bị ô nhiễm gây hoại thư như vô số con sông châu Á khác, sông Mêkông cũng chẳng còn là dòng chảy êm ả như cách đây nhiều thế kỷ nữa.

Trung Hoa đã xây dựng ba con đập, và con đập thứ tư đang xây sẽ là con đập cao nhất thế giới. Nước Lào có kế hoạch xây trên sông Mêkông và các chi lưu của sông này vô số đập thủy điện – bẩy mươi dự án cả thẩy, trong đó bẩy dự án đã hoàn thành – và các nhà cầm quyền ở đây đã tuyên bố nước Lào thành “cục pin của châu Á”. Sau hết, Nước Campuchia có kế hoạch xây hai con đập. Giấc mơ của các n hà thực dân Pháp dùng con sống như cửa ngõ bước vào đất Tầu đã được thực hiện từng phần: sau khi các kỹ sư Tầu dùng thuốc nổ phá cả loạt thác ghềnh vào đầu những năm 2000, tình hình thương mại theo đường sông giữa Trung Hoa và Thái Lan đã tăng lên gần 50%. Các nhà sinh thái lo ngại rằng những dự án này sẽ tiêu diệt các nguồn thu nhập của cư dân sống nhờ vào sông Mêkông đã nhiều thế kỷ nay. Những phương diện bị phê phán nhiều hơn cả của các con đập này là vấn đề tác đông của chúng tới những đàn cá di cư và việc trồng lúa ở vùng đồng bằng Việt Nam, nơi tập trung hơn một nửa năng lực trồng trọt của nước này. Thật vậy, nền nông nghiệp vùng đồng bằng sông Mêkông vốn được hưởng lợi từ phù sa con sông đầy chất dinh dưỡng nay đã bị các con đập của người Tầu giữ lại. Theo tính toán của các chuyên gia, các con đập sẽ chặn đứng một tỷ lệ phù sa lớn hơn nữa cùng với vô số giống cá, điều đó gây tai họa cho hoạt động nuôi trồng thủy sản, và Ủy ban sông Mêkông, một cơ quan tư vấn do các chính phủ Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam thành lập năm 1995, đã ước tính lên đến 2 tỷ đô-la.

Theo một công trình nghiên cứu tiến hành năm 2006, trong hàng trăm giống cá sống trên con sông này, thì 87% là cá di cư.

“Những con đập đặt ra những vấn đề vô cùng lớn đối với sáu chục triệu dân sống trong lưu vực sông Mêkông”, Milton Osborne, nghiên cứu viên được mời tới Viện nghiên cứu chính trị quốc tế Lowy ở Sydney, đồng thời là tác giả nhiều công trình về sông Mêkông. “Con người ở đây bị gắn chặt vào với con sông này.” Theo một số nhà phân tích, việc gia tăng mạnh mẽ các con đập trên sông Mêkông có thể gây ra xung đột mang tầm quốc tế. Có những phong trào công dân Thái tỏ ra bất bình trước vẻ dửng dưng của Trung Hoa trước những hệ quả do các công trình của họ gây ra cho người dân sống dưới hạ lưu con sông này.

Cả Trung Hoa lẫn Myanmar – hai quốc gia nằm cao trên thượng lưu con sông – đều không phải là thành viên của Ủy ban sông Mêkông, điều này khiến họ không bị buộc phải hỏi ý kiến các nước khác đối với những vấn đề chẳng hạn như việc xây đập và phân chia nguồn nước. Thế nhưng, giờ đây, chuyện các con đập vẫn không thành mối quan tâm mang tính chất quốc gia của bất kỳ nước nào có con sông này chảy qua. Không thấy xảy ra ở những nước này bất kỳ phong trào phản đối lớn nào, và đối với rất nhiều con người trong vùng, thậm chí lại còn coi việc xây cất đó là biểu hiện của sự tiến bộ. Sự phát triển của sông Mêkông cũng là biểu hiện của một châu Á mới, cuối cùng đã thoát khỏi những xung đột ý thức hệ làm tê liệt họ. Theo Pornlert Prompanya, dẫu sao thì cái ngôi làng thời thơ ấu của ông nay đã trở thành chốn đô thị đón du khách trong những khách sạn và nhà hàng sang trọng, các mặt tiêu cực của vấn đề xem ra vẫn lớn hơn những mặt tích cực. Ông nói rằng con sông bây giờ hành xử bất ưng khó đoán trước được, câu con cá cũng khó và tắm thì chẳng có gì thú vị nữa, bởi vì dòng sông “quá bẩn và quá ô nhiễm”. “Xưa kia, mực nước sông thay đổi theo mùa”, ông nói thêm. “Bây giờ đây, mực nước này tùy thuộc vào việc Trung Hoa cần dùng của nó bao nhiêu nước.”

Tham khảo
Sông Mêkông chạy qua Đông Nam châu Á với chiều dài khoảng 4 900 kilomet. Nó bắt nguồn từ đỉnh Himalaya rồi chảy xuống miền Nam Trung Hoa, Myanmar, Tháï Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam trước khi đổ ra mạn Nam của biển Đông. Kể từ khi Trung Quốc xây con đập đầu tiên, rất nhiều chủng loại sinh vật như cá heo và cá heo sông Mêkông đang trên đường tuyệt diệt, mực nước thì bị hạ thấp, con cá câu lên đều nhỏ và ít hơn rất nhiều. Ở nhiều chỗ, dòng chảy quá mạnh, do phá ghềnh thác, phá các bãi cát và mở rộng các khúc sông hẹp. Campuchia là quốc gia lệ thuộc hơn cả vào dòng chảy và các trận lụt của con sông này: người ta e ngại có thể xảy ra nạn đói vì thế. Tất cả các thành phố lớn của Lào đều nằm bên sông, và thành phố lớn quan trọng của Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh, đã bị đe dọa vì dòng chảy sông Mêkông không đủ mạnh và còn bị ô nhiễm nữa.

22 thg 1, 2010

Một mã số cá nhân, tại sao không?

Người dân chưa hết xôn xao do bị hư hao quyền lợi từ cú đổi 50 triệu thẻ BHYT theo luật mới thì 17 triệu chủ thẻ ATM của một ngân hàng lại phải bỏ việc xếp hàng chờ… đổi thẻ do sợ trùng mã BIN.


Gần hơn là chuyện ba triệu chủ thuê bao di động trả trước bị trùng dữ liệu CMND, hộ chiếu hết vía vì tuyên bố “cắt liên lạc” và “chuyển công an điều tra”. Trước đó là việc hàng triệu người lao động lo lắng mất 10% thu nhập do chưa được cấp mã số thuế cá nhân, rồi bảy triệu tài xế ô-tô bàn tán về chuyện đổi giấy phép lái xe…

Không chuyên gia hành chính nào có thể khẳng định sắp tới sẽ chấm dứt cảnh cả xã hội xếp hàng làm thủ tục như vậy, bởi thực tế trước nay là tất cả các ngành (nhất là công an) đang phải ban hành các quy định về quản lý căn cứ trên khá nhiều dữ liệu khả biến!

Trong một xã hội phát triển, các dữ liệu về nơi ở, nơi làm việc, nơi đóng bảo hiểm, nơi thanh toán… luôn biến động. Nếu các công cụ quản lý được thiết kế theo nó thì dĩ nhiên sự lạc hậu, chồng chéo, sai lệnh… luôn diễn ra dẫn tới việc chuyển đổi không bao giờ ngừng lại.

Các nước phát triển có giải pháp khá đơn giản. Mỗi con người ngay từ khi sinh ra đã được cấp một MÃ SỐ CÁ NHÂN, bao gồm những dữ liệu bất biến, như người cha, người mẹ, nơi sinh, nhóm máu… Mã số này được các ngành liên quan sử dụng làm căn cứ để thiết kế các công cụ quản lý cho mình, như quản lý thuế, mở tài khoản, cấp bằng lái xe, mở sổ an sinh xã hội, làm hộ chiếu v.v…

Ở Việt Nam chưa có một ngành nào đảm nhiệm việc cấp mã số cá nhân như thế. Chính vì không có một mã chuẩn, nhưng do nhu cầu thực tế, các ngành vẫn cần công cụ quản lý nên mạnh ai nấy cấp dẫn tới hiện tượng các công cụ này thay đổi liên tục như trên. Thậm chí, ngay cách thức quản lý nhân khẩu của ngành công an cũng bộc lộ hạn chế khi một con người có thể có nhiều số CMND (do chuyển vùng), nhiều số hộ chiếu (do hết hạn) dẫn tới lúng túng cho các ngành khác khi lấy các số liệu này làm chuẩn.

Bất cập này đã bị phát hiện, song bế tắc về giải pháp khi ngành này không thừa nhận cơ sở dữ liệu của ngành kia, dẫn tới hiện tượng ví tiền của người dân giờ đây chứa đầy các loại thẻ mà giao dịch thì vẫn bất cập!

