QuocHung's Blog

11 thg 8, 2009

Tính hiệu quả của mô tả

Trong mô tả một hiện tượng, một sự vật hay một hệ thống nào đó, tính hiệu quả của một mô tả có thể được định nghĩa bằng so sánh độ dài của mô tả đó và độ dài của mô tả ngắn nhất có thể có trong số tất cả các mô tả khả dĩ.

Thí dụ đo tính hiệu quả bằng hệ số "độ dài của mô tả ngắn nhất"/"độ dài của mô tả được xét". Khi đó hệ số càng gần 1, mô tả càng hiệu quả, hệ số càng nhỏ tính hiệu quả càng kém. Đôi khi ta không biết, không tính được độ dài của mô tả ngắn nhất, chúng ta vẫn có thể so sánh độ dài của những mô tả mà chúng ta biết được (tức là chỉ biết một số chứ không phải tất cả các mô tả) và tìm ra mô tả ngắn nhất trong số đó.

Đấy là một ước lượng (một cận trên) của độ dài tối thiểu và mô tả có độ dài đó là mô tả hiệu quả nhất trong số các mô tả mà chúng ta khảo sát. Và biết được ngần ấy nhiều khi cũng rất hữu ích rồi. Các loại vấn đề như thế có nhiều ứng dụng trong tin học, viễn thông và nay lan sang cả kinh tế và xã hội học!

Hãy xét các hiện tượng xã hội mà chúng ta cần mô tả bằng cách nào đó. Thí dụ gọi U là tập hợp của tất cả những việc mà công dân của một nước có thể làm; D là tập hợp tất cả những việc mà công dân được phép làm; C là tập hợp các việc bị cấm. Có ba cách tư duy khác nhau.

1) Cách thứ nhất: quy định C và định nghĩa D = U-C (D là tập bù của C), tức là người dân có thể làm tất cả những việc họ có thể làm (U) trừ những việc bị (luật pháp) cấm (C).

2) Cách thứ hai: quy định D, thí dụ bằng cách liệt kê những việc mà công dân được phép làm. Đây là kiểu tư duy "dân chỉ được làm những việc mà chính quyền cho phép".

3) Cách thứ ba: đồng thời quy định cả D lẫn C bằng mô tả nào đó, thí dụ liệt kê; tức là vừa "cho phép" vừa "cấm".

Vấn đề hóc búa ở đây là không ai có thể liệt kê tất cả các việc mà người dân có thể làm (U), vì giả như có thể thì xã hội sẽ chết, không thể phát triển được nữa. Con người luôn nghĩ ra những việc mới, sản phẩm mới, công nghệ mới, cách làm mới. Ta có thể định nghĩa chính xác tập hợp U bằng cách nêu tính chất của các thành tố của nó là "việc con người có thể làm", nhưng không thể xác định tất cả các thành phần của nó, chúng biến đổi theo thời gian.

Trong một xã hội bình thường, các việc bị cấm thường do các giá trị văn hoá, đạo đức quy định, và vì thế chúng tương đối ổn định, dễ xác định và quan trọng nhất là số lượng của chúng không nhiều ở nên có thể mô tả tương đối chính xác và hiệu quả. Thí dụ, giết người, cướp của, trộm cắp, buôn bán ma tuý... là những việc bị cấm trong hầu hết các nước, theo các nền văn hoá khác nhau; uống rượu bị cấm ở các nước theo đạo Hồi. Số các việc hay hành vi bị cấm thường không nhiều và khá ổn định, nên việc mô tả chúng (C) khá hiệu quả.

Cách tư duy thịnh hành, áp đảo của các nước dân chủ, phát triển, giàu có là cách tư duy thứ nhất. Luật pháp về cơ bản chỉ quy định một số không nhiều các việc cấm mà công dân nếu làm sẽ bị coi là vi phạm pháp luật và bị trừng trị. Do số lượng các việc trong C không nhiều và chúng tương đối ổn định, nên việc mô tả C dễ dàng, tương đối chính xác và hiệu quả; vì thế người dân dễ nhớ, dễ tránh, tức là việc thi hành dễ hơn (tinh thần thượng tôn pháp luật cao).

Cách tư duy thịnh hành, áp đảo của các chế độ chuyên chế, phi dân chủ là cách thứ hai. Do dân chỉ được làm những việc được quy định trong D, nên trên thực tế các việc còn lại, trong U-D, là bị cấm. Dẫu có kéo dài danh mục các thành phần của D đến đâu, thì U-D vẫn rất khó xác định và có thể vô cùng nhiều, vì thế hiệu quả mô tả rất kém. Cách mô tả này nếu muốn hữu hiệu thì D phải ít, đặc trưng cho chế độ toàn trị, mất tự do, nô lệ.

Cách tư duy thứ ba, vừa quy định cả D lẫn C, dẫn đến mâu thuẫn. Có những việc không bị cấm nhưng vẫn không được làm, tức là thực chất vẫn bị cấm. Nói cách khác cách tư duy này thực chất vẫn là cách tư duy thứ hai.

Lưu ý rằng chúng ta nói về tư duy thịnh hành, áp đảo, thí dụ, nếu tuyệt đại bộ phận luật được xây dựng theo một kiểu tư duy nào đó. Luôn có ngoại lệ, nhưng đã là ngoại lệ thì phải rất ít, chứ không thể thịnh hành hay áp đảo.

Và cuộc sống phức tạp hơn mọi lý thuyết, chính vì thế, nếu xét về hình thức, thì hình mẫu thứ 3 lại thường được dùng (nhưng chỉ cho các trường hợp ngoại lệ) và hình mẫu thịnh hành, áp đảo là hình mẫu tư duy theo kiểu 1 hoặc 2.

Thực tế cuộc sống bình thường cho thấy C có thể được mô tả hữu hiệu hơn do có ít thành tố, tức là tính hiệu quả mô tả của C gần 1, còn liệt kê hay xác định D, những việc (nên) được phép làm, khó hơn nhiều, tính hiệu quả mô tả của nó rất thấp. Nói cách khác cách tư duy thứ nhất ưu việt hơn hẳn.

Sự trì trệ của nhiều nước trong quá khứ xa và quá khứ gần phần nào có thể được giải thích bằng tư duy thịnh hành của nhà cầm quyền theo lối thứ hai, đôi khi theo lối thứ ba. Người dân thiếu tự do, không phát huy hết năng lực nội tại của mình và luôn luôn cảm thấy bị ức chế gây ra nhiều căn bệnh xã hội trầm kha, kinh tế trì trệ, văn hoá không phát triển, con người chưa được coi trọng đúng mức.

Hơn 20 năm đổi mới, chúng ta đã dần từ bỏ cách tư duy thứ 2 hoặc thứ 3 và cách tư duy thứ nhất ngày càng phổ biến. Thí dụ, đấy là tư duy của Luật Doanh nghiệp và các luật kinh tế khác đã làm thay đổi đáng kể bức tranh kinh tế của nước ta trong những năm qua. Bản thân Luật Khoa học Công nghệ về cơ bản cũng theo tư duy tiến bộ đó.

Tuy nhiên, một số tàn dư của quá khứ vẫn còn. Tư duy về một số nội dung của Quyết định 97/2009/QĐ-TTg về việc ban hành Danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học công nghệ, là một ví dụ. Đổi mới tư duy, kích tư duy xem ra là việc khó, nhưng đấy là nguồn năng lượng vô tận duy nhất của chúng ta để chấn hưng đất nước.
Nguyễn Quang A
Lao Động Cuối tuần số 32 Ngày 09/08/2009 Lúc 7:17 AM, 09/08/2009

Những tìm hiểu của KTS Trần Thanh Vân về Đại địa mạch quốc gia.

Chuyện 700 năm trước

Trong trận đánh Nguyên Mông lần thứ 3 năm 1288, có hai người “phạm lỗi” với Triều đình nhà Trần, nhưng đều đã lập nên chiến công lớn, góp phần không nhỏ vào việc đuổi giặc Nguyên Mông. Đó là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, con nuôi của vua Trần Thánh Tông và Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, con trai thứ 3 của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

Sách cũ kể rằng Trần Khánh Dư là người rất có tài, nhưng ăn nói thì quá mạnh bạo mà sinh hoạt thì hơi phóng túng, nên bị nhà Vua tước hết quan chức, bổng lộc và ông buộc phải về quê ở Chí Linh làm nghề bán than kiếm sống.

Nhưng cũng tại nơi đây, Trần Khánh Dư được phục chức và đã trở thành Phó tướng Vân Đồn. Ông đã chỉ huy quân ta phá tan đội thuyền tiếp tế lương thực của quân Nguyên Mông và góp công lớn vào trận chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng.

Võ đã giỏi, văn cũng hay, sau này Trần Khánh Dư là người viết lời tựa cho cuốn “Vạn Kiếp tông bí truyền thư” của Trần Hưng Đạo, ông viết như sau:

Người giỏi võ cầm quân thì không cần bày trận
Người giỏi bày trận thì không cần đánh
Người giỏi đánh thì không thua
Người khéo thua thì không chết

Sách cũ cũng kể rằng Trần Quốc Tảng là một người có tài đặc biệt về quân sự, nhưng vì lúc nhỏ luôn ở bên cạnh ông nội là Trần Liễu, nên Quốc Tảng từng có biểu hiện muốn cướp ngôi vua từ trong tay dòng thứ, để giành ngôi cho cha mình là dòng trưởng, khiến Trần Hưng Đạo giận, nên đã “đẩy” con trai đi trấn thủ tận Cửa Suốt, là một nơi ở rất xa Triều đình để tránh hậu hoạ.

Nhưng cũng tại nơi biên cương Tổ quốc này, Hưng Nhượng Vương đã lập nên kỳ tích trong trận thắng Bạch Đằng Giang năm 1288, khiến cho sau khi ngài qua đời năm 1313, nhân dân đồn rằng Đức Ông Trần Quốc Tảng hiện về nhắc nhở, nên đã xây Đền thờ Ngài cùng nhiều tướng lĩnh ở ngay trên đỉnh núi nhìn ra Bái Tử Long.

Ngày nay ngôi Đền Cửa Ông toạ lạc trên núi cao, không khác gì một trạm gác tiền tiêu nhìn ra Vịnh Bái Tử Long, khiến cho hậu thế có nhiều người thắc mắc rằng có thật là hai vị tướng danh tiếng đó do vì có tội nên bị điều ra tận nơi biên cương ấy, hay phải chăng đây cũng là một trong những “bí truyền thư” mà Đức Thánh Trần đã lưu lại để dạy bảo cho chúng ta?

Khi bí mật không còn là bí mật

Cách đây gần 10 năm, trên mạng thông tin quốc tế có một tấm bản đồ thật thú vị: Hình một con rồng rất đẹp mà đầu thì ở dãy núi Hy Mã Lạp Sơn (đỉnh Everest cao 8.888m nóc nhà của thế giới), lưng uốn theo hướng Tây Bắc Đông Nam của dãy núi cao thấp dần và đuôi xoè ra ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, sau đó đi xuống vùng Vịnh Bắc Bộ và đã kết thúc ở vùng đại dương sâu nhất thế giới (Vịnh Mindanao ở Philippines sâu 10.800m).

Đó là tấm sơ đồ sơn thuỷ ở phạm vi vĩ mô tầm thế giới. Thật kỳ diệu, các triền núi đó không thẳng băng mà uốn lượn như hình con rồng, tạo ra mạch núi và mạch nước tụ lại, rồi lan tỏa ở trên đồng bằng Bắc Bộ nước ta.

Thế mới biết tại sao vùng đất này luôn luôn bị người ngoài thèm khát và dòm ngó. Và thế mới biết sự uyên bác kỳ tài của Thiền sư Vạn Hạnh và Vua Lý Thái Tổ đã quyết rời bỏ Hoa Lư, để trở về vùng đất Thăng Long và triệt phá được thiên la địa võng mà Cao Biền đã trấn yểm trên thành Đại La cũ 200 năm trước.

Cho đến hôm nay, tất cả những người có chút hiểu biết về phong thủy và lý thuyết về địa mạch thì đã hiểu rằng tất cả mọi bí mật xa xưa về đường kinh mạch, về huyệt đạo linh thiêng mà chỉ có các thầy pháp cao tay mới nắm giữ được, thì nay đã bị phơi bày ra tất cả.

Cái chính là “thiên hạ” thì biết cả, nhưng những người trong cuộc có ý thức được vấn đề và có những giải pháp mạnh để làm chủ các lợi thế đó hay không?

Nhìn vào sơ đồ “vi địa mạch”

Trở lại với địa hình núi sông trên miền Bắc nước ta, thì có 8 dãy núi vòng cung tạo thành hình rẻ quạt là dãy Đông Triều, dãy Ngân Sơn, dãy Bắc Sơn, dãy Tam Đảo, dãy Sông Gâm, dãy Hoàng Liên Sơn , dãy Sông Đà và dãy Hoà Bình, trong đó Hoàng Liên Sơn nối từ Hy Mã Lạp Sơn về có đỉnh Phan xi păng cao nhất Đông Dương (3143m).

Hướng đi của các dãy núi đều hình thành các con sông như sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, sông Đà, sông Đuống, sông Cầu…

Thế nhưng các dãy núi chỉ “chầu” nên đều đã dừng lại từ xa, còn các con sông thì đã “tụ” lại ở Việt Trì và nối thông với nhau và tỏa ra ở chính vùng Thăng Long. Kỳ diệu hơn nữa là ở ngay trên đất Thăng Long đã “mọc” lên ba ngọn núi khác: đó là cụm núi Ba Vì linh thiêng đầy huyền thoại. Đỉnh núi này nhìn theo đường chim bay thì chỉ cách Hồ Tây chừng 25km.

Nhờ khoảng cách không quá xa, nên khi thuyền của vua Lý Thái Tổ đi từ sông Hồng qua sông Tô Lịch vừa rẽ vào Hồ Dâm Đàm từ làng Hồ Khẩu mùa xuân năm 1010, nhà vua có thể nhìn thấy rồng cuộn sóng bay lên, vừa nhìn thấy đỉnh Ba Vì, nên cái tên Thăng Long và tứ văn “Đắc Long bàn Hổ cứ chi thế, tiện núi sông hướng bối chi nghi” mới xuất hiện trong bản Thiên đô chiếu bất hủ.

Ngày nay, từ trên bản đồ vệ tinh, ta có thể dễ dàng tìm thấy đỉnh cao 1226m, nơi toạ lạc Đền Thượng, thờ Tản Viên Sơn Thánh, từ đó có một đường kinh mạch đi theo hướng chính Đông, qua khu vực Đền Kim Ngưu bên bờ Đầm Trị tiếp giáp với Hồ Tây, ra đến tận Cảng Vân Đồn và Vịnh biển Bái Tử Long, ở đó đã có đền Cửa Ông đầy linh thiêng mà nhân dân và hải quân ta hằng tôn thờ suốt 7 thế kỷ qua. Cảng Cửa Suốt của Đức Ông Trần Quốc Tảng xưa, đã và sẽ mãi mãi là một quân cảng quan trọng nơi Bờ Đông của Tổ quốc.

Cũng trên bản đồ vệ tinh, nếu nối một đường theo hướng Đông Bắc-Tây Nam mà mọi người quen gọi là Trục Thần Lộ đi từ đền Kim Ngưu bên bờ Đầm Trị, lên đến thành Cổ Loa- Kinh đô 2300 năm trước của vua An Dương Vương và cũng là Kinh đô hơn 1000 năm trước của vua Ngô Quyền, trên trục đó ta sẽ gặp phòng tuyến sông Như Nguyệt năm 1077 của Đại tướng Lý Thường Kiệt và Ngã ba sông Thiên Đức, nơi Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương lập đại bản doanh chỉ huy đánh quân Nguyên Mông năm 1284 và năm 1288.

Kỳ lạ thay, đường chéo này đi tiếp, rồi đi tiếp nữa, sẽ đến Đồng Đăng, cửa ải phía Bắc của Tổ quốc. Trong kinh dịch, hướng Đông Bắc là hướng Ngũ quỷ, lộc có nhiều mà hoạ cũng lắm, vậy nên chăng phải có đôi mắt tinh anh của Đức Thánh Trần chấn ngữ cửa ải này ?

Những người có chút tính hiếu kỳ không thể không kinh ngạc khi phát hiện ra trục kinh mạch nằm ngang ở 21 độ vĩ bắc 3’ 28’’ từ đỉnh Ba Vì và trục Thần Lộ nói trên lại gặp nhau ở chính vùng nước cạnh Phủ Tây Hồ mà mọi người vẫn thành kính gọi là huyệt đạo quốc gia.

Tại sao có cái tên đó? Tại vì nơi đó vẫn sủi bọt mỗi khi mực nước sông Hồng dâng cao, như thể hồ và sông là cái bình thông nhau. Nhiều người vẫn còn nhớ vào chiều thu nắng đẹp ngày 11/9/1955, người ta đã chứng kiến chính nơi đó đã có cột nước bất chợt phụt lên làm lật úp ba chiếc thuyền gỗ khiến 4 người bị thiệt mạng.

Tiến sĩ Vật lý Nguyễn Thế Hùng ở Viện Vật lý nghe mô tả lại hiện tượng đó thì đoán rằng chắc có kẻ nào đó đã chui xuống đáy hồ sờ soạng, khiến mạch nước có áp suất lớn bỗng bật lên như khi người ta mở nút chai rượu champagne?

Am Mỵ Châu thờ ai?

Lúc sinh thời, giáo sư sử học Trần Quốc Vượng rất hay được mời đi nói chuyện ở nơi này nơi khác. Với giọng nói đầy tự tin, giàu hình ảnh và hơi ngang ngang, giáo sư Vượng có cách truyền đạt ý tưởng rất thuyết phục, khiến cho người nghe chưa tin lắm mà vẫn phải tin, đặc biệt với người không theo học ngành sử, hiểu biết sử liệu rất ít mà cũng trở thành rất “am hiểu” về lịch sử. Xin kể đôi điều câu chuyện ông giải thích về am Mỵ Châu ở thành Cổ Loa như sau.

Trong một dịp ngày 8 tháng 3, chúng tôi được nghe một bài giảng của giáo sư Trần Quốc Vượng về tầm quan trọng của Cổ Loa Thành và am thờ nàng Công Chúa Mỵ Châu đối với Thủ đô của chúng ta.

Giọng đầy vẻ bí mật, giáo sư Vượng hỏi:

- Các cô có hiểu tại sao hơn 2000 năm qua, nhân dân ta, kể từ vua chúa đến thường dân đều thành kính thờ một người con gái cụt đầu có tên là Công chúa Mỵ Châu trong một cái am nho nhỏ ở Đền Cổ Loa hay không?

- Dạ không

Đó chính là ta thờ Người Mẹ Tổ Quốc của chúng ta đó. Chuyện tình duyên của Mỵ Châu Trọng Thuỷ là chuyện bịa đặt, nhưng chuyện dân tộc ta vì quá nhân hậu và thiếu cảnh giác nên trót đặt trái tim lên đầu để Triệu Đà cướp mất nước là có thật. Đạo gốc của dân tộc ta là Đạo Mẫu. Bản chất người mẹ là bản chất nhân hậu và dễ bị lừa.

Xưa kia dân tộc ta đã từng bị lừa, hiện nay cũng đang bị lừa và có thể ta còn bị lừa nữa, bởi vậy nàng Công Chúa Mỵ Châu cụt đầu là hiện thân của Người mẹ Tổ quốc đã và đang đau khổ nhắc ta phải luôn cảnh giác.”

- Vậy câu chuyện nỏ thần là có thật hay không?

- Không! Ta có một bí mật quốc gia quý hơn nỏ thần nhiều nhưng không ai ăn cắp được. Từ 2000 năm trước bí mật đó đã không còn là bí mật nữa rồi, nhưng kẻ thù đã từng ra sức phá. Hiện nay chúng cũng đang phá bằng khẩu hiệu “bài đế phản phong” để ta tự phá ta, để ta quên đi ta đang có báu vật trong tay.

- Vậy làm cách nào để khắc phục?

- Thiên cơ bất khả lộ. À, có cô nào thích xem tử vi không?

- Có ạ, có ạ!

- Tốt, tôi sẽ lập lá số cho từng người và sẽ có lời khuyên riêng từng người.

Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng rất giỏi khoa tử vi, ông chỉ hỏi ngày sinh tháng đẻ rồi bấm bấm ngón tay mấy cái là phán như thánh phán.

Ông cười nhạo, nói: “Tử vi liên quan đến số phận riêng của từng người thì ai cũng quan tâm, nhưng cứ giấu giấu giếm giếm như kẻ ăn vụng. Còn có cái khác quan trọng hơn Tử vi liên quan đến vận mệnh đất nước thì hễ ai quan tâm đều bị coi là nhảm nhí. Thế mới khổ!”

*Trần Thanh Vân

10 thg 8, 2009

Từ một chuyến công du bất ngờ

Việc cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton có chuyến công du bất ngờ đến Bình Nhưỡng nhằm giải cứu cho hai công dân Hoa Kỳ là một thông điệp có sức thuyết phục về ý tưởng thế nào là “nhà nước của dân, do dân và vì dân".

Voltaire có một câu nói thoạt nghe tưởng như cực đoan nhưng ngẫm kỹ thì thật là thâm thúy: “sự ngẫu nhiên là một từ không mấy ý nghĩa. Không có gì hiện hữu mà lại không có nguyên do”. Câu chuyện cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton có chuyến công du bất ngờ đến Bình Nhưỡng nhằm giải cứu cho hai công dân Hoa Kỳ Euna Lee và Laura Ling, xem ra có thể vận vào ý nghĩa thâm thúy nói trên.


Việc các nhà chức trách Mỹ giải cứu cho công dân của họ không là biệt lệ. Trước đây cũng từng có chuyến công du của Thượng nghị sĩ Bill Richarson đến Bình Nhưỡng để thương thuyết nhằm giải cứu một công dân Mỹ.

Trước đó, năm 1994, cựu Tổng thống Jimmy Carter đã có một sứ mạng tới Bình Nhưỡng, dẫn đến bước đột phá về thương lượng hạt nhân vào năm 2000. Vì vậy, ai cũng hiểu chuyến công du của vị cựu Tổng thống Mỹ không đơn thuần chỉ vì một mục tiêu trên mà thật ra chỉ là một khâu trong chuỗi thương thảo giữa hai bên nhằm mở ra một bước đột phá trong quan hệ Washington và Bình Nhưỡng.