Mẫu giấy khai sinh mà Bộ Tư pháp đang quản lý, tại sao không đánh số sê-ri như tiền và coi con số đó là CHUẨN đối với một con người để mà từ đó có một sự khởi đầu?

Bút Lông Site

Tập đoàn kinh tế và chợ làng

Câu chuyện mấy doanh nghiệp viễn thông “mặc cả” với EVN về giá thuê cột điện tưởng chỉ là “việc riêng” của mấy doanh nghiệp (DN) nhà nước với nhau, nay nó bỗng thành chuyện của công chúng khi VNPT và Viettel bắt tay nhau đòi trồng cột.


Do điều kiện lịch sử mà lâu nay EVN độc quyền tuyệt đối trong việc trồng và cho thuê cột điện trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Chính vì thế khi EVN tăng giá treo cáp lên nhiều lần thì không chỉ VNPT, Viettel… mà nhiều đơn vị “có dây” khác đồng loạt kêu cứu. Bộ Công thương, Bộ Thông tin & Truyền thông đã phải “xắn tay áo” cùng giải quyết nhưng không xong, bởi tranh chấp kinh tế thì khó mà dùng được áp lực hành chính.

Người dân chỉ thắc mắc, giá cao hay thấp thì đều là “nhà nước”, túi này bỏ sang túi kia thôi, sao cứ “cãi nhau” hoài? Nhưng sự thực không thế, EVN ngợp trước doanh thu tới gần 80.000 tỷ đồng (lãi tới cả chục nghìn tỷ đồng) của VNPT và Viettel nên lý sự sao lại “tiếc” vài trăm tỷ “chia sẻ” chi phí trồng và bảo dưỡng cột… Bộ Tài chính, Bộ Thông tin & truyền thông bối rối vì văn bản liên quan (chính sách hiệp thương giá, Luật Viễn thông) đề cập đến vấn đề này cái thì đang soạn thảo, cái thì chưa có hiệu lực.

Thế là trong lúc chờ, mới đây VNPT và Viettel đã bàn bạc đến việc… trồng cột xài chung, bởi cuộc mặc cả với EVN khó đến hồi kết.

To chuyện rồi!

Người Hà Nội, TP HCM và các đô thị khác làm sao chịu nổi nếu trên đường phố vốn đã chật hẹp lại mọc thêm những hàng cột mới. Hơn nữa, chi phí trồng và duy tu cột, nếu không bổ vào đầu người dùng dịch vụ viễn thông thì hạch toán vào đâu?

Cả nước có vài tập đoàn kinh tế nhà nước, nhưng số này nắm trong tay hầu hết các nguồn lực mạnh nhất như ngân sách, tín dụng ưu đãi, đất đai, máy móc thiết bị, tài nguyên khoáng sản… và nhất là thương quyền kinh doanh tuyệt đối. Dĩ nhiên, khi hưởng những lợi thế bất khả xâm phạm đó, người dân đòi hỏi các đơn vị kinh tế này phải có nghĩa vụ tương xứng trở lại đối với xã hội, chứ không thể hơi tý cãi cọ nhau như hàng tôm, hàng cá tranh chỗ chốn chợ làng!

Phong cách đó ra “biển lớn” thế nào đây?

Chính phủ từng yêu cầu các tập đoàn bán ngoại tệ cho ngân hàng vì lợi ích chung. Nếu chuyện thuê cột mặc cả không xong, vì lợi ích chung, hoàn toàn có thể sử dụng lại cách thức này.

Cách đó không xong nữa thì tại sao không tước toàn bộ số cột điện EVN đang quản lý, giao cho một đơn vị độc lập tổ chức chào thầu công khai mà EVN hay VNPT, Viettel sẽ chỉ là người đi thuê?

Blog BútLông

14 thg 1, 2010

Loạt ảnh ở Phú Lâm, đám giỗ BA

Ngày thứ bảy, 09/01/2010 đám giỗ BA, từ Long Xuyên về Phú Lâm với vợ chồng Trúc, chụp vài tấm ảnh kỷ niệm gửi lên đây:


XIN NHẤN VÀO ĐÂY XEM SHOW TRÌNH DIỄN (Hơi bị lâu)
Hoặc là nhấn chuột vào ảnh dưới để xem toàn Album :
Photobucket

Chùm ảnh du lịch Huế năm 2008

Chùm ảnh du lịch Huế năm 2008.

Nhấn vào ảnh dưới để xem toàn album :
Photobucket

Chùm ảnh Trúc Quân năm 2008


Nhấn vào ảnh dưới để xem toàn Album Trúc Quân:

Photobucket

Sông Mêkông có nguy cơ bị tác hại thêm từ các đập nước do Lào và Campuchia dự trù xây dựng ở hạ nguồn

Nếu Lào và Cam Bốt xúc tiến việc xây dựng đập Don Sahong và Sambor ở hạ nguồn, nguồn cá trong dòng Mêkong có nguy cơ cạn kiệt. Cộng thêm với tác hại đến từ các công trình thủy điện của Trung Quốc trên thượng nguồn và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tương lai con sông Cửu Long trở nên thật u ám.

Vốn đã phải gánh chịu hệ quả từ các đập chắn do Trung Quốc dựng lên trên thượng nguồn, dòng Mêkông còn có nguy cơ bị tác hại thêm nếu Lào và Cam Bốt xúc tiến các công trình xây dựng hai đập thủy điện mới dưới hạ nguồn với sự giúp đỡ cũng của Trung Quốc. Cộng thêm với ảnh hưởng đã được dự báo của hiện tượng biến đổi khí hậu, tương lai con sông lớn nhất Đông Nam Á quả là không mấy tươi sáng.

Trên đây là phân tích của giáo sư Úc Milton Osborne, trong một bài viết mang tựa đề : Sông Mêkông bị đe dọa (The Mekong River Under Threat), đăng trên tập san trên mạng Japan Focus ngày 11/01/2010. Bài viết này trích từ một công trình nghiên cứu của giáo sư Osborne được Viện Nghiên Cứu Úc Lowy institute công bố cuối năm 2009.

Trung Quốc là thủ phạm đầu tiên gây tác hại cho sông Mêkông

Cho đến đầu thập niên 1980, dòng Mêkông chảy từ Trung Quốc, Miến Điện, qua Thái Lan, Lào, Cam Bốt rồi xuống Việt Nam vẫn không thay đổi gì nhiều so với hơn một thế kỷ trước đó, khi bản đồ con sông được người Pháp hình thành. Thế nhưng, từ những năm 1980, đặc tính của con sông ngày càng bị thay đổi, dưới tác động đồng thời của hai vế trong chương trình ''phát triển'' mà Bắc Kinh tiến hành.

Trước hết là chủ trương phá ghềnh thác, nạo vét lòng sông để khai thông tuyến đường thủy đi từ Vân Nam (miền Nam Trung Quốc), xuống đến tận cảng sông Chiang Seen (miền Bắc Thái Lan). Hiện nay tuyến lưu thông này đã đi vào hoạt động, nhưng đến giờ này, theo giáo sư Osborne, ảnh hưởng của việc mở tuyến đường đường thủy này còn ở mức hạn chế.

Tác hại to lớn hơn đối với sông Mêkông tuy nhiên lại đến từ chương trình thứ hai của Bắc Kinh : xây dựng một loạt đập thủy điện ở vùng Vân Nam, trên thượng nguồn dòng sông. Tính đến đầu năm 2010 này, đã có ba con đập đi vào hoạt động và hai con đập cực lớn khác đang thi công, dự trù hoàn tất vào năm 2012 và 2017. Chưa hết, kế hoạch này còn bao gồm ít nhất hai đập thuỷ điện khác, và cho đến năm 2030, một hệ thống 7 con đập "bậc thềm" có thể xuất hiện tại vùng Vân Nam.

Theo giáo sư Osborne, không cần chờ đến năm 2030, với 5 con đập hiện hữu cũng như sắp hoàn thành, Trung Quốc sẽ có thể điều hoà dòng chảy con sông, giảm bớt lưu lượng nước vào mùa mưa hay nâng cao mức nước vào mùa khô.

Vấn đề là Bắc Kinh không hề tham khảo ý kiến các quốc gia hạ nguồn khi tiến hành xây đập. Cho dù hiện nay tác hại của các con đập đã hoạt động còn giới hạn, nhưng theo giáo sư Osborne, chỉ nội trong một chục năm tới đây, tình hình sẽ biến đổi theo chiều hướng xấu đi với việc toàn bộ năm con đập của Trung Quốc đi vào hoạt động.

Và cái giá phải trả cho môi trường sẽ còn tăng lên gấp bội nếu một số đập thủy điện khác ở hạ nguồn sông Mêkông được xây dựng.