Không khó để nhận ra những mục tiêu của chuyến công du này. Tuy người phát ngôn của Nhà Trắng gọi đây là hoạt động riêng tư, nhưng ai cũng thấy được rằng đây là chuyến thăm chính thức với chiếc áo khoác “riêng tư” nhằm giải quyết nhiều vấn đề trong đường lối đối ngoại của chính quyền Obama.

Điều này còn phải thận trọng tìm hiểu, ở đây chỉ bàn về chuyện “riêng tư” kia ở một khía cạnh khác: Khi người phát ngôn của Nhà trắng cho biết hai nữ phóng viên Mỹ đang ngồi cùng máy bay với cựu Tổng thống hướng tới thành phố Los Angeles thì tin này có ý nghĩa vượt ra khỏi những mục tiêu chính trị với những thủ thuật và giải pháp ngoại giao.

Về khách quan, nó khuyến cáo cho ý nghĩa nhân đạo, thể hiện mối quan tâm của nhà nước đối với công dân của họ đang lâm nạn. Nữ phóng viên đã từng đến Việt Nam để làm một phóng sự về nạn cúm gia cầm năm 2005, Laura Ling, xúc động kể lại: “Khi nhìn thấy ông Clinton, chúng tôi bị sốc thật sự, nhưng tôi hiểu ngay rằng 140 ngày buồn tủi sắp chấm dứt”..

Còn vị cựu Tổng thống đáng kính của họ thì chỉ giải thích đơn giản: “Công việc tôi đã làm là niềm vinh dự to lớn cho tôi với tư cách là một người Mỹ và một người cha. Đó là đưa những người phụ nữ trẻ ấy trở về nhà”. Clinton phát biểu như vậy ở trụ sở tổ chức Sáng kiến Toàn cầu Clinton tại New York hôm 6/8!
Và như thế cũng là quá đủ cho một chuyến công du “bất ngờ”!

Với công dân Mỹ, việc hai nữ phóng viên kia đã cùng bay về nước trên cùng chuyến bay với người đến giải cứu mình là thông điệp có ý nghĩa cổ vũ lòng tự hào và củng cố niềm tin: công dân trao quyền và đóng thuế để nuôi bộ máy nhà nước, thì nhà nước ấy là chỗ dựa tin cậy khi họ lâm nạn.

Gần đây nhất, báo chí Mỹ đã loan tin về những vụ tham nhũng và bê bối trong nhiều cơ quan hành pháp và tư pháp Hoa Kỳ. Thế nhưng, trong riêng chuyện này, không phải chỉ hai công dân Mỹ “hiểu ngay rằng 140 ngày buồn tủi sắp chấm dứt” khi họ nhìn thấy sự hiện diện của vị cựu Tổng thống của họ, mà những công dân Mỹ nói chung cũng được trấn an khi họ đang trong một thế giới đấy bất an này.

Trong một thế giới mà bọn khủng bố và lũ cướp biển đang gây ra bao thảm họa cho dân lành, ngoài chuyện cướp bóc còn phục vụ cho những ý đồ thâm độc, thì thông điệp nói trên có tác động trực tiếp đến tâm trạng bất an đó.

Một quan chức Nhà Trắng cho hay “chuyến công du của ông Clinton đến Bình Nhưỡng là một bảo đảm cho việc ân xá hai nhà báo Mỹ”. Việc có được “bảo đảm” ấy có thể không là mục tiêu chính trị lớn nhất đối với hoạt động đối ngoại mà Nhà Trắng toan tính, song với người dân Mỹ, đây là một thông điệp có sức thuyết phục về ý tưởng thế nào là “nhà nước của dân, do dân và vì dân” mà Abraham Lilcoln, vị Tổng thống thứ 16 của họ từng phát biểu tại Gettysburg năm 1863.

Xem ra, chính trị cao nhất và thiết thực nhất là an dân, trong trường hợp này của nước Mỹ là không bỏ mặc dân trong hoạn nạn.

Theo Tương Lai (TuanVN.net)

HIỂU ĐỜI

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới sống thanh thản, sống thoải mái.

Qua một ngày mất một ngày
Qua một ngày vui một ngày
Vui một ngày lãi một ngày

Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó.

“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc,cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.

Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình.
Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.
Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi.
Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ.
Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ.
Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.

Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách ấy. Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).

Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.
Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.
Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ nghĩ ra, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên.
Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.

Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.
Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.

Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; Tuổi không già tâm già, thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già.

Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu…. Mọi thứ đều nên “vừa phải”.

Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống….)
Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh)
Người khôn phòng bệnh , chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống.
Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh…. Tất cả đều là muộn.

Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.

Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh.

“Hoàn toàn khỏe mạnh”, đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.

Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cuộc sống lành mạnh.

Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên, nhiều màu sắc, có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.

Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.

Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già

Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.

Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn./.

Chu Dung Cơ

Học là gì và để làm gì?

(TT&VH) - “Hàng năm, mỗi khi trên trời có những đám mây bàng bạc là tôi lại bâng khuâng nhớ buổi tựu trường”, câu văn của Thanh Tịnh (tôi ghi theo trí nhớ, có thể không đúng nguyên văn). Hôm nay, mỗi khi trên trời có những “đám mây bàng bạc”, người Việt mình từ già đến trẻ, không bâng khuâng nhớ buổi tựu trường mà đăm đắm âu lo.

Người có học lo âu vì cảm thấy nền giáo dục chưa vượt qua cửa ngõ cải cách, dù đã làm đi làm lại nhiều lần, tiêu tốn hàng tỷ đô la, mà vẫn như đang loay hoay tìm đường trong khi các thế hệ lần lượt qua đi nhanh như vó câu qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu. Rất nhiều học sinh, sinh viên ra trường có chất lượng của một thứ bán thành phẩm cần được đào tạo lại, gọt giũa lại.

Người nghèo hay kẻ ít học mải lo cơm áo thì không quan tâm đến chất lượng giáo dục mà lo chạy chợ hay cày sâu cuốc bẫm nuôi con ăn học với hàng đống lo toan cơm áo gạo tiền, đóng góp các khoản.

Người giàu thì lo đôn đáo chạy tiền (kể cả tham nhũng), mong con chóng lớn cho trôi cái cấp cơ sở trong nước để tống chúng ra nước ngoài du học, dù biết chắc rằng chúng sẽ ở lại phục vụ nước người ta nếu thành tài, công lao mình nuôi dưỡng bao năm đút thêm được một thìa cơm đã mừng húm, cuối cùng chưa làm được gì cho Tổ Quốc đã bị người ta nẫng tay trên sử dụng.

Người già lo con cháu “nhất đại bất như nhất đại” (mỗi đời một tệ), tiếc cho trẻ con bị thiệt thòi không được hưởng một nền giáo dục như mình. Thật khó nhắm mắt xuôi tay khi thấy con không hơn cha, làm sao gọi là nhà có phúc!

Lớp trẻ thì lo một năm học cực khổ quá đi cày với những chiếc cặp sách nặng như cùm, với những giờ học thêm (đã bị cấm nhưng được biến tướng như kỳ nhông vẫn tồn tại khắp nơi), lo vượt qua các bài tập khó quá cỡ (ví dụ: cháu tôi, một học sinh lớp sáu phải làm bài “em hãy điểm qua những vụ bạo hành trẻ em trong năm 2008”), đến ông nó là nhà báo cũng bó tay! Lo làm sao qua những kỳ thi gian nan như đánh giặc, ông bà bố mẹ mất ăn mất ngủ hàng tháng trời thấp thỏm lo âu!

Người ta bàn cãi đã quá nhiều về giáo dục, đã quá nhiều tự hào về truyền thống hiếu học của dân ta, truyền thống học giỏi của học sinh ta. Tôi giật mình và muốn thắc mắc: học là gì nhỉ? Thực ra, học, dù học giỏi nhất thiên hạ đi nữa, chỉ là mới biết được những gì người ta đã nghĩ ra, đã biết mà thôi. Sáng tạo ra được gì, nghĩ ra điều gì, làm ra cái gì cho nhân loại mới là quan trọng chứ! Hỏi nước ta có truyền thống hiếu học nhưng đơn giản như cái xe đạp, cái máy khâu cũng không do người mình nghĩ ra! Bao nhiêu học sinh đạt giải quốc tế toán lý đi đâu cả rồi? Phải chăng không ít các em gọi là học giỏi ấy đang làm thuê cho mấy hãng nước ngoài mà giám đốc là những thằng bạn cũ học dốt hơn họ?

Học để biết, biết để sáng tạo chứ không phải để qua các kỳ thi. Sáng tạo không phải để kiếm cơm mà để phục vụ đất nước và nhân loại một cách thiết thực. Nếu ai cũng nghĩ như vậy thì có lẽ giáo dục đã có một bộ mặt mới.

Nguyễn Quang Thân

9 thg 8, 2009

Đập thủy điện ở Trung Quốc làm đảo lộn sông Mekong

(TuanVietNam) - Chưa có một hiệp định quốc tế nào đề cập đến việc khai thác các sông xuyên quốc gia, Trung Quốc đang nắm ưu thế, kiểm soát nước ở thượng nguồn sông Mekong.

Bài viết là những nghiên cứu và quan điểm cá nhân của Michael Richardson, học giả nghiên cứu tại Viện Đông Nam Á học có trụ sở tại Singapore về những ảnh hưởng của việc xây dựng đập thủy điện tại Trung Quốc.

Trở lại năm 1986, việc Trung Quốc bắt đầu xây dựng chuỗi các đập thủy điện đầu tiên không mấy thu hút được sự chú ý của các nước hạ lưu Đông Nam Á. Nhưng vào thời điểm hiện tại, khi Trung Quốc đang đẩy nhanh tiến độ xây dựng đập thủy điện thứ 4 ở thượng lưu sông Mekong thì những quan ngại về tác động của chúng tới môi trường trong khu vực ngày càng tăng.

Thêm vào đó, những bất đồng giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á khiến việc đưa ra một giải pháp có sự đồng thuận của cả 2 bên gần như là không thể.

Bốn quốc gia ở hạ lưu sông Mekong gồm Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, và Lào quan ngại trước việc Trung Quốc khai thác thủy lực của sông Mekong và thay đổi dòng chảy tự nhiên của nó trên quy mô lớn. Trên 60 triệu dân sống ven sông sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ bởi những hoạt động trên thượng nguồn.

Báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Viện Công nghệ châu Á (AIT) có cảnh báo rằng kế hoạch của Trung Quốc xây dựng 8 đập trên sông Mekong (phần chảy qua Trung Quốc có tên Lancang), có thể đe dọa đáng kể tới bản thân con sông cũng như tài nguyên tự nhiên của nó.

Vào tháng 6, Thủ tướng Thái Lan đã xuất trình một đệ đơn yêu cầu tạm dừng việc xây dựng đập. 11,000 người đã ký vào đơn, phần đông trong số đó là nông dân và ngư dân kiếm sống ven sông.

Có một số chuyên gia cho rằng nếu các bên đều nhìn nhận theo hướng phê phán vấn đề này thì quan hệ giữa Trung Quốc và láng giềng Đông Nam Á có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhưng với việc sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc ngày một tăng, chính phủ ở các quốc gia trên đã chọn giải pháp im lặng.

Lào, Campuchia và Thái Lan đã đề xuất các kế hoạch xây dựng đập trên những phần sông Mekong chảy qua địa phận nước mình. Trong khi đó, Việt Nam lên tiếng yêu cầu Trung Quốc xem xét các trường hợp môi trường địa phương bị ảnh hưởng bởi các đập ở thượng nguồn.

Rất nhiều người cho rằng Mekong là dòng sông của Đông Nam Á, nhưng thực ra khởi nguồn của nó là từ cao nguyên Tây Tạng. Một nửa chiều dài của nó chảy qua tỉnh Vân Nam Trung Quốc trước khi đi qua Đông Nam Á.

Vì hiện nay chưa có một hiệp định quốc tế nào đề cập đến việc khai thác các sông xuyên quốc gia, Trung Quốc đang nắm ưu thế, kiểm soát nước ở thượng nguồn sông Mekong. Trung Quốc có quyền phát triển phần sông chảy qua địa phận nước mình nếu thấy phù hợp và tự ý thực hiện không cần sự tư vấn của các quốc gia láng giềng, càng không cần sự đồng tình của họ.

Lưu vực sông Mekong nhận nước từ một diện tích 795,000 km2. Ủy hội sông Mekong (MRC) một tổ chức đa chính phủ thành lập năm 1995 bởi bốn nước hạ du sông Mekong đã ước tính rằng riêng tiềm năng thủy điện của hạ lưu đã lên tới con số khổng lồ 30,000 MW.

Nhưng MRC cũng nhận định rằng có những thách thức lớn trong việc cân bằng giữa lợi ích của việc xây đập là năng lượng sạch, dự trữ nước, và kiểm soát lũ với những tác động tiêu cực khác. Đó là việc di dân, ngăn cản dòng di chuyển lên xuống của cá, và thay đổi dòng chảy của nước và phù sa.

Các đập tại Vân Nam sẽ sản sinh ra 15,500 MW điện cho các thành phố và các nhà máy, giúp thay thế các nhiên liệu ô nhiễm mà cụ thể ở đây là than và dầu. Tám đập này có công suất tương đương với 30 nhà máy nhiệt điệt cỡ lớn.

Đập thứ 4 trên sông Mekong ở Trung Quốc tại Tiểu Loan (Xiaowan) sẽ hoàn thành vào năm 2012 với chi phí gần 4 tỉ đô la Mỹ. Tường đập sẽ giữ kỷ lục cao nhất thế giới với chiều cao 292m. Hồ chứa của nó sẽ chứa 15 tỉ m3 nước, gấp 5 lần khả năng lưu trữ của 3 đập còn lại cộng lại.

Kể từ cuối năm 2008, khi các kỹ sư Trung Quốc đóng cửa kênh rẽ nước của đập thủy điện Tiểu Loan, hồ nước đã được làm đầy để chuẩn bị cho việc chạy tuốc bin điện đầu tiên vào tháng 9. Khi đầy, diện tích hồ chứa vào khoảng trên 190 m2. Với khả năng sinh ra 4,200 MW điện, Tiểu Loan sẽ là đập lớn nhất trên sông Mekong.

Tuy nhiên Trung Quốc đang dự tính hoàn thành một đập khác dưới đập Tiểu Loan tại Nọa Trát Độ (Nouzhadu). Tuy không cao bằng nhưng nó sẽ chứa một thể tích nước lớn hơn gần 23 tỉ m3 và sinh ra 5,000 MW điện.

Giới chức Trung Quốc đảm bảo rằng các đập tại Vân Nam có những tác động tích cực đến môi trường. Họ nói bằng việc giữ nước lại trong mùa mưa, các đập sẽ giúp kiểm soát lũ lụt và xói lở bờ sông ở hạ du. Ngược lại, việc tháo nước từ bể chứa để sinh điện vào mùa hè sẽ cải thiện tình trạng thiếu nước ở hạ du sông Mekong vào mùa khô.

Tuy nhiên, theo báo cáo của UNEP-AIT, Tonle Sap, nơi trú ngụ của các loài cá hạ lưu sông Mekong, và đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa của Việt Nam, có nguy cơ gặp bất lợi do những thay đổi từ chu kỳ lũ lụt và hạn hán đặc biệt của sông Mekong.

Hồ Tonle Sap nối với sông Mekong bởi sông Tonle Sap. Các nhà khoa học đang lo lắng rằng việc giảm bớt dòng nước lũ tự nhiên của sông Mekong sẽ dẫn tới mực nước hồ bị xuống thấp, ảnh hưởng đến trữ lượng cá vốn đã và đang chịu sức ép từ việc khai thác quá mức và ô nhiễm môi trường.

Mối quan tâm của Việt Nam chính là lượng nước bị mất đi sẽ làm trầm trọng hóa vấn đề vùng trũng tại Đồng bằng sông Cửu Long đang bị nước biển xâm chiếm. Biến đổi khí hậu và hiện tượng tăng mực nước biển có thể dẫn đến nguy cơ một diện tích lớn đất canh tác nông nghiệp bị xâm thực và hàng triệu người phải chuyển chỗ vào cuối thế kỷ này.

Ủy hội sông Mekong (MRC) đã thảo luận hợp tác kỹ thuật với các chuyên gia Trung Quốc để đưa ra các nhận định, đánh giá về những thay đổi của hạ lưu sông dưới tác động của việc phát triển thủy điện.

Nhưng Trung Quốc từ chối việc tham gia MRC cũng như xem xét các hướng dẫn quản lý tài nguyên của MRC. Trung Quốc mong muốn vai trò của mình chỉ dừng lại ở mức đối tác đối thoại. Một khi trở thành viên chính thức của MRC, các kế hoạch đập thủy điện của Trung Quốc sẽ bị MRC phân tích chi tiết đồng thời sức ép lên Bắc Kinh sẽ gia tăng, khiến Trung Quốc phải xét đến lợi ích của các nước còn lại trong kế hoạch của mình.

Trong khi việc xây dựng đập tại Trung Quốc tiến triển theo đúng kế hoạch, các đề án tương tự tại các phần sông Mekong ở Đông Nam Á đã bị tạm dừng. Trước khi các nền kinh tế hướng xuất khẩu của châu Á bị tác động mạnh bởi khủng khoảng kinh tế toàn cầu, Campuchia, Lào, và Thái Lan đã thông báo các kế hoạch xây dựng đập tại hạ lưu sông Mekong.

Hiện nay tại Lào, sông Mekong sản xuất ra được trên 3,200 MW điện. Nhưng ngay cả việc sản xuất điện này cũng không tránh được tác động của cuộc khủng hoảng. Thái Lan, khách hàng tiêu thụ điện chính tại hạ du sông Mekong đã thông báo sẽ cắt giảm đáng kể lượng điện nhập khẩu từ Lào.

Mặt tích cực ở đây là chính lúc này, các nước Đông Nam Á có một khoảng lặng để nhìn nhận lại những ảnh hưởng của việc xây dựng đập trên sông Mekong đến cuộc sống của những người dân ở lưu vực sông. Tuy nhiên, không một kế hoạch quản lý sông Mekong thực sự hiệu quả nào có thể được đưa ra nếu không có sự tham gia đầy đủ của Trung Quốc.

Bắc Kinh đang có ý định hội nhập kinh tế sâu sắc hơn với các nước Đông Nam Á trong đó có việc hợp tác về thương mại, đầu tư, truyền thông, vận tải, và năng lượng với các nước tiểu vùng sông Mekong. Nhưng chiến lược này có thể đem lại kết quả ngược lại sự mong đợi nếu các nước trong khu vực đưa ra kết luận rằng các đập thủy điện của Trung Quốc đang có tác động ngược đến sự phát triển của họ trong tương lai.

* Quỳnh Anh (dịch từ Yaleglobal.yale.edu)

4 thg 8, 2009

Ảnh hưởng của đập Tiểu Loan (Trung Quốc) trên thượng nguồn

Đập Tiểu Loan của Trung Quốc trên thượng nguồn sông Mêkông có thể tác hại nặng nề đến Việt Nam và các nước hạ nguồn.
Tai họa mà các con đập của Trung Quốc ở bên trên dòng sông Mêkông gây ra cho các quốc gia phiá dưới đã từng được gợi lên, nhưng lần này hiểm họa được cho là sẽ nghiêm trọng hẳn lên vì Bắc Kinh chuẩn bị cho vận hành một con đập thứ tư, lớn hơn rất nhiều so với các con đập Mạn Loan, Cảnh Hồng và Đại Chiếu Sơn đã đi vào hoạt động.

Trong tháng 07/2009 vừa qua, nhiều bài viết khác nhau đã liên tiếp được công bố nhằm đánh động công luận về các tác hại của các con đập nói chung và đặc biệt là loạt đập nước mà Trung Quốc xây dựng trên thượng nguồn sông Mêkông, đối với môi trường và đời sống các cư dân ở vùng hạ lưu là Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam.

Đáng chú ý hơn cả là bài “Đập tại Trung Quốc biến Mêkông thành dòng sông bất hoà’’ của nhà nghiên cứu Michael Richardson, thuộc Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á tại Singapore, đăng trên trang web YaleGlobal của trường Đại Học Yale (Hoa Kỳ) ngày 16/07/2009, và bài “Đập thủy điện đe dọa hàng triệu sinh linh bên dòng Mêkông’’ của Cơ quan phân tích thông tin nhân đạo IRIN thuộc Văn Phòng điều phối các vấn đề Nhân đạo của Liên Hiệp Quốc, công bố ngày 22/07.

Tai họa mà các con đập của Trung Quốc ở bên trên dòng sông Mêkông gây ra cho các quốc gia phía dưới đã từng được nhiều quan sát viên gợi lên, nhưng lần này hiểm họa được cho là sẽ nghiêm trọng hẳn lên vì chính quyền Bắc Kinh chuẩn bị cho vận hành một con đập thứ tư chắn ngang sông Mêkông, to lớn hơn rất nhiều so với các con đập Mạn Loan, Cảnh Hồng và Đại Chiếu Sơn đã đi vào hoạt động.

Đó là đập Tiểu Loan (phiên âm tiếng Anh là Xiaowan), cao 292 thước, tức là gần bằng tháp Eiffel Paris, công suất dự trù 4.200 Mêgawatt, hơn gấp ba lần công suất của ba đập nước đang vận hành. Điều đáng lo ngại hơn cả là dung lượng cực lớn của hồ chứa nước của con đập Tiểu Loan, lên đến 15 tỷ thước khối, tức là gấp năm lần tổng dung lượng của ba con đập đã hoàn thành trước cộng lại.

Cơn khát năng lượng của Trung Quốc đã thúc đẩy nước này hoàn tất công trình xây đập Tiểu Loan sớm hơn một năm. Đập này đã bắt đầu lấy nước vào hồ chứa và chuẩn bị cho chạy tổ máy phát điện đầu tiên vào tháng 9/2009 ! Song song với Tiểu Loan, một con đập khác cũng đang được Bắc Kinh ráo riết thi công là đập Nọa Trác Độ (Nuozhadu), còn to lớn hơn, với hồ chứa hút tới gần 23 tỷ mét khối nước, gần gấp đôi hồ Tiểu Loan. Theo kế hoạch, con đập đó sẽ hoàn tất vào năm 2014 !

Nguy cơ nước sông Mêkông bị các đập thuỷ điện Trung Quốc ở đầu dòng hút hết là một trong những vấn đề từng được các nhà nghiên cứu nêu bật từ mấy năm nay, với những hậu quả khôn lường đối với các nước thiếu may mắn nằm ở dưới hạ lưu trong đó có Việt Nam.