Tác hại từ các con đập của Trung Quốc

Theo thẩm định của giáo sư Osborne, hệ thống các con đập bậc thềm của Trung Quốc trên thượng nguồn rốt cuộc sẽ tác hại nghiêm trọng đến hoạt động của sông Mêkông một khi các con đập này được dùng để kiểm soát lưu lượng của dòng nước.

- Thủy lưu dòng sông sẽ bị thay đổi khiến cho mùa nước lũ hàng năm không còn đến đúng vào thời điểm như trước, tác hại đến tập quán sinh sản và di cư của các loài tôm cá.

- Lượng phù sa đổ xuống vùng đồng bằng ở hạ lưu con sông cũng bị chận lại. 50% phù sa của sông Mêkông đến từ Trung Quốc. Theo các chuyên gia, phù sa cho đóng một vai trò quan trọng trong ngành sản xuất nông nghiệp tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long chẳng hạn. Phù sa cũng tác động đến sự di cư của loài cá.

- Phù sa bớt đi cũng làm gia tăng hiện tượng sói mòn hay sạt lở đất ở hai bên bờ sông.

Đối với giáo sư Milton Osborne, tác hại từ các con đập Trung Quốc đã đáng ngại rồi, nhưng ảnh hưởng của các đập nước trên dòng chảy chính của sông Mekong dưới hạ nguồn còn tai hại hơn rất nhiều.

Dù không chưa có có động tĩnh gì chắc chắn, nhưng trong vòng ba năm gần đây, các bên liên can đã ký biên bản ghi nhớ dự trù xây dựng khoảng 11 đập thủy điện : 7 ở Lào, 2 ở giữa Lào và Thái Lan, và 2 ở Cam Bốt.

Các con đập ở hạ nguồn sẽ triệt hạ nguồn cá nuôi dân

Các dự án này được các tập đoàn tư nhân và nhất là các công ty dựa vào Nhà nước Trung Quốc sẵn sàng tài trợ. Tình trạng bưng bít thông tin tại Lào và Cam Bốt khiến cho không ai có thể biết được là đập nào sẽ được xây dựng trước. Tuy nhiên công luận hiện đang rất quan ngại trước khả năng hai con đập được xây dựng : Don Sahong ở Nam Lào và Sambor ở Đông Bắc Cam Bốt. Lý do khiến mọi người lo ngại là một khi được hoàn thành, hai con đập này có thể ngăn chặn luồng di cư của cá vốn là nguồn cung cấp lương thực quan trọng cho dân Lào và Cam Bốt.

Đối với giáo sư Osborne, các con đập trên thượng nguồn có thể sẽ không tác hại nặng nề lên nguồn cá. Ngược lại, các công trình ở hạ nguồn, đặc biệt ở Don Sahong và Sambor thì sẽ ảnh hưởng rất lớn. Giơi chuyên gia hiện nay đều nhất trí cho rằng nếu hai con đập kể trên được xây dựng, thì đường di cư của cá sẽ bị ngăn chặn hoàn toàn mà không có phương cách nào giải quyết ổn thỏa được.

Tất cả các biện pháp dự trù cho đến nay để giúp cho cá vượt qua đập chắn như làm bậc thang, làm giỏ kéo lên hay đào kênh thay thế đều không thích hợp đối với chủng loại cá sinh trưởng trong dòng Mêkông, cũng như lượng sinh khối to lớn gắn liền với chu kỳ di cư của các loài cá đó.

Tại đập Pak Mun nằm trên một phụ lưu của sông Mekong ở Thái Lan, vào thập niên 1990, người ta đã thử sử dụng phương thức làm bậc thang cho cá vượt, nhưng thử nghiệm này đã thất bại.

Tại sao chính quyền Lào và Cam Bốt lại nghĩ đến việc xây dưng các con đập nói trên, bất chấp tác hại khôn kể đối với nguồn lương thực cho cư dân của họ ? Theo giáo sư Osborne, câu trả lời khá phức tạp và phải kết hợp nhiều yếu tố như sự thiếu hiểu biết của một số cấp chính quyền, thái độ sẵn sàng bác bỏ những thông tin hiện hữu, viện cớ rằng các nguồn tin này có thể không chính xác, hoặc là quan điểm cho là nghề cá đã "lỗi thời", trong lúc thuỷ điện là "hiện đại".

Trong trường hợp Cam Bốt, và đặc biệt là trường hợp đập Sambor, sự kiện một tập đoàn Trung Quốc muốn xây dựng công trình này có lẽ giải thích được vì sao thủ tướng Hun Sen sẵn sàng bật đèn xanh cho đề án. Ông Hun Sen không muốn làm phật lòng Trung Quốc, nước viện trợ hàng đầu cho Cam Bốt đồng thời là ''người bạn đáng tin cậy nhất'' của Phnom Penh.

Còn tại Lào, cũng theo giáo sư Osborne, việc đề xuất xây đập Don Sahong đa phần gắn với các lợi ích của gia tộc Siphandone đầy quyền thế tại nước này, mà khu vực miền Nam gần như là lãnh địa của họ.

Trong số các địa điểm được chọn để xây đập thuỷ điện, có lẽ Don Sahong là nơi được nghiên cứu kỹ luỡng nhất trên bình diện nghề cá. Vì thế có thể nói không sợ sai lầm là đề án này nếu được xúc tiến, sẽ tàn phá hệ thống di cư hàng năm của các loài cá, vừa ngược dòng, vừa xuôi dòng.

Tác hại từ đập nước cộng hưởng với tác động của biến đổi khí hậu

Theo giáo sư Osborne, các mối lo ngại về tác hại đến từ các đập thủy điện tại Trung Quốc hay dưới hạ nguồn sông Mêkông lại càng gia tăng khi người ta xét đến hiện tượng biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng nặng nề lên các quốc gia thuộc vùng lưu vực. Các công trình nghiên cứu đều gợi lên các thách thức về mặt sinh thái đối với dòng Mêkông.

Cho đến gần đây, mối lo ngại tập trung trên hiện tượng sông băng trên đỉnh Himalaya tan nhanh, ảnh hưởng đến lưu lượng dòng Mêkông bắt nguồn từ đấy. Thế nhưng, một số nghiên cứu gần đây đã chú tâm đến một mối đe dọa gần gũi hơn : hiện tượng nước biển dâng lên, nhất là khi những mảng lớn của Đông bằng sông Cửu Long tại Việt Nam bị nguy cơ ngập lụt.

Đến nay, chưa ai có thể xác định rõ là mối đe dọa do nước biển dâng sẽ tắc động như thế nào đến các yếu tố khác bắt nguồn từ biến đổi khí hậu, như sự kiện mưa lũ ngày càng nhiều tạo ra ngập lụt trong mùa mưa chẳng hạn. Thế nhưng, các công trình nghiên cứu đang cho thấy khả năng lượng mưa gia tăng, khiến cho lũ lụt xẩy ra ngày càng nhiều trong tương lai, có thể là từ nay đến năm 2030.

24 thg 12, 2009

Nhiếp ảnh Việt ngày càng cũ mòn

Nhìn vào các cuộc thi ảnh trong nước với sự bảo trợ của Hội NSNAVN thấy rõ ràng sự đi xuống của chất lượng ảnh. Sự sáng tạo có thể nói là “dậm chân tại chỗ” . Các chủ đề, đề tài gần như không thay đổi cho dù đã nhiều năm trôi qua: Việt Nam, đất nước, con người.

Hội nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam (NSNAVN)-Vietnam Asociation of Photographic Artists (VAPA), chính thức thành lập tháng 12/1965. Ngày 8-9/12/1965, Đại hội lần thứ I Hội NSNAVN được tổ chức tại Hà Nội với 71 thành viên sáng lập. Ngày 22-24/12/2009, Đại hội nhiệm kỳ thứ 7 Hội NSNAVN được tổ chức tại Hà Nội với trên 500 đại biểu thay mặt cho hơn 800 NSNA trong toàn quốc.

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam - Anh là ai?

Hội NSNAV ban đầu là Đoàn nhiếp ảnh thuộc Hội Văn nghệ VN được thành lập ở chiến khu Việt Bắc thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ngày 15/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành sắc lệnh 147-SL, thành lập "Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh VN”. Đây chính là đánh dấu sự có mặt của những người làm nghề nhiếp ảnh, trong đó có những NSNAVN bước vào đời sống văn hóa nghệ thuật, góp phần vào công cuộc kháng chiến và kiến quốc của đất nước.

Sau Hiệp định Geneve năm 1954, các NSNAVN từ nhiều nguồn đã chung tay đoàn kết phục vụ sự nghiệp chung của đất nước, xây dựng XHCN ở Miền Bắc và cùng đồng bào Miền Nam đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.

Tháng 2/1957, đại hội Văn nghệ toàn quốc họp tại Hà Nội, Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật VN ra đời, trong đó có nhiếp ảnh, lúc đó là “Ban liên lạc NSNAVN”. Và với nhiều hoạt động tích cực đóng góp cho nền nghệ thuật nhiếp ảnh VN, họ đã khẳng định được sự có mặt và vị trí đối với nền văn hóa nghệ thuật VN. Tháng 12/1965, Hội NSNAVN được thành lập.

Hình minh họa. Tên ảnh: Don Quảng Ngãi (tác giả: Nguyễn Văn Đảnh).
Nguồn ảnh: suutamvagioithieu.com

Kể từ đó, qua 6 kỳ đại hội vào nhiều thời điểm khác nhau trong diễn trình lịch sử của đất nước, các NSNAVN đã đồng hành cùng nhân dân và dân tộc. Thời kỳ chiến tranh, NSNAVN cũng là chiến sĩ, không chỉ làm tốt nhiệm vụ người nghệ sĩ-chiến sĩ với tổ quốc mà còn góp phần chuyển những thông điệp lên án chiến tranh phi nghĩa, khơi gợi tinh thần yêu chuộng hòa bình của bạn bè 5 châu 4 biển ủng hộ cuộc kháng chiến giành độc lập và tự do, thống nhất VN.

Thời kỳ hòa bình, họ cũng đã góp phần làm đẹp, làm phong phú thêm cuộc sống tinh thần của xã hội, hơn nữa còn góp phần đưa hình ảnh VN ra với bạn bè quốc tế giới thiệu những vẻ đẹp của đất nước, con người, văn hóa VN… Những giải thưởng ảnh trong nước và quốc tế mà NSNAVN đọat được khó đếm hết. Đó cũng là minh chứng cho sự trưởng thành và vị trí của NSNAVN trong đời sống văn hóa nghệ thuật.

Nhưng không thể tự ru ngủ thỏa mãn hay quá tự tin vào những gì mà NSNAVN đạt được qua các giải thưởng, nhất là từ năm 2005 - nhiệm kỳ 6 của Hội NSNAVN đến nay, để nói rằng nghệ thuật nhiếp ảnh VN đang sánh vai với các quốc gia phát triển khác.

Nhìn vào các cuộc thi ảnh trong nước với sự bảo trợ của Hội NSNAVN thấy rõ ràng sự đi xuống của chất lượng ảnh. Sự sáng tạo có thể nói là “dậm chân tại chỗ” . Các chủ đề, đề tài gần như không hề thay đổi cho dù đã nhiều năm trôi qua: Việt Nam, đất nước, con người.

Ảnh đoạt giải vẫn cứ nhà máy, cánh đồng, bà già, người dân tộc, ruộng bậc thang, những cảnh đẹp thiên nhiên bất di bất dịch…. Chỉ khác là ảnh ngày càng được photoshop kỹ càng, nhìn bắt mắt hơn, nhưng giả tạo và vô lý cũng nhiều hơn... Quan trọng nhất là ảnh đoạt giải ít được ai nhớ.

Nhìn vào các giải thưởng quốc tế, thì hầu như các NSNAVN chỉ loanh quanh với các cuộc thi do FIAP- Liên đòan nhiếp ảnh nghệ thuật quốc tế, hay PSA- Hội Nhiếp ảnh Mỹ bảo trợ. Và ảnh mang đi thi, phần lớn là sự lặp lại, ít ảnh mới, cho nên nếu nhìn vào số lượng giải thưởng thì nhiều nhưng số ảnh thì không bao nhiêu - 1 ảnh có thể đạt vài chục giải thưởng ảnh do FIAP bảo trợ.

Còn như ở các cuộc thi của những tập đoàn về nghệ thuật nhiếp ảnh, các bảo tàng nghệ thuật danh tiếng quốc tế… bảo trợ thì chỉ thường thấy có NSNA quốc tịch ngoại gốc Việt –Việt kiều tham gia, gần đây nhất có một vài NSNAVN đã bắt đầu tiếp cận, đạt giải thưởng, nhưng chưa đạt được thành tích cao như mong muốn.

Nếu như trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Mỹ, những NSNAVN đã tạo dựng được vị trí của nhiếp ảnh VN đối với thế giới, thì sau 35 năm hòa bình, vị trí của nhiếp ảnh VN thật sự vẫn chưa phải là một điểm được chú ý trong bản đồ nghệ thuật nhiếp ảnh thế giới. Vì nếu tính những tác phẩm ảnh được lưu trong các bảo tàng nghệ thuật quốc tế danh tiếng, hay những bức ảnh mà cả thế giới phải sững sờ, run rẩy hay ám ảnh…- một trong tiêu chí đánh giá sự thành công và phát triển của nghệ thuật nhiếp ảnh, thì quả thật VN còn vắng mặt.

Phải chăng NSNAVN, cho dù đã được trang bị về kỹ thuật không thua gì các NSNA quốc tế, nhưng chưa đủ khả năng, hay tầm để tiếp cận với nghệ thuật nhiếp ảnh thế giới, khi mà họ có nhiều dòng, nhiều thể lọai, nhiều phong cách, nhiều ý tưởng phong phú… để sáng tạo và thể hiện thành tác phẩm nghệ thuật?

Hay NSNAVN không đủ dũng cảm để thay đổi những gì đã có, đã đạt được, mà những điều đó như là con đường có sẵn, không dám mở một con đường mới vì sợ mất danh tiếng? Hay đây là một trong những tồn tại đáng báo động của NSNAVN, họ đã cùn, mòn, lập lại vô hồn những thứ có sẵn, sự sáng tạo bế tắc?

Chưa kể có nhiều NSNAVN sáng tạo nghệ thuật không cần thực tế cuộc sống, có khi chỉ cần trong phòng và một máy vi tính với phần mềm photoshop, thậm chí chỉ cần “một cái khay” như của một NSNAVN vừa được FIAP phong tước cao nhất.

Đổi mới để có chất lượng

“Đổi mới & hội nhập” là tiêu chí chung của rất nhiều ngành, Hội NSNAVN cũng không thể khác được, nếu như muốn có một nhiệm kỳ mới hoạt động thật sự hiệu quả cả về chất lượng nghệ thuật và ảnh hưởng xã hội từ tác phẩm nhiếp ảnh nghệ thuật.

Bầu được ban lãnh đạo mới lấy tiêu chuẩn chính trị, liêm chính, chí công vô tư, có trình độ quản lý, trình độ chuyên môn tốt, có uy tín và khả năng đoàn kết, tập họp hội viên, có số lượng và cơ cấu thích hợp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Hội trong những năm tới. Thực hiện tốt việc chuyển giao thế hệ lãnh đạo hội - Mục đích, yêu cầu & phương châm đại hội (- Nguồn vapa.org.vn)

Phải chăng đây sẽ là một nhiệm kỳ với một ban lãnh đạo Hội NSNAVN trẻ hóa? Liệu họ có được sự đồng thuận, gắn kết, uy tín để lãnh đạo Hội nhiệm kỳ mới đổi mới thật sự? Đây là câu hỏi mà cũng là hy vọng.

"Nhiệm vụ trung tâm là tiếp tục phấn đấu tạo ra nhiều tác phẩm nhiếp ảnh có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, giàu tính nhân văn, tiếp thu truyền thống dân tộc vá tinh hoa văn hóa nhân loại, đóng góp tích cực vào việc xây dựng một nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người mới VN;

Thực hiện tốt phương châm lấy tác phẩm nhiếp ảnh tốt, hoạt động nhiếp ảnh lành mạnh đẩy lùi những họat động văn hóa, văn nghệ tiêu cực đồi trụy, phi nhân tính, đẩy mạnh sáng tác, nghiên cứu lý luận phê bình, quảng bá tác phẩm nhiếp ảnh tới công chúng trong nước và nước ngoài…"- Mục đích, yêu cầu và phương châm đại hội -(Nguồn vapa.org.vn)

Nhìn vào nhiệm vụ và mục tiêu này, vẫn chưa thấy có gì khác biệt với sự chung chung, lặp lại như các nhiệm kỳ trước trong hoạt động nghệ thuật.

Mong rằng kết thúc đại hội sẽ có những tín hiệu vui cho các NSNAVN trong họat động sáng tạo nghệ thuật.
Tác giả: Hoài Hương
http://tuanvietnam.net/2009-12-23-nhiep-anh-viet-ngay-cang-cu-mon

11 thg 12, 2009

Anh chụp cuối năm 2009









16 thg 11, 2009

Chùm ảnh ở đầm sen


Nhấn vào ảnh dưới đây để xem toàn Album :

Photobucket

9 thg 9, 2009

Chuyện nhỏ nhưng ý nghĩa không nhỏ về MAIL

Hôm nọ một đồng nghiệp người Úc với điệu bộ hớt hải đến hỏi tôi: “Này, ông có biết là giáo sư N mới bị mất việc không?” Tôi cũng ngạc nhiên khi nghe “hung tin”, bởi vì giáo sư N (với thâm niên công tác tại một trường đại học lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh hơn 30 năm qua) vẫn liên lạc và trao đổi với tôi khá thường xuyên, nếu anh mất việc hay nghỉ hưu thì chắc chắn anh ấy báo cho tôi biết.