Vào tháng Năm vừa qua, một công trình nghiên cứu hỗn hợp giữa Cơ quan Bảo vệ Môi trường Liên Hiệp Quốc UNEP và Viện Công Nghệ học Châu Á AIT đã công khai cảnh cáo rằng kế hoạch xây dựng 8 con đập trên thượng nguồn sông Mêkông có thể trở thành một “mối đe dọa đáng kể” cho dòng sông và nguồn tài nguyên thiên nhiên đến từ con sông, nêu bật nguy cơ đối với Việt Nam và Cam Bốt.

Đối với Việt Nam, việc lưu lượng nước sông Mêkông bị giảm do bị đập nước Trung Quốc hút từ trên thượng nguồn sẽ làm gia tăng hiểm họa vùng đồng bằng sông Cửu Long bị nước biễn tràn vào, và đất đai bị hoá phèn, không trồng trọt được. Cộng thêm với nguy cơ mực nước biển dâng lên do biến đổi khí hậu, những diện tích canh tác rộng lớn có thể sẽ bị ngập lụt, buộc hàng triệu con người phải di tản. Đồng Bằng sông Cửu Long vốn là vựa thóc của cả nước, các thiệt hại sẽ cực kỳ nghiêm trọng.

Đối với Cam Bốt, tình hình cũng không sáng sủa hơn. Mực nước sông Mêkông bị giảm sẽ đe doạ đến Biển Hồ, vựa cá của toàn vùng, khiến cho kế sinh nhai của hàng triệu ngư dân bên dòng Mêkông bị tổn hại.

Lẽ dĩ nhiên là phiá Trung Quốc đã nhất loạt bênh vực cho các con đập của họ, cho rằng các công trình này sẽ ảnh hưởng tích cực đến môi trường khu vực. Các hồ chứa sẽ giúp điều hoà mực nước sông Mêkông, giảm được lượng nước chẩy vào mùa mưa, giúp các nước phiá dưới không bị lụt, giúp cho bờ sông không bị sói mòn. Còn trong mùa khô, nước xả ra từ các đập thuỷ điện sẽ giúp các quốc gia hạ nguồn không bị khô hạn.

Vấn đề trên lý thuyết là như vậy, nhưng trong thực tế thì theo giới bảo vệ môi trường trong khu vực, thì chỉ mới có ba con đập nhỏ đi vào hoạt động mà thôi mà tác động tiêu cực đối với các nước ở phiá dưới đã xuất hiện, chẳng hạn như nguồn cá đã giảm sút hẳn trong lúc hiện tượng bờ sông bị sạt lở vì sói mòn đã phát sinh từ Miến Điện qua miền Bắc Thái Lan và miền Bắc Lào.

Vấn đề đặt ra hiện nay là những lời báo động chủ yếu đến từ xã hội công dân, từ các tổ chức phi chính phủ, trong lúc chính quyền các nước hạ nguồn sông Mêkông tránh trực diện đối đầu với Trung Quốc trên vấn đề này. Ủy Ban Sông Mekong, một định chế liên chính phủ tập hợp 4 nước hạ nguồn sông Mêkông tuy rất quan tâm đến hồ sơ, nhưng lại không có uy thế gì đối với Trung Quốc.

Theo nhà nghiên cứu Micheal Richardson, cho đến nay, Trung Quốc chỉ đồng ý làm “đối tác đối thoại” của Ủy Ban sông Mêkông mà tránh không gia nhập định chế này hay tuân thủ những quy định hướng dẫn quản lý tài nguyên thiên của Uỷ Ban. Theo Richardson, quy chế thành viên sẽ khiến cho kế hoạch xây đập của Trung Quốc trên thượng nguồn dòng Mêkông bị các nước Đông Nam Á ở hạ nguồn giám sát kỹ lưỡng hơn, qua đó gây sức ép buộc Bắc Kinh quan tâm đến quyền lợi của họ.

Để hiểu rõ hơn về tác hại của đập Tiểu Loan cũng như các con đập khác trên thượng nguồn sông Mêkông đối với Việt Nam, RFI đã đặt câu hỏi cho chuyên viên môi trường Nguyễn Đức Hiệp tại Úc. Mời quý vị nghe toàn bộ bài phỏng vấn .

Theo Trọng Nghĩa (RFI)

27 thg 7, 2009

THƠ TÂN HÌNH THỨC -

Tân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.

Thơ Tân Hình Thức có những đặc tính sau đây:
- Thơ không vần, nhịp điệu hoàn toàn khác với thơ cổ điển, nhưng được trình bày trên trang giấy như một bài thơ truyền thống : nhìn vào thì nhận ra ngay là thơ.

- Mỗi dòng như thơ cổ điển, gồm 5,6, thường là 7, 8 chữ (âm), có khi là lục bát, có thể xếp thành khổ 4 (hay nhiều) dòng. Cứ đến số chữ quy định là xuống dòng, không cần tôn trọng cú pháp, ý nghĩa của câu nói. Từ khổ trên xuống khổ dưới cũng vậy, và cứ vậy tiếp tục. Khi có, khi không chấm câu.

- Để xâu kết câu nói, các tác giả thường kể chuyện, chuyện nọ xọ chuyện kia, khi có khi không mạch lạc.

- Từ vựng đời thường, thông tục, có khi tục, của người bình thường sử dụng hằng ngày, trong sinh hoạt cụ thể. Không có mỹ từ pháp cổ điển như ẩn dụ, hoán dụ, biền ngẫu, nhưng có luyến láy để tạo nhịp cho câu nói.

Các tác giả tỏ ra hãnh diện về điều này, là đưa cuộc sống vào thơ, làm sống chất thơ trong cuộc sống, như vậy là cách tân, thậm chí là cách mạng. “Nếu không mang được những câu nói thông thường vào thơ thì làm sao mang được đời sống vào thơ? Và nếu không thì làm sao chia sẻ được nỗi vui buồn của mọi tầng lớp xã hội, để thơ trở thành tiếng nói của thời đại?”(1)

Trong chừng mực nào đó, họ có lý. Thơ tân hình thức là một loại ca dao tân thời, không phải thứ ca dao đã trở thành văn học được chọn lọc và giảng dạy ở nhà trường qua lăng kính thẩm mỹ trí thức, mà câu ca dao do người dân quê phát biểu trong đời sống, để sống đời sống hằng ngày. Ví dụ câu ru em này có hai thoại:

Thoại A, gần với thơ Tân Hình Thức:
Hai tay cầm bốn tao nôi
Tao mô thẳng thì thôi
Tao mô dùi thì sửa lại cho cân

Thoại B, gần với thơ truyền thống:
Hai tay cầm bốn tao nôi
Tao thẳng, tao dùi, tao nhớ, tao thương

Thơ Nôm Nguyễn Khuyến:
Năm nay cày cấy vẫn chân thua
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa
Phần thuế quan thu, phần trả nợ
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Đây là một bài thơ đường luật chỉnh chu, thậm chí là sắc sảo trong lề lối của nó. Nhưng đặt ra ngoài niêm luật, thì nó rất “tân hình thức”, trong lý tưởng thâm trầm nhất: đưa lời thường và đời thường vào thơ. Cụ Tam Nguyên mà sống vào thời này tí toáy nghịch thơ Tân Hình Thức, e các cụ Đỗ Kh., Nguyễn Đăng Thường phải sĩ khí rụt rè, và cụ Khế Iêm khỏi bỏ công viết cả mấy trăm trang dài thoòng biện hộ cho “hiệu ứng cánh bướm”.(2)

Ngoài ra, theo tôi, người làm thơ Tân Hình Thức đầu tiên là Nguyễn Văn Vĩnh, khi năm 1914 ông hạ bút viết câu ‘Ve sầu kêu ve ve’, là tân hình thức hết nấc.
Ngược lại, câu vè dân gian: Nghe vẻ nghe ve /Nghe vè đánh bạc /Đầu hôm xao xác lại là một câu vần vè cổ điển, gần với thi ca truyền thống.

Nguyễn Văn Vĩnh tiết lộ: trước khi dịch bài ngụ ngôn của La Fontaine, Con Ve và Con Kiến, ông chưa hề làm thơ, nghĩa là chưa tập tành. Câu ve sầu kêu ve ve có lẽ đến tự nhiên, theo ý câu tiếng Pháp, ông Vĩnh không có ý đồ cách tân, tham vọng văn học gì. Nhưng vô hình trung, ông đã thay đổi tương quan giữa thơ và cuộc sống, và bẻ một bước ngoặt trong tâm thức văn học Việt Nam, dù rằng, trong thực tế câu thơ ấy không mấy ảnh hưởng vào văn học. Các nhà thơ sau này mới có ý thức và dụng công cách tân rõ rệt hơn.

Kỹ thuật vắt dòng, hay bắc cầu (enjambement) thường gặp trong Thơ Mới, là một kinh nghiệm tiếp thu từ thơ Pháp, làm nổi bật một từ ngữ, hình ảnh nào đó. Đến Bích Khê (1915-1946) thì lối vắt dòng trở thành một thi pháp toàn diện, có giá trị thẩm mỹ riêng (dùng chữ ngắt dòng có lẽ đúng hơn là vắt dòng) như bài Duy Tân (1941):

Người họa điệu với thiên nhiên, ân ái
Buồn, và xanh trời. (Tôi trôi với bờ
Êm biếc - khóc với thu - lời úa ngô
Vàng - Khi cách biệt - giữa hồn xây mộ -
Tình hôm qua - dài hôm nay thương nhớ...)

Trong bài tựa Thơ Bích Khê (1988), Chế Lan Viên thừa nhận là do ảnh hưởng thơ Bích Khê, ông đã làm bài Tập Qua Hàng:
Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ
Trở về. Nắng sáng cũng mong. Cây
Cũng nhớ. Ngõ cũng chờ. Và bướm
Cũng thêm màu trên cánh đang bay(3)

Bài này chưa “tân hình thức” vì còn vần cây - bay, nhưng vần ở đây, không có tác dụng gì. Bỏ vần đi, thay chữ cây bằng vườn, và xếp đặt lại, ta sẽ có:

Chỉ một ngày nữa thôi em sẽ
trở về nắng sáng cũng mong vườn
cũng nhớ ngõ cũng chờ và bướm
cũng thêm màu trên cánh đang bay

Bài thơ dưới dạng này, mà gửi đăng Tạp Chí Thơ thì tuyệt!
Nói vậy để thấy trong thơ, ranh giới giữa trường phái này trường phái khác, cựu nọ tân kia, không phải lúc nào cũng rạch ròi. Trong tinh thần đó Tân Hình Thức là một biến thái của trường thơ dân tộc; và chúng tôi tâm đắc với Khế Iêm khi anh viết “Nhìn lại mọi thời kỳ, từ truyện thống đến tự do và Tân Hình Thức, Thơ như sợi chỉ xuyên suốt, luôn luôn đổi thay, phù hợp với nhịp đập của thời đại”.(4) Là một trong những người chủ xướng, có lẽ là người tận tụy nhất với Tân Hình Thức, anh tâm sự: “Mỗi thời kỳ văn học đều có quan điểm thẩm mỹ và giá trị lịch sử của nó, vì không ai có thể phủ nhận. Nhưng có điều nghich lý là tiến trình sáng tạo cũng là tiến trình phủ nhận. Những điều chúng tôi nêu ra trong thơ tiền chiến hay tự do cũng chỉ là thể hiện tiến trình phủ nhận chính mình vì chúng tôi đã từng sáng tác thơ vần điệu và tự do trước khi chuyển qua Tân Hình Thức”(5) (Khế Iêm đã xuất bản hai tập thơ là Thanh Xuân 1992, làm theo vần điệu và Dấu Quê 1996, làm theo thể tự do).