Tôi tò mò hỏi vị đồng nghiệp rằng làm sao ông biết, thì ông cầm bản in email của giáo sư N gửi cho ông và nói: “Đây này, ông ấy gửi thư cho tôi qua địa chỉ yahoo, chứ không qua địa chỉ của trường nữa!” Tôi hiểu ra câu chuyện. Thấy ngại phải giải thích đầu đuôi câu chuyện mà tôi cho rằng chẳng hay ho gì, nên chỉ nói ngắn gọn rằng giáo sư N vẫn còn làm việc và có lẽ vì một lí do nào đó nên phải sử dụng địa chỉ email công cộng.

Cái “lí do gì đó” là điều mà anh N đã từng phàn nàn bấy lâu nay về hệ thống internet của trường đại học không đáng tin cậy, quá chập chờn. Đã nhiều lần, anh không thể nhận email từ đồng nghiệp nước ngoài gửi đến chỉ vì hệ thống internet của trường bị chết hay có sự cố. Có khi là những email có nhiều thông tin chuyên môn quan trọng. Do đó, anh N quyết định sử dụng địa chỉ email từ yahoo, và điều này đã gây ra không ít hiểu lầm ở đồng nghiệp và bè bạn nước ngoài.

Ở các nước Âu Mĩ hay ngay cả các nước trong vùng như Thái Lan, Mã Lai và Singapore, các giáo sư và nhân viên làm việc trong đại học, các cơ quan chính phủ, các doanh nghiệp chính thức, v.v… đều được cung cấp địa chỉ email chính thức. Chỉ cần nhìn vào địa chỉ email của người gửi, người nhận có thể biết được cơ quan người đó đang công tác ở đâu, và nếu cần, có thể tìm hiểu chức vụ của người gửi. Chẳng hạn như chỉ nhìn vào email với địa chỉ peter.smith@unsw.edu.au (chỉ là ví dụ), người ta có thể biết người gửi là Peter Smith đang công tác tại cơ quan có địa chỉ internet là www.unsw.edu.au và nếu truy nhập vào website này sẽ thấy đây là trường Đại học New South Wales (Sydney, Úc). Nếu cần tìm hiểu chức vụ của người gửi, chỉ cần truy nhập website www.unsw.edu.au và nhấn nút “search” (tìm) thì có thể biết thêm Peter Smith đang làm việc tại khoa nào, chức vụ gì, và lĩnh vực chuyên môn là gì.

Tuy nhiên, các website lớn như yahoo.com, hotmail.com (của tập đoàn Microsoft), gmail.com (của Google), v.v… cũng cung cấp những hộp thư điện thử miễn phí, nhưng kèm theo vài điều kiện mang tính pháp lí tương đối nhỏ. Vì là những nơi công cộng, cho nên bất cứ ai cũng có thể đăng kí cho mình một hộp thư và có thể lấy bất cứ tên gì trong địa chỉ email, kể cả những cái tên quái gở. Trong thực tế, không ít người có đến hàng chục địa chỉ email công cộng để sử dụng cho các mục tiêu [có khi bất chính] khác nhau. Do đó, nhìn địa chỉ của người gửi như petersmith@yahoo.com hay peter_smith@hotmai.com thì không thể biết người gửi có thật sự là Peter Smith hay không, và không biết tư cách của người gửi ra sao. Nếu ông Nguyễn Vạn Phú của Thời báo Kinh tế Sài Gòn liên lạc với cộng tác viên nước ngoài qua hộp thư yahoo thì chắc chắn người nhận sẽ phải rất dè dặt không biết đây là ông Nguyễn Vạn Phú nào.

Địa chỉ email chính thức do đó là một “biểu tượng” về uy tín và địa vị của người gửi. Dù biết rằng nhận xét đó có lẽ nói hơi quá lời, nhưng đó là một thực tế. Thử tưởng tượng nếu tổng thống Bush sử dụng địa chỉ email từ yahoo hay hotmail mà không từ whitehouse.gov thì người ta sẽ nghĩ sao. Nếu một luật sư liên lạc với khách hàng mà sử dụng địa chỉ email từ các địa chỉ công cộng thì chắc chắn chẳng thân chủ nào dám làm ăn với văn phòng luật sư đó. Nếu một tập đoàn đòi đầu từ 30 tỉ USD mà không có đến một website chính thức thì nói ai nghe.

Người viết bài này là thành viên của một số tập san y học ở Mĩ, và biết rằng chính sách của tập san là nếu tác giả gửi bài từ các địa chỉ công cộng thì sẽ được yêu cầu gửi thêm bằng đường bưu điện để có thể xác nhận chắc chắn danh tính của người gửi. Thành ra, không ngạc nhiên chút nào khi một giáo sư mà liên lạc với đồng nghiệp nước ngoài qua địa chỉ email công cộng như yahoo.com hay hotmail.com thì người nhận cũng dè dặt không biết có phải thật sự là đồng nghiệp mình hay là ai đó giả mạo thư.

Một điều đáng buồn là rất nhiều email mà tôi nhận được từ bạn bè và đồng nghiệp từ Việt Nam là xuất phát từ các địa chỉ công cộng. Những người sử dụng địa chỉ công cộng không chỉ giới hạn trong sinh viên, học sinh, mà còn là những hiệu trưởng và phó hiệu trưởng đại học, giáo sư đại học, vụ trưởng và thứ trưởng các bộ (kể cả các bộ được xem là “tứ trụ” của quốc gia), v.v… Cầm một tấm danh thiếp của một quan chức với đủ thứ học vị, học hàm, và li ti những chức vụ quan trọng, nhưng kèm theo địa chỉ email công cộng, tôi cảm thấy lúng túng. Nếu tôi giới thiệu một quan chức với người nước ngoài với một địa chỉ email như thế, họ sẽ nghĩ gì? Chắc chắn họ sẽ ngạc nhiên. Một đại học lớn mà không có website chính thức để hiệu trưởng phải sử dụng “email chùa”! Một bộ giáo dục hay bộ ngoại giao đại diện một quốc gia mà chẳng lẽ không có một website để các quan chức cao cấp phải sử dụng địa chỉ email công cộng ư? Chuyện khó tin quá!

Thật ra, các đại học và bộ ở nước ta đều có website. Nhưng có website là một chuyện, sử dụng website cho việc gì là một chuyện khác. Một website hữu dụng phải là một trung tâm thông tin và trung tâm cung cấp dịch vụ thông tin. Lấy ví vụ các đại học bên Mĩ, Âu châu hay Úc, website của họ không chỉ cung cấp thông tin về chương trình đào tạo, thành tựu nghiên cứu khoa học, mà còn là một thư viện điện tử, một trung tâm cung cấp dịch vụ internet cho các giáo sư và nhân viên của trường, kể cả dịch vụ cơ bản nhất là email.

Nhưng thấy gì qua các website của các đại học và bộ ở nước ta? Có thể nói ngay rằng phần lớn (không phải tất cả) các website hình như lập ra cho có, chứ không mang chức năng cung cấp thông tin thiết thực về hoạt động của cơ quan. Thật ra, rất nhiều website cung cấp những thông tin mà đồng nghiệp nước ngoài không muốn đọc (như cơ cấu tổ chức của khoa, ban, ngành), nhưng những thông tin họ cần biết thì lại không có trong các website (như thông tin về công trình nghiên cứu, bài giảng, và chương trình đào tạo)! Thậm chí, có website chỉ có thể mô tả là website chết, vì không có cập nhật hóa. Lại có nhiều website tuy mang tiếng là cơ quan thông tin chính thức của bộ hay trường đại học, nhưng lại được thiết kế thiếu tính nghiêm túc, mà tràn đầy với nhiều hình ảnh màu mè, những hoạt cảnh nhảy nhót, cứ như là những website của các công ti thương mại hay các website do học sinh tiểu học thiết kế!

Hệ quả là các quan chức, kể cả quan chức cao cấp, không sử dụng email từ website của cơ quan mình. Một website của một trường đại học hay bộ mà không cung cấp cho cán bộ, nhân viên của mình một địa chỉ email chính thức thì chỉ có thể nói là vô dụng, là một sự bôi bác cho trình độ công nghệ thông tin nước nhà.