Ngay ở Hoa Kỳ, Tân Hình Thức cũng là một thuật ngữ mới xuất hiện trong thập niên 1980 dưới dạng New formalism. Đến 1996 mới có 25 nhà thơ ra mắt dưới danh xưng New formalism như hiện nay, với tập thi tuyển Những Thiên Thần Nổi Loạn.(6) Nhưng dường như Thơ Tân Hình Thức lại bắt nguồn từ Pháp, từ thi phẩm của Jean Ristat, Từ Khúc Giục Mùa Xuân Rảo Bước (Ode pour hâter la venue du Printemps), đăng nhiều kỳ trên báo La Nouvelle Critique giữa 1977-1978. Thể thơ thông dụng ở Pháp là Alexandrin, 12 chân (âm) và tiếng Pháp đa âm. Tác giả cứ mỗi dòng 12 chân thì xuống hàng, bất chấp cú pháp và từ vựng. Đỗ Kh. đã dịch bài thơ dài này, cũng bằng cách xuống dòng, dưới dạng lục bát, có lẽ vì nó “dân tộc”: đến chữ thứ sáu thì xuống dòng tám chữ, cứ như thế & như thế suốt non một ngàn câu.(7) Bản dịch có trích đoạn đăng rải rác trên các báo như Hợp Lưu, Tạp chí Thơ, số 2 (1994), số 18 (2000). Nhà thơ Nguyễn Đăng Thường, ở Luân Đôn, hợp tác vào bản dịch, tâm đắc và cao hứng làm một bài thơ dài, 31 khổ 5 câu, cũng theo lối xuống dòng tân hình thức, nhưng chọn thể thất ngôn, là bài Những Nụ Hồng của Máu, được đánh giá là tân kỳ và đặc sắc. Bài thơ đăng trên báo Thế Kỷ 21 số 27, tháng 7 năm 1991, California, có lẽ là tác phẩm thơ Tân Hình Thức đầu tiên cùng với bản dịch của Đỗ Kh. mà gần đây Nguyễn Đăng Thường đã in lại, theo dạng thủ công nghệ, dưới tên nhà xuất bản Giọt Sương Hoa.

Cuối dịch phẩm Đỗ Kh. đã cẩn thận ghi chú bối cảnh chính trị của bài thơ, Jean Ristat làm để góp phần vào tham vọng “đổi mới” của Đảng Cộng Sản Pháp trước thềm Đại Hội thứ 22 đầu năm 1977, do đó mà có hình ảnh giục giã mùa xuân. Anh còn nói thêm: Ode, dĩ nhiên, còn là một bài thơ tình. Jean Ristat là bạn trai của Aragon, là bí thư và là người thừa kế di sản văn chương của Aragon, và bài thơ có âm hưởng đồng tính luyến ái. Nói rộng ra, phong trào Tân Hình Thức tại Âu Mỹ nằm trong một khí quyển văn hóa đặc biệt, bên cạnh các phong trào Nữ Quyền, Quyền Đồng Tính luyến ái, Phản Chiến, thậm chí có cả cao trào Hội Chứng (Chiến Tranh) Việt Nam.

Cho nên khi Tạp Chí Thơ công bố: “Tân Hình Thức là một cuộc hòa điệu giữa quá khứ và hiện tại, giữa truyền thống và tự do, giữa nhiều nền văn hóa khác biệt, và ở phần sâu xa hơn, hóa giải những mầm mối phân tranh đã ăn sâu vào ký ức, chẳng phải của một dân tộc mà của cả nhân loại từ hàng trăm năm trước. Chúng ta với thời gian hơn một phần tư thế kỷ, có may mắn cận kề và học hỏi những cái hay của nền văn hóa bao quanh, áp dụng những yếu tố thích hợp vào ngôn ngữ, để làm giàu cho nền thơ Việt»(8), lời văn có vẻ đại ngôn, nhưng là tâm nguyện chân thành. Các tác giả là những người có ý thức sâu sắc về văn học, và trách nhiệm của họ, họ xả thân (và tài chánh) cho thơ mà không có một tham vọng chính trị hay văn học nào. Thậm chí, sau cả thập niên cố gắng, họ vẫn âm thầm làm việc trong đơn độc, có khi là đố kị, không được như những người chủ xướng nhóm Đa Đa tại Âu Châu hồi đầu thế kỷ trước, hay nhóm Xuân Thu Nhã Tập, tại Việt Nam về sau.

Nghiệm cho cùng, thơ và người đều có tử vi. Phan Khôi đã nổi danh với bài Tình Già đăng năm 1932 trên Phụ Nữ Tân Văn. Ngày nay, e không báo nào đăng một bài gọi là thơ như Tình Già; mà có đăng thì sẽ không có tiếng vang. Lỡ có tiếng vang e chỉ gây phiền hà cho tác giả. Cụ Phan dù tái sinh, e cũng đành dứt hương thề.

Gần đây, nhà thơ Chân Phương, trước kia cùng lò Tạp Chí Thơ có bài phê bình gắt gao trường phái Tân Hình Thức Việt Nam, cho rằng bắt chước không phải phép, biến trò vắt dòng thành một tiểu xảo máy móc thiếu suy nghĩ.(9) Theo tôi thì các nhà thơ Tân Hình Thức Việt Nam cũng “tôn trọng ước lệ và cách luật” ít nhất là trong tiềm thức. Chỉ lấy ví dụ trên Tạp Chí Thơ số 20 đã dẫn, thì bài Giữa Những Dòng Thơ của Phan Tấn Hải cấu trúc chìm là thơ 5 chữ, Con Mèo Đen của Khế Iêm là thơ 8 chữ, Mưa Muộn của Nguyễn Thị Thanh Bình là thơ 7 chữ. Có người sẽ hỏi: như vậy vắt dòng làm gì. Trả lời: vắt dòng là thành phần hữu cơ trong toàn bộ kỹ thuật Tân Hình Thức. Có khi gây hứng thú, như bài Những Nụ Hồng của Máu của Nguyễn Đăng Thường đã nói ở đoạn trên; mở đầu như sau:

Mười ngàn lẻ một đêm mưa trước
Ngày chúa bị đóng đinh trên cây
Vĩ cầm buổi trưa hôm đó có
Một tia nắng khẳng khiu chiếu dọi
Qua khung cửa tò vò rơi trúng...

Hứng thú vì đọc kiểu gì, vắt hay không vắt dòng, thơ vẫn hay. Như vậy, khen tác giả tài tình cũng được, chê tác giả ăn gian, bắt cá hai tay cũng xong. Anh tự sự:
“Bài thơ dài (dòng) vì tôi rất mong muốn với vài ba người nó sẽ là một thứ Chanson du Mal Aimé, hoặc Giây phút chạnh lòng hay Le condamné à Mort của một thời kỳ, thời đại nhiễu nhương. ‘Những Nụ Hồng của Máu’ là một ca khúc đầy ‘âm thanh và cuồng nộ’, là thơ tình, thơ lãng mạn, thơ hài, thơ châm, thơ hiện thực, siêu thực, thơ hạng nhất, thơ hạng bét hay không thơ (tùy người đọc), là tiểu thuyết ba xu, là soap opera, là film noir, cải lương, hát bộ, TV, phim thời sự, là một tranh cắt dán hàm bà lằng, hay đầy nghệ thuật (tùy vào người xem) với những cóp nhặt từ đông tây kim cổ”(10) (Những bài thơ Nguyễn Đăng Thường nhắc đến là của Apollinaire, Thế Lữ và Genet).

Và hứng thú ở chỗ này nữa: Nguyễn Đăng Thường vô hình trung đã đưa ra một định nghĩa linh động và cụ thể về thơ Tân Hình Thức, mà anh không ngờ tới. Ngoài ra Tân Hình Thức không cắt đứt với truyền thống, ngược lại còn đa mang, hỗn mang hằm bà lằng quá khứ.

*
Cao đẹp thay dụng tâm đưa lời thường, và đời thường, vào thơ. Khốn nỗi, đời thường, ai biết là đời nào đây?

Cùng một chuyến Tân Hình Thức, cô Mai Ninh làm thơ trên du thuyền trên sông Nil, cô Trọng Tuyến làm thơ giữa một hội nghị khoa học tại Nhật, cô Thanh Bình ngược con đường gió trên cánh đồng xuân đến nhà ông Đinh Cường, khi ông này làm thơ trong lúc vẽ tranh tại Virginia; cô Ngọc Nhung làm thơ khi đi chợ đêm mua băng vệ sinh tại Quận Cam, ông Đỗ Minh Tuấn làm thơ lúc chữa ống nước tại Hà Nội, ông Đỗ Kh. vừa làm thơ, vừa làm tình rải rác đó đây trên thế giới rồi chép miệng sướng cũng chẳng có nhiều... Vậy đời nào là đời thường? Lời nào là lời thường?

Do đó mà thơ Tân Hình Thức ỳ à ỳ ạch. Trong thơ truyền thống, từ Nguyễn Trãi đến Xuân Diệu cách nhau năm trăm năm, câu thơ không khác nhau bao nhiêu. Giữa hai ông Lưu Hy Lạc và Phan Nhiên Hạo, cách nhau vài buổi chiều, vài con đường, sao mà thơ khác biệt nhau quá!(11)

Đ.T
(244/06-09)


-------------
1. Tạp Chí Thơ, số 20, tr .73, 2001, California.
2. Khế Iêm, Tân Hình Thức, tr. 35-74, nxb Văn Mới, 2003, California. Sách lý thuyết về thơ Tân Hình Thức, 180 trang.
3. Chế Lan Viên, Tuyển Tập, tr.282, nxb Văn Học, 1983, bài này trích từ tập Hái Theo Mùa, 1973-1977.
4. Khế Iêm, Tân Hình Thức, sđd, tr. 19.
5. Khế Iêm, Tạp Chí Thơ, tr.114, số 21, 2001, California.
6. Mark Jarman và David Mason ấn hành, Rebel Angels, nxb Story Line Press, 1996, Oregon, tái bản 1998.
7. Jean Ristat, Ode pour hâter la venue du Printemps, nxb Gallimard, 1978, Bản dịch Đỗ Kh. Đoản Khúc để mùa Xuân đến vội, nxb Giọt Sương Hoa, 2001, London.
8. Tạp chí Thơ, số 20, sđd, tr.75.
9. Chân Phương, Tạp Chí Văn Học, tr.74, số 226, tháng 7- 8, 2005, California.
10. Nguyễn Đăng Thường, Tạp chí Thơ, tr.124, số 18 năm 2000.
11. Cho đến hôm nay, tôi biết có ba tập Thơ Hình Thức đã xuất bản: Trong nước: Đoàn Minh Hải, Đại Nguyện của Đá, 2002. Tại Hoa Kỳ: Lưu Hy Lạc, 26 Bài Thơ Tân Hình Thức, Giọt Sương Hoa, 2002; Hà Nguyên Du, Gene Đại Dương, nxb Tạp Chí Thơ, 2003.

Theo tác giả Đặng Tiến - Tạp chí Sông Hương.com.vn

26 thg 7, 2009

TÔI ĐƯỢC "GẶP" LINH HỒN NGƯỜI THÂN QUA NHÀ NGOẠI CẢM BÍCH HẰNG

Tôi quen Phan Thị Bích Hằng qua Vũ Huy Hùng. Chú Hùng là Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty đầu tư phát triển nhà Hà Nội mà từ lâu tôi quý như em.

Đắc Trung
1
Thật ra từ trước đó mấy năm, được nghe không ít người nói, đọc không ít bài viết và qua không ít băng ghi âm, ghi hình về Phan Thị Bích Hằng cùng một số nhà ngoại cảm khác như Đỗ Bá Hiệp, Nguyễn Văn Liên, Nguyễn Thị Phương, Nguyễn Văn Nhã ... với những khả năng đặc biệt kỳ diệu của họ và bằng những khả năng Trời ban ấy họ đã làm được biết bao việc đức, tìm được hàng vạn hài cốt liệt sĩ, hàng trăm phần mộ thất lạc đem hạnh phúc vô giá cho biết bao gia đình. Trong thâm tâm tôi rất kính phục họ`và muốn có dịp được làm quen để tỏ lòng ngưỡng mộ, để tìm hiểu về họ, về ngoại cảm - một lĩnh vực khoa học rất mới mẻ này. Nhưng cho đến lúc ấy tôi chỉ mới “có duyên” được thân thiết với anh Đỗ Bá Hiệp. Giờ được Hùng nhận lời giới thiệu với Phan Thị Bích Hằng, tôi mừng lắm.

Tối 12 tháng 2 năm 2006 Hùng đón. Hai chúng tôi đến thăm Bích Hằng ở nhà riêng. Đã hẹn trước, cả nhà đón tiếp rất vui vẻ. Tuấn, chồng Hằng, kỹ sư điện tử viễn thông, đẹp trai, hiền, ít nói. Hai “cậu cưng” 7 tuổi và 3 tuổi rất xinh và hiếu động. Hằng da trắng, mũi thẳng, mắt đen, dịu dàng. Chỉ tiếp xúc mươi phút thôi cũng nhận ra ngay đó là một cô gái thông minh và tháo vát. Hằng kém con gái đầu của tôi hai tuổi. Vợ chồng Hằng rất thân với Hùng. Sau đó qua trò chuyện lại biết thêm tôi đã từng quen bố của Hằng khi ông còn công tác trong quân đội. Thế là chú cháu chúng tôi trở nên thân thiết.

Rồi tôi và Hùng về quê Hằng ở Yên Khánh, Ninh Binh thăm bố cô khi ông đau bệnh, về chia buồn tiễn biệt khi ông qua đời. Hàng năm trời anh em, chú cháu chúng tôi gặp gỡ giao lưu. Được nghe Hằng kể về mình, được những người bạn gần gũi kể về cô và đặc biệt được nghe mẹ của Hằng, một cô giáo dạy văn rất khiêm nhường, nhân hậu và chân thật kể về Hằng từ bé đến lớn, nhất là những năm tháng tai hoạ giáng xuống. Hằng bị chó dại cắn phát bệnh, lên cơn tưởng không qua khỏi. Rồi những lời thị phi ác khẩu vu cho Hằng tuyên truyền mê tín dị đoan, thậm chí bị công an bắt tạm giữ... Để trở thành nhà ngoại cảm đem tâm sáng, lòng thiện giúp đời như bây giờ bản thân Hằng và cả gia đình cô đã phải gánh chịu biết bao đau khổ, bất hạnh ...
Chắp nối các chuyện đã nghe, các bài đã đọc và hình ảnh đã xem có thể tóm lược những nét chính về Phan Thị Bích Hằng với tư cách nhà ngoại cảm như sau.

Năm 1989, mười tám tuổi, Hằng và cô bạn thân cùng bị một con chó cắn. Ở nông thôn bị chó cắn là thường, chẳng mấy bận tâm. Không ngờ khoảng một tháng sau cô bạn đột nhiên phát bệnh, người co giật, hàm răng cứng lại. Hằng đưa bạn đi bệnh viện. Bác sĩ chẩn đoán bị bệnh dại. Hằng bàng hoàng: “Đúng như vậy. Cháu và bạn ấy cùng bị một con chó cắn”. Hoang mang cực độ, cảm thấy tử thần đã xiết chặt cổ mình , hôm sau Hằng cũng hôn mê bất tỉnh còn cô bạn thì qua đời.

Gia đình đôn đáo đưa cô đi chữa trị cả đông y, tây y, nhưng chỗ nào cũng lắc đầu bất lực. Khi đến nhà một lang y theo đạo Thiên Chúa, xem xét kỹ bệnh xong, ông nói: “ Chúa lòng lành sẽ che chở co con”. Rồi sai người con trai ra nghĩa địa lấy một mảnh ván thôi mới bốc mộ lên đem về, ông bào chế cùng mấy vị thuốc cho Hằng uống. Ông bảo với người nhà cô: “Sau ba tiếng đồng hồ cháu sẽ cảm thấy nóng khắp người, rồi sốt mê man, nói sảng, thậm chí lên cơn điên cắn xé. Nếu ba ngày sau cháu hết cơn thì sống, còn nếu lên cơn trở lại thì không cứu được”. Đúng như thày nói, 9 giờ tối hôm ấy Hằng lên cơn dại, cắn xé điên cuồng. 11 giờ đêm thì thiếp đi. Hai hôm sau không có biểu hiện gì, người khoẻ dần. Ngày thứ ba Hằng đòi theo người anh trai cô bạn đã mất ra mộ thắp hương, bỗng cảm thấy luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng, cô rùng mình lo lắng nói: “ Anh đưa em về ngay. Em sắp lên cơn dại rồi”. Từ đấy Hằng không còn biết gì nữa và đến 1 giờ sáng hôm sau cô hoàn toàn tắt thở. Cả nhà đau đớn gào khóc. Họ hàng bàn việc hậu sự, khâm liệm. Không khí tang tóc bao trùm. Trong làng có một cụ già nhiều chữ Hán, giỏi tử vi, hỏi giờ sinh, ngày sinh ... Sau một hồi tính toán, cụ bảo: “ Chưa qua giờ Thìn chưa được khâm liệm cháu. Cứ để cháu nằm thế không được thắp hương. Chắc chắn nó không chết đâu”. Lời cụ nói chỉ gợi tia hy vọng mỏng manh. Thôi thì ai ngồi bên cháu theo dõi, chờ đợi cứ ngồi, còn ai lo việc tang lễ cứ lo.

Mấy ngày trước, khi người bạn gái qua đời, Hằng luôn trong tâm trạng bi quan tuyệt vọng. Có lần cô hỏi bố: “ Bố ơi, vì sao những vị lãnh đạo chết người ta lại bắn mấy loạt đại bác ?”. Bố bảo: “Để linh hồn sớm siêu thoát, con ạ”. Hằng buồn rầu nói trong nước mắt: “ Nếu con chết bố bắn cho con bẩy phát đạn để con mau siêu thoát , mau trở về với gia đình, bố nhé”. Cô chỉ thấy bố nghẹn ngào.