Internet và email đã và đang trở thành một phương tiện liên lạc cực kì hữu hiệu và càng ngày làm cho cộng đồng thế giới thu nhỏ lại hơn và gần với nhau hơn. Nước ta đang trên đường hội nhập quốc tế, và các quan chức nước ta là những người đại diện cho quốc gia Việt Nam cần phải được trang bị với những phương tiện liên lạc cơ bản như email, nhưng phải là địa chỉ email chính thức từ các website Việt Nam. Email là chuyện quá nhỏ, nhưng ý nghĩa của nó không nhỏ chút nào, nhất là đối với các đối tác nước ngoài, bởi vì nó phản ảnh một phần bộ mặt và sỉ diện quốc gia.
Posted by Nguyễn Văn Tuấn

Học giả Nguyễn Hiến Lê

Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) sinh tại Hà Nội, nguyên quán ở Quảng Oai, Sơn Tây (Hà Tây). Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Công chánh (1934), được điều vào Nam Bộ công tác. ở đây ông đã viết văn và nghiên cứu văn hoá. Là tác giả và dịch giả của 122 tác phẩm, 250 bài báo và 23 đề tựu cho công trình các bạn bè, Nguyễn Hiến Lê là một tấm gương lao động miệt mài và có khoa học trong lĩnh vực truyền bá văn hoá.

Cuối năm 1999, một con đường nhỏ, dài khoảng 340 mét, rộng 12 mét, nằm ở phường 13, quận Tân Bình, đã vinh dự được mang tên Nguyễn Hiến Lê, một nhà văn hóa.

Ông sinh ngày thứ Hai, 08-01-1912, tuy nhiên giấy khai sinh ghi muộn hơn ba tháng. Theo âm lịch, ông sinh ngày 20 - 11, nhằm năm Tân Hợi, tháng Tân Sửu, ngày Quý Mùi, giờ Tân Dậu. Nghiên cứu khoa tử vi, ông nhận xét rằng người nào tuổi về phần can trúng nhằm bốn chữ Canh, Tân, Mậu, Kỷ thường có nỗi khổ riêng ẩn giấu nơi lòng. Phải chăng ông đã nghiệm từ chính đời mình? và ông miệt mài viết văn, làm sách có lẽ cũng để cho phần nào vơi đi nỗi niềm ấy?

Ông chào đời tại nhà số 4, ngõ Phất Lộc, Hà Nội, cái ngõ đã đi vào bộ tranh Phố Phái bất hủ của danh họa Bùi Xuân Phái, và Nguyễn Hiến Lê, con người đã cất tiếng khóc chào đời ở khu phố cổ đó, cũng đã đi vào thế giới vĩnh hằng của những danh nhân bất hủ.

Sinh ở ngõ Phất Lộc nên ông lấy hiệu Lộc Đình, và bác Ba của ông chỉ gọi ông bằng hiệu Lộc Đình. Người bác này hiệu Phương Khê, lấy theo tên làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây, cũng là quê nội, nơi ngôi mộ cụ tổ sáu đời của Nguyễn Hiến Lê đã kết theo kiểu "bút gối sau đầu". Các thầy địa lý bảo vì vậy con cháu tuy học giỏi nhưng thi cử lận đận. Hư thực thế nào chẳng biết, có điều ông nội Nguyễn Hiến Lê chỉ đỗ Tú tài.

Ông Tú có bốn con trai. Con thứ hai tên Cổn, hiệu Đạo Quýnh, học giỏi, không đi thi, làm hương sư dạy học trong làng. Cũng học giỏi mà ghét thi cử còn có người con cả, tên Nhuận, hiệu Tùng Hương, không chịu lấy vợ, gia nhập phong trào Đông kinh Nghĩa thục, rồi trốn qua Trung Quốc theo nhà cách mạng Phan Bội Châu, bặt luôn tin tức. Con thứ ba tên Côn, hiệu Phương Khê, văn chương thi phú giỏi, nhưng rớt một khóa thi Hương thì bỏ luôn, gia nhập Đông kinh Nghĩa thục, cưới vợ là cô Năm, con gái nhà cách mạng Lương Văn Can, thủ trưởng Nghĩa thục.

Khi Nghĩa thục bị thực dân Pháp đàn áp ở Hà Nội, ông Phương Khê thoát vào Nam. Sau này viết về Đông kinh Nghĩa thục (1956) Nguyễn Hiến Lê đã không giấu tình cảm của ông đối với hai người bác đáng kính.

Thân phụ Nguyễn Hiến Lê là con út, tên Bí, hiệu Đặc Như, có chút tính nghệ sĩ, ham chơi, học kém hơn các anh, dạy con rất nghiêm khắc. Nguyễn Hiến Lê là trưởng nam, sau ông còn một em trai, hai em gái. Trước ngày Nguyễn Hiến Lê chào đời, ông Đặc Như nằm mộng, thấy cụ già râu tóc bạc phơ, chống gậy đến trao cho quả lê, vì thế đặt tên con là Hiến Lê (hiến tặng quả lê). Mẹ Nguyễn Hiến Lê tên Sâm, sớm mồ côi cha, mẹ bà làm lược nuôi con. Bà Sâm không biết chữ, rất đảm đang, biết dạy con. Bà và người anh chồng (ông Phương Khê) đã sớm ảnh hưởng rất nhiều đối với sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê sau này.

Nguyễn Hiến Lê lên mười thì cha mất sớm, ba mươi bốn tuổi. Nguyễn Hiến Lê đang học lớp Dự bị (Préparatoire) trường Yên Phụ, sức học trung bình. Cảnh nhà khó khăn, mẹ ông đầu tắt mặt tối buôn bán trái cây ở chợ Đồng Xuân, Hà Nội, nhẫn nại nuôi bốn con nhỏ dại và mẹ già. Trên tạp chí Mai số 29, ngày 10-9-1961, Nguyễn Hiến Lê không giấu giếm cái nghèo của mẹ con ông: "Tôi sinh trong một gia đình nghèo, thường bị họ hàng khinh rẻ, ức hiếp, lắm lúc chúng tôi tủi nhục đến rớt nước mắt."(1)

Thiếu người kèm cặp, Nguyễn Hiến Lê lêu lổng, Ở lại hai năm rưỡi ở lớp Dự bị mới lên nổi lớp Sơ đẳng. Từ lớp Nhì (cours Moyen) bắt đầu chăm học, rồi đứng đầu lớp Nhất (cours Supérieur). Cậu học trò giỏi đó đã vượt qua những ngày đói lạnh ấu thơ như thế nào? Trên tạp chí Mai, số 39, ngày 10-02-1962, Nguyễn Hiến Lê tâm sự: "Tôi đã qua cái cảnh, buổi sáng rét căm căm, gió bấc thổi lồng lộng, bận có hai cái áo mỏng, đi mua một củ khoai lang một trinh hoặc một khúc khoai mì một xu rồi đi chân đất dưới mưa phùn để tới trường cách nhà trên hai cây số, ngồi học ba bốn giờ rồi lại đi bộ về nhà. Có lúc đói quá, lạnh quá, không nghe được lời giảng của thầy nữa. Giá hồi đó tôi có thêm một xu mỗi ngày để ăn và vài ba tháng có thêm được vài hào để mua sách ..."(2).

Năm 1925, Nguyễn Hiến Lê thi vô trường Bưởi (Collège du Protectorat), nhưng rớt; năm sau đậu. Học tới đệ Tứ niên, thường nhất lớp. ở trường Bưởi, ông được học với các bậc thầy tên tuổi đáng kính như: Dương Quảng Hàm, tác giả Việt Nam Văn học Sử yếu, Việt Nam Thi văn Hợp tuyển; Thẩm Quỳnh, dịch giả Kinh Thư; Nguyễn Gia Tường, anh của danh họa Nguyễn Gia Trí... Lần lượt, Nguyễn Hiến Lê thi đậu Cao đẳng Tiểu học (Diplôme d'Etudes primaires supérieures franco indigène); thi vào trường Cao đẳng Công chánh đậu thủ khoa, được học nội trú và hàng tháng lãnh sáu đồng rưỡi học bổng. Thi tốt nghiệp tháng 6-1934, đậu hạng sáu. Tháng 10, được bổ vào làm việc trong Nam. Sau này, khoảng tháng 02-1944 (tháng Giêng Giáp Thân), ông có trở ra Bắc thi vô ngạch kỹ sư công chánh, nhưng không đậu. Sở Thủy lợi ở Long Xuyên giao ông công tác đo mực nước ở miền Tây.

Làm xong việc, ông còn rất nhiều thì giờ rảnh. Không biết làm chi cho hết ngày, ông phải tìm đủ mọi sách để đọc, chép nhật ký, viết hồi ký cho đỡ nhớ quê nhà miền Bắc xa xôi. Ông kể: "Cầm bút lúc nào là tâm hồn tôi rung động nhè nhẹ lúc ấy, như được nghe một bản nhạc êm đềm, bản nhạc của cố hương và dĩ vãng. "Viết hồi ký để ôn lại cái vui đã qua thì viết nhật ký để ghi lại cái vui hiện tại (...). "Tôi cứ nhớ đâu chép đó, viết bừa đi, chẳng cần bố cục, cũng chẳng sửa, viết có khi quên giờ giấc, và đặt cây bút xuống, nhìn lên bờ thì làng xóm đã lờ mờ sau làn sương mỏng."(3).

Đọc sách và viết say mê như vậy vẫn dư thời gian, ông xoay ra tự học chữ Hán. Lúc nhỏ ông được cha dạy vỡ lòng một ít, chừng năm rưỡi. Hè 1928, ông vừa học xong năm thứ Nhất trường Bưởi, được mẹ đưa về quê nội ở Phương Khê học chữ Hán với bác Hai. Ông học hai kỳ hè, mỗi kỳ khoảng hai tháng, mỗi ngày được bác kèm cho chừng một giờ.

Cuối đời, khi đã nổi danh là dịch giả uy tín, trong số trên một trăm hai mươi đầu sách, có trên hai mươi công trình giá trị viết riêng về văn, triết, sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê không khỏi chạnh lòng nghĩ nhớ đến bà mẹ quê mùa mù chữ của mình: "Ngay năm đầu tôi học trường Bưởi, mẹ tôi đã có một quyết định, khiến đời tôi sau này theo một hướng mà chính người và các bác tôi không ai có thể ngờ được. Ngày nay càng nghĩ lại tôi càng thấy cái công lớn của người và càng không hiểu đã có gì xui khiến cho người nảy ra quyết định đó."(4).

Tốt nghiệp Cao đẳng Công chánh (tháng 6-1934), trong suốt năm tháng chờ được bổ nhiệm công tác, ông tự học chữ Hán chứ không về làng Phương Khê nữa vì bác Hai đã qua đời: "Mỗi ngày, buổi chiều, tôi lại Thư viện Trung ương ở đường Trường Thi, mượn bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh mới xuất bản hai năm trước (1932) rồi bắt đầu từ chữ A, tìm những từ và từ ngữ nào mà tôi đoán là thường dùng mà chưa biết thì tôi chép lại trong một tập vở, mỗi ngày chép độ ba bốn chục từ; tôi lại mượn cuốn Grammaire Chinoise của Cordier cũng chép lại những điều quan trọng. Tôi ở thư viện từ ba đến năm, sáu giờ chiều. Tối hôm đó và sáng hôm sau, tôi học hết những trang ghi đó; rồi chiều lại ra thư viện chép bài học sau. Mỗi tuần tôi nghỉ một ngày để ôn lại những bài trong tuần..."(5).

Sau ba tháng, học được chừng ba ngàn từ, ông mượn được bộ Tam Quốc chí in thạch bản, có lời bình của Kim Thánh Thán. Vì đã biết cốt chuyện rồi, ông đọc không quá khó, lúc đầu chậm, sau quen, và rất thích lời bình của Kim. Đọc vừa xong Tam Quốc chí ông nhận được giấy bổ vào Nam công tác.

Năm 1937 (hay 1938?), ông về Sài Gòn làm việc. Mỗi ngày rảnh được buổi tối và mỗi tuần rảnh được cả ngày Chủ nhật. Không biết nhậu, ghét đánh bài, chẳng thích đánh cờ, học đàn vài tháng thì bỏ, không ưa tụ tập bạn bè tán gẫu; làm sao cho qua hết giờ nhàn rỗi? Chỉ còn cách tự học và đọc sách mà thôi. Ông luôn luôn đọc sách với cây viết chì. Chỗ nào hay ông đánh dấu + ở lề; chỗ dở đánh dấu –. Các ý quan trọng thì ghi tóm tắt kèm với số trang; mà ghi ngay ở các trang bỏ trắng ở đầu hay cuối sách (page de garde), giống như làm index hay mục lục chi tiết cho riêng ông tham khảo khi cần.

Sau 1945 , ông bỏ luôn nghề công chức, về làng Tân Thạnh, ở khoảng giữa Hồng Ngự và Cao Lãnh, học đông y và chữ Hán với bác Ba Phương Khê (tháng 10-1945). Năm 1950, nể lời bạn đã ba lần khẩn khoản mời, ông ra dạy học tại trường trung học công lập Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, dạy đủ các môn từ khoa học tới sinh ngữ. Lúc này ông bắt đầu viết sách. Tổ tiên ông hai bên nội ngoại đều không ai viết văn. Bản thân ông lúc đầu lại vào ngành kỹ thuật. Trước năm 1950 ông không có ý định viết sách, không tính tới chuyện sống hoàn toàn bằng nghề văn. Tác phẩm đầu tiên được xuất bản là Tổ chức công việc theo khoa học.

Dạy ba niên khóa, ông xin thôi và đơn được chấp thuận (tháng 9-1953). Sau này về Sài Gòn, được một số trường mời đến dạy, ông cương quyết từ chối, vì muốn dành hết thời giờ cho việc tự học, biên khảo, dịch thuật, nghiên cứu... Không làm nhà giáo trên bục giảng, ông vẫn là nhà giáo dục có tâm huyết và lương tri. Một số sách do ông soạn hoặc dịch đã hướng dẫn nhiều người trên đường học vấn, như: Bí quyết thi đậu các bằng cấp trung học; Kim chỉ nam của học sinh; Luyện văn; Muốn giỏi toán hình học phẳng; Muốn giỏi toán hình học không gian; Muốn giỏi toán đại số; Tự học một nhu cầu thời đại, v.v...

Nặng lòng với giáo dục, năm 1962 ông viết loạt năm bài Cải tổ nền giáo dục Việt Nam.

Năm 1972, ba bài Nguy cơ xuất não bàn biện pháp giữ nhân tài du học nước ngoài về. Tất cả đều đăng tạp chí Bách khoa. Năm 1961 trên Bách khoa, và năm 1966 trên Tin văn, ông kịch liệt đả kích Bộ Giáo dục và Viện Đại học Sài Gòn không chịu dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ ở đại học. Ngoài ra, ông còn hàng trăm đề tài giáo dục khác mà từ đầu những năm 50 cho tới 1975, đã đăng các báo: Bách khoa; Đại học; Giáo dục phổ thông; Mai; Tân văn; Tin văn; Văn; Văn hóa nguyệt san, v.v...

Nguyễn Hiến Lê dịch nhiều thể loại sách, nghiên cứu, khoa học, văn chương... tiếng Pháp, tiếng Anh, và đặc biệt là chữ Hán. Bản dịch tiếng Pháp đầu tay của ông là Huấn luyện tình cảm (của P. Félix Thomas); bản dịch tiếng Anh đầu tay là Đắc nhân tâm (của Dale Carnegie). Yêu mến và sành tiếng Việt, giỏi cả Hán, Pháp, Anh, ở cương vị một người dịch, ông quan niệm: "... tôi nghĩ rằng văn thơ cũng như nhạc, dịch một bài văn, một bài thơ, cũng như diễn một bản nhạc, cũng là làm công việc sáng tạo mặc dầu dịch rất sát không thêm bớt. Dịch giả – nếu có tài – cũng là một nghệ sĩ, và mỗi bản dịch cũng là một nghệ phẩm. Không một bản dịch nào đúng hẳn với nguyên tác; bản dịch nào cũng mang ít nhiều cá tính, tài năng của người dịch, tinh thần của ngôn ngữ người dịch, cũng để lộ tâm tư của người dịch, cái không khí của thời đại người dịch."(6).

Đầu năm 1971, tính theo tuổi ta thì ông sắp vào cái ngưỡng mà Đỗ Phủ gọi là cổ lai hi. Nhà thơ Bàng Bá Lân hỏi xem ông đã định gác bút nghỉ viết chưa. Thư ông trả lời: "Viết đều đều trên hai chục năm rồi, tôi muốn nghỉ lắm chứ, nhưng còn chiến tranh thì không thể nghỉ được (...) Còn chiến tranh thì làm sao vui được? Chẳng những việc nước không yên mà việc nhà của chúng ta cũng không yên, không thể quyết định một chút gì trong tương lai cả, ngay đến đời sống của mình cũng không có gì bảo đảm. Sở dĩ tôi phải cặm cụi viết một phần lớn là để tạm quên những ưu tư đó đi"(7).

Đối với Nguyễn Hiến Lê, ngoài ý chí miệt mài học để viết và viết không mệt mỏi để học, thì độc giả là quan trọng, kỳ dư danh vọng hay thế quyền không hề có chỗ trong tâm tưởng. Chính quyền Sài Gòn, Ngô Đình Diệm rồi Nguyễn Văn Thiệu, ba lần mời ông làm giám khảo cuộc thi văn chương toàn quốc, mời vào ủy ban Dịch thuật, và ủy ban Điển chế Văn tự của Bộ Văn hóa, vào Hội đồng Giáo dục Toàn quốc, ông đều nhất quyết từ khước. Năm 1973, Phủ Quốc vụ khanh Đặc trách Văn hóa (Sài Gòn) muốn trao tặng ông Giải Tuyên dương Sự nghiệp Văn chương - Học thuật - Mỹ thuật, ông cũng từ chối. Mãi mãi ông vẫn giữ đúng vị trí một nhà giáo dục, một nhà văn hóa độc lập, thanh cao, tự trọng.