Bẩy giờ sáng hôm sau bố Hằng mới về đến nhà. Nhìn con gái nằm bất động lòng ông tan nát. Trong nỗi đau tột cùng, nhớ lời con, ông rút súng khỏi bao và không chỉ bẩy viên mà có bao nhiêu đạn ông bắn hết lên trời. Không ngờ tiếng nổ làm Hằng bừng tỉnh, bật dậy, lao về phía bố: “Bố ơi!”. Đạp phải những vỏ đạn cô ngã vật xuống sân và lại lịm đi. Trong khoảng nửa giờ sau đó Hằng cảm thấy mình ở trạng thái không trọng lượng, bay lơ lửng, nhìn rõ một cây cầu bắc qua dòng sông. Bên này bà nội cầm tay cô níu lại, bóng bà ngoại bên kia vẫy gọi sang. Sương mờ như khói bao phủ. Chập chờn trong đó hình bóng nhiều người khác mà cô không biết là ai. Hằng cố vùng vẫy và tuột khỏi tay bà. Hoảng sợ, cô kêu to: “Bà ơi !” và bàng hoàng tỉnh dậy. Cô lần lượt nhận ra từng người xung quanh mình.
Việc Hằng sống lại đúng là kỳ lạ. Cả nhà, cả họ tràn ngập niềm vui. Khắp làng, khắp xã truyền nhau chuyện chưa từng có ấy.
Mấy tháng sau, Hằng khoẻ hẳn. Tuy nhiên cô cảm thấy trong mình có những dấu hiệu khác thường. Gặp ai nếu người đó đoản mệnh, thì dường như có tiếng nói mơ hồ mách bảo với cô rằng họ sắp chết và rồi cũng như có sự xui khiến khó cưỡng nổi cô báo cho họ biết. Không ít lần Hằng bị chửi mắng, có khi xuýt ăn đòn vì họ cho cô là “con điên” độc mồm, độc miệng. Ở làng có ông Vũ Văn Trác, hơn 50 tuổi, hiền và rất quý cháu Hằng. Một hôm gặp ông từ ngoài đồng về, Hằng bảo : “Ông ơi, ông sắp chết rồi, ông đừng đi làm nữa cho khổ”. Bị con bé “độc mồm” rủa thế, ông Trác nổi khùng cầm roi trâu đuổi đánh. Hằng vừa chạy vừa tức tưởi khóc : “ Cháu bảo ông chết thật mà ông không tin cháu à. Chờ mấy ngày nữa sẽ biết. Chỉ từ nay đến 15 tháng 7 thôi”. Hôm ấy bao nhiêu nguời chứng kiến vừa cười trêu ông Trác vừa thương con bé. Quả nhiên chỉ mấy tuần sau, đúng 2 giờ chiều ngày 15 tháng 7 loa truyền thanh thông báo tin ông Vũ Văn Trác qua đời. Chuyện này khiến cả làng chưa hết kinh ngạc thì tiếp đến việc Hằng gặp chú Bùi Văn Chai, là chủ nhiệm Hợp tác xã thêu xuất khẩu xã Khánh Hoà ở giữa hội trường Uỷ ban, lúc ấy rất đông người. Nhìn chú, Hằng bảo: “Đến tháng giêng là chú chết đấy”. Chú Chai bực lắm, còn mọi người thì xì xào bàn tán. Không ngờ đầu tháng giêng chú Chai chết thật.
Chuyện lan đi rất nhanh. Họ cho Hằng bị “ma ám”, nói ai chết là người ấy chết. Tất cả xa lánh cô. Nhìn thấy Hằng từ xa là bỏ đi. Hằng vô cùng đau khổ, cả gia đình buồn bã đưa cô đi các bệnh viện khám chữa thần kinh. Đến hết đền này phủ nọ kêu cầu cúng vái. Mặc dù Hằng ra sức giải thích rằng mình vẫn khoẻ, thần kinh không làm sao cả. Những chuyện đó là do cô nhìn thấy, cảm thấy, nghe thấy bóng người âm nào đó mách bảo cô nói ra và chính cô cũng không biết vì sao mình có khả năng ấy. Nhưng không ai tin.
Bị mọi người xa lánh, thậm chí ghê sợ Hằng buồn khổ vô cùng. Cho đến một hôm vào ngày giỗ bà nội, Hằng nhìn thấy bà, trên tay bế một đứa trẻ, theo sau một đứa bé nữa. Cô kể lại cho mọi người nghe. Ông nội nghe xong ngậm ngùi nói hai đứa trẻ đó là con ông. Một chết khi ba tuổi, một chết khi mới được tám tháng. Hằng có người chú ruột. Trong gia đình chú ai cũng mắc chứng bệnh rất lạ: teo một chân, ngoẹo một bên đầu mà đều ngoẹo về bên phải. Hằng sang chơi và nói với chú rằng cô nhìn thấy bóng người rất lạ luôn đi lại trong vườn nhà chú. Hình như đến lúc này chú đã hơi tin khả năng đặc biệt của Hằng. Thế là hai chú cháu đem xà-beng, cuốc, xẻng ra vườn đào, chỗ gần bụi tre, nơi Hằng thấy lần nào bóng người lạ đến đấy là biến mất. Đào sâu chừng hơn một mét thì gặp lớp ngói đã mục, rồi đến lớp đất đỏ. Gạt hết lớp đất đỏ thấy lộ ra khối hợp chất rắn gồm vỏ hến, vôi trộn với mật, loại vật liệu truyền thống, chắc như bê tông. Đó là quách. Phá lớp quách thấy bên trong là cỗ quan tài bằng gỗ quý trạm trổ rất đẹp. Bật nắp quan tài Hằng thấy hình một người đàn ông nằm dài bất động trong lớp nước vàng sánh. Hằng vừa thò tay xuống, lập tức bóng người đàn ông tan ra, biến mất. Trong quan tài chỉ còn lại hài cốt cùng những đồng tiền cổ đã ố rỉ kết chặt với nhau và nhiều vật dụng khác như ngựa đá, dao nhọn...
Vụ việc được báo cáo lên xã, rồi lên huyện...( sau này các nhà nghiên cứu văn hoá xác định đó là mộ một vị tướng triều nhà Trần có từ 700 năm trước ). Càng ngày Hằng càng nhận ra rằng dường như có một điều kỳ diệu ào đó, một khả năng bí ẩn nào đó xuất hiện trong nhận thức của cô và cô rất muốn thử nghiệm. Gia đình Hằng thất lạc ngôi mộ cụ tổ. Nhiều năm nay ông nội và bố cô đã mất không ít công sức đào tìm mà không thấy. Hôm ấy đúng ngày giỗ cụ. Hằng thắp hương chắp tay khấn niệm cầu xin cụ phù hộ rồi đi tìm. Cô đi. Tỉnh mà như mơ và rồi cô nhìn thấy mộ cụ nằm sâu trong lòng đất ngay gần đường cái. Hằng đào, mấy người nhà ra cùng đào, rồi bà con kéo đến. Mọi người hồi hộp chờ đợi “ xem con bé dở hơi này nó nói có đúng không”. Hố sâu chừng gần 2 mét thì xuất hiện một tấm gỗ có khắc hai dòng chữ Hán. Hằng lấy lên, rửa sạch đem về cho ông nội. Ông nội đã tám mươi tuổi, xúc động đọc: “Âm thuỷ quy nguyên. Vinh quy bái tổ” rồi nghẹn ngào: “Đúng mộ ông nội tôi đây rồi”. Ông khóc. Khóc nức nở, nước mắt chảy dài qua gò má nhăn nheo khiến con cháu cũng khóc theo. Đã bao nhiêu năm nay lòng ông luôn canh cánh xót xa vì để mất mộ cụ. Ngờ đâu nay lại do chính cháu ông tìm thấy. Thế này là nhà ông đại phúc rồi.
Sau hàng loạt sự kiện như thế, không chỉ Hằng, mà nhiều người đã bắt đầu tin rằng khả năng đặc biệt kỳ diệu ấy xuất hiện trong cô là thật. Họ không xa lánh cô nữa, không gọi cô là “con dở hơi” bị “ma ám” nữa, nhìn cô với ánh mắt vừa thân ái, vừa quý nể. Có người nhìn thấy Hằng từ xa đã chắp tay vái: “Lạy cô, xin cô...”, coi Hằng là hiện thân của đấng thiêng liêng đầy quyền bí. Nhiều gia đình trong làng, trong xã đến gặp nhờ cô tìm mộ và Hằng đã giúp họ tìm được không ít mộ thất lạc rất chính xác.
Bà con nhân dân tin, nhưng chính quyền địa phương không tin, gán cho cô tội “truyền bá mê tín dị đoan”, dùng áp lực gây nhiều khó khăn cho cô. Bố cô, một đại tá quân đội nghỉ hưu giữ chức Bí thư đảng uỷ, Chủ tịch Hội cựu chiến binh bị đem ra kiểm điểm, kỷ luật. Có ý kiến đòi đưa ông ra khỏi Đảng vì để con gái “hoạt động trái pháp luật”. Rất may cũng thời gian đó, được biết về khả năng ngoại cảm của Hằng (ngành khoa học mà nhiều nước trên thế giới đang tổ chức nghiên cứu) Viện khoa học thể dục thể thao và một số nhà khoa học thuộc Bộ Văn hoá thông tin về mời Hằng làm cộng tác viên. Để chứng minh khả năng đặc biệt của Hằng là thật, nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát khu Chùa Dầu được coi là rất cổ tọa lạc ngay trên đất của xã cô. Bằng khả năng nhìn xuyên đất biết được những gì ở dưới, thấy được bóng “linh hồn” người chết, hơn nữa còn nghe và hiểu được lời “linh hồn” nói, kể cả những nhân vật lịch sử đã qua đời từ nhiều thế kỷ trước... Khảo sát, khai quật, đối chiếu với sử liệu cùng những câu chuyện được truyền lại từ bao đời nay ở vùng quê ấy các nhà nghiên cứu xác định những thông tin Hằng cung cấp là chính xác. Chùa Dầu được xây dựng từ triều Trần cách ta khỏang 700 năm, di vật còn lại và tìm được thuộc loại quý hiếm vô giá. Đây chính là một trung tâm tín ngưỡng, văn hoá của tổ tiên, ông cha ta. Báo cáo khoa học được gửi lên Huyện, lên Tỉnh, rồi lên Trung ương và Chùa Dầu được Nhà nước công nhận là “Di tích lịch sử văn hoá”.
Sự kiện trên rất quan trọng đối với Bích Hằng, đã cứu cô, cứu gia đình cô khỏi áp lực của búa rìu dư luận, gỡ bỏ được sự phong toả, giúp mọi người hiểu cô, tạo điều kiện để cô được đem khả năng đặc biệt Trời ban ấy làm việc thiện giúp đời, dù lúc này khả năng của cô mới chỉ là nhìn thấy hài cốt, di vật trong lòng đất, thấy được hình bóng “ linh hồn”, nghe và hiểu được lời “linh hồn” nói. Để rồi từ đó khả năng của Hằng càng được tích lũy, được nâng cao.
Do phải lo chữa bệnh, Hằng chỉ còn đúng 15 ngày ôn thi. Vậy mà kết quả không ngờ : cô đạt gần 24 điểm vào Trường Đại học kinh tế quốc dân. Những năm là sinh viên Hằng học giỏi, khả năng ngoại cảm không giảm mà ngày càng được nâng lên. Cô vẫn giúp không ít gia đình tìm được mộ, nhất là thực hiện nhiều chuyến đi tìm hài cốt liệt sĩ đạt kết quả cao.
Đặc biệt thời kỳ này Hằng nhận ra mình có khả năng nhìn rõ hơn, nghe rõ hơn, không những thế còn giao tiếp, trao đổi được với “linh hồn”. Ấn tượng nhất là trường hợp cô “gặp” và “trò chuyện” với “vong” mẹ giáo sư Mai Hữu Khuê. Lần ấy, đang đi tìm mộ, khi đến gần vũng trâu đầm Hằng bỗng “gặp” linh hồn một bà cụ. Bà cụ dáng hơi còng, đứng đối diện cô, miệng lắp bắp. Hằng lên tiếng : “ Cụ ơi, cụ nói gì đấy ạ ?”. Bỗng bên tai cô vang lên rất rõ: Cháu ơi, bà tên là Kình, nhờ cháu nhắn cho con, cháu bà là mộ bà ở đây... Con bà tên là Khuê.... Hằng mừng vô cùng. Lần đầu tiên cô nhìn thấy “linh hồn” rõ như thế, từ dáng người, nét mặt, màu da, mái tóc, gò má, khoé miệng... Lần đầu tiên cô nghe được giọng nói của “linh hồn” rõ như thế và trò chuyện với “linh hồn” gần gũi thân thiết như thế.
Hằng kể lại việc đó với dân làng. Bà con bảo: Đúng, làng có bà Kình đã chết từ lâu. Con trai bà tên là Mai Hữu Khuê là giáo sư dạy Đại học Kinh tế quốc dân ở Hà Nội. Đã nhiều lần ông Khuê về tìm mộ mẹ mà chưa thấy. Tin này được nhắn tới ông Khuê. Ông Khuê đến gặp Bích Hằng và cô đã giúp ông tìm được mộ mẹ ngay cạnh vũng trâu đầm ấy.
Từ khi có thêm khả năng “giao tiếp” được với “linh hồn” người chết, cánh cửa đưa Hằng vào thế giới tâm linh càng rộng mở. Trong các chuyến đi tìm mộ cô “gặp” rất nhiều “linh hồn” đi theo. Có khi họ quây túm quanh cô tranh nhau nói: Tên tôi là ...quê ở ... người nhà tôi tên là ... hiện đang ở ... nhờ cháu (nhờ cô)...nhắn giúp ... Thế là để đến được ngôi mộ cần tìm cô phải “tiếp chuyện” với biết bao “linh hồn”, ghi chép lại lời nhắn để rồi tìm cách báo cho thân nhân của họ.
Một lần đi tìm mộ ở Thái Nguyên cô “gặp” một “linh hồn” đàn ông. Người này tự giới thiệu là nhà báo Thôi Hữu hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. “ Linh hồn” nhà báo nói rằng: Cháu ơi, ở bên kia đồi có hài cốt một người đức cao vọng trọng, một chí sĩ yêu nước lớn là cụ Lương Ngọc Quyến. Cháu cố gắng giúp... Nhờ các thông tin ấy mà cô tìm được cháu nội cụ Lương Ngọc Quyến ở Hà Nội là Lương Quân và giúp anh tìm được mộ cụ.
Cũng từ khi Hằng có khả năng “giao tiếp” với người âm mà bộ môn “Cận tâm lý” thuộc “Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người” đã có đề tài khoa học mã số KT.06 thử nghiệm phương pháp “tìm ngược”. Nghĩa là trước đây mọi thông tin đều do người sống cung cấp để đi tìm người chết, thì nay mọi thông tin lại do người chết cung cấp để đi tìm người sống và đã đem lại kết quả rất khả quan. Độ chính xác cao. Mở ra hướng nghiên cứu mới đầy tiềm năng và hấp dẫn. Như trường hợp Bích Hằng tìm được mộ sư Tổ ở Chùa Vua, phố Thái Thịnh (Hà Nội). Khuôn viên Chùa Vua trước đây rất rộng, vì thế khi sư Tổ qua đời thi hài được an táng ngay trong đất nhà Phật. Rồi dân số tăng, đô thị hoá nhanh, đất lên giá, người dân quanh chùa đua nhau lấn chiếm làm nhà. Mộ sư Tổ vì thế thất lạc mất.
Bích Hằng đến, thắp hương khấn mời. Sư Tổ về “gặp” cô. Cụ nói: cụ tên là Hoàng Đình Điều, quê Lạng Sơn, từng là tướng