Ông thổ lộ: "Soạn sách, tôi chỉ nhắm mục đích: tự học và giúp người khác tự học. Tôi nghĩ đến cái lợi của độc giả trước hết, chẳng hề tự cho mình có "sứ mạng" gì cả, mà cũng không hề mong được nổi tiếng (...). Có thích vấn đề nào thì tôi mới viết. Thấy vui trong khi viết, bấy nhiêu đủ cho tôi rồi."(8).


Ông viết và dịch đủ loại: giáo dục, quản trị, kinh tế, chính trị, sách học làm người, ngữ học, văn học và lịch sử thế giới, tiểu truyện danh nhân, du ký, hồi ký, bình văn điểm sách... Chẳng riêng những sách và bài báo chuyên khảo về tiếng Việt, đọc văn ông, người ta cảm thấy toát ra lòng yêu mến tiếng Việt thiết tha, và sự trân trọng chăm chút để gìn giữ và phát huy tính nhuần nhụy, trong sáng của tiếng Việt.

Có lẽ bên cạnh những thể loại đa dạng thì quan trọng hơn hết vẫn là Trung Quốc học (văn chương, lịch sử, triết học). Đây là lĩnh vực mà Nguyễn Hiến Lê có nhiều đóng góp ý nghĩa cho nền tảng nghiên cứu Trung Quốc học ở Việt Nam qua hai mươi hai công trình tiêu biểu như sau: Chiến quốc sách; Cổ văn Trung Quốc; Đại cương triết học Trung Quốc; Đại cương văn học sử Trung Quốc; Hàn Phi Tử; Kinh Dịch: đạo của người quân tử; Khổng Tử; Lão Tử Đạo đức kinh; Lịch sử văn minh Trung Quốc; Liệt Tử và Dương Tử; Luận ngữ; Mạnh Tử; Mặc học; Nhà giáo họ Khổng; Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa; Nho giáo: một triết lý chính trị; Sử ký Tư Mã Thiên; Sử Trung Quốc; Tô Đông Pha; Trang Tử Nam Hoa kinh; Tuân Tử; Văn học Trung Quốc hiện đại.

Cho tới năm 1975, ông xuất bản được một trăm tác phẩm. Từ 1975 tới ngày mất, hoàn thành thêm hai mươi hai công trình nữa. Viết khoảng hai trăm năm mươi bài báo, mà khoảng một nửa trong số đó vẫn chưa gom lại in thành sách. Đề tựa cho hai mươi ba tác phẩm về biên khảo, thơ, tùy bút... mà hầu như bài tựa nào cũng được khen là tài tình. Mười chín người vinh dự được ông đề tựa tác phẩm là: Bàng Bá Lân, Châu Hải Kỳ, Cung Duy Độ, Đỗ Hồng Ngọc, Đông Hồ, Đông Xuyên (3 lần), Hoàng Xuân Việt, Huy Lực, Huỳnh Phan, Lam Giang, Nguyễn Đình Tư, Nguyễn Huy Khánh, Nguyễn Hữu Ngư (tức Nguyễn Ngu ý), Nguyễn Hữu Phiếm (2 lần), Nguyễn Văn Hầu, Phạm Phú Hoài Mai, Toan ánh, Trần Thúc Linh (2 lần), Võ Phiến.

Dường như thần thoại kể rằng, xưa kia có một loài linh điểu, khi sắp giã từ thế gian này, những tiếng hót sau cùng của chim lại là tiếng hót ngọt nhất, hay nhất mà chim dồn hết tinh huyết và thần lực ra thi thố, để tận hiến cuộc đời lần cuối. Những tác phẩm cuối đời của Nguyễn Hiến Lê có lẽ chẳng khác gì tiếng chim linh thần thoại lãng mạn ấy. Thực vậy, trong mười năm sau cùng (1975-1984), sức khoẻ ông càng cạn kiệt vì tuổi tác và tật bệnh, thì ngược lại, sách ông viết càng sâu sắc, càng phong phú và giá trị hơn.

Và rồi ông bệnh, mất ngày 22-12-1984 tại Sài Gòn, hỏa táng tại Thủ Đức. Đến nay, hai mươi hai bản thảo để lại đã in gần hết! Những sách đã in trước 1975 vẫn tiếp tục in lại đều đặn. Một năm có khi hai hay ba nhan đề cũ và mới cùng được ấn hành. Nguyễn Hiến Lê có cái vinh dự được là tác gia của ba thế hệ: thế hệ những người đồng tuổi ông; thế hệ con cái những người đó, kể cả lớp học trò cũ của ông; và thế hệ trẻ hôm nay đang cắp sách ở trung học, đại học, hay vừa rời ghế giảng đường, tập tễnh bước chân vào chốn trường đời.

Xưa nay không hiếm những tác giả mà người đọc chỉ nên đứng xa xa để chime ngưỡng, vì họ sống không đúng như họ viết. Đức Lão Tử dạy: Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri (Người biết chẳng nói, người nói chẳng biết). Trộm nghĩ, với Nguyễn Hiến Lê, câu ấy có thể sửa lại là: Tri giả năng ngôn, ngôn giả năng hành (Người biết hay nói, người nói hay làm). Ngày xưa, đức Khổng Tử có lần than phiền: "Trước kia, nghe ai nói, ta tin rằng đức hạnh của họ hợp với lời của họ. Ngày nay thì ta đâm ngờ, phải quan sát xem hành động của họ có đúng với lời họ nói không." (Luận ngữ, Công Dã Tràng, 9). Với Nguyễn Hiến Lê, đức Khổng thánh, bậc Vạn thế Sư biểu, có thể không cần phải giữ thái độ thận trọng, dè dặt xét nét như vậy.


Quả thực, ai có dịp gần gũi ông nhiều, đọc sách của ông, cũng đều thừa nhận rằng Nguyễn Hiến Lê biết sao thì nói đúng, viết đúng như đã biết, và cũng làm đúng, sống đúng như chính ông đã nói đã viết.

Khoảng trước năm 1945, nhân khi đọc xong một vài bản thảo của ông, bác Ba Phương Khê tặng ông câu đối:

Học bản tu thân, thân tức quốc;

Nhân năng bạt tục, tục nhi tiên.

(Học gốc ở tu thân, thân mình là nước;

Người tư cách bạt tục, tuy tục mà tiên.)

Bản thân Nguyễn Hiến Lê vào khoảng năm 1946 hay 1947 cũng làm câu đối:

Trị ái thư, loạn ái thư, thư trung hữu hữu;

Bần dĩ đạo, phú dĩ đạo, đạo ngoại không không.

(Trị yêu sách, loạn yêu sách, trong sách chi chi cũng có;

Nghèo giữ đạo, giàu giữ đạo, ngoài đạo thảy thảy đều không.)

Cả hai câu đối đó, ngẫm cho cùng, đều phản ánh rất đúng cốt cách nho phong, chí hướng bạt tục, cuộc đời giản dị, và sự nghiệp văn hóa không nhỏ của Nguyễn Hiến Lê đối với dân tộc Việt Nam. Suốt cuộc đời cầm bút trong sang như viên ngọc không chút tì vết, Nguyễn Hiến Lê chưa một lần tự gán cho bản thân bốn chữ "Văn dĩ tải đạo", nhưng đến nay những ai đọc ông có lẽ đều tâm phục và ngưỡng kính cảm nhận rằng con người ấy quả thực đã hiến trọn đời mình để chở chuyên đạo lý.

Đời ông bảy mươi ba năm, từ ấu thơ cho đến khi quay lưng đi vào cõi vĩnh hằng, đã kinh qua biết bao nỗi thăng trầm bi tráng của lịch sử một đất nước chiến tranh ly loạn triền miên. Nhưng ông đã tự chọn cho mình một con đường tu thân, tu đức, trau giồi học vấn không ngừng. Ông miệt mài đem trí tuệ mẫn tiệp, sức học uyên bác, lương tri và tâm huyết... để bằng nghị lực phi thường lướt qua những bệnh tật đeo đẳng tấm thân mảnh khảnh, và đã lặng lẽ nuốt nỗi khổ riêng vào tận đáy lòng, để cho những dòng chữ lời văn của ông mãi mãi chỉ tinh tuyền là hương thơm vị ngọt và vẻ mỹ miều của một tình yêu quê hương đằm thắm và một lòng nhân ái kín đáo./.
Lê Anh Dũng
http://tuanvannguyen.blogspot.com/2008/07/hc-gi-nguyn-hin-l.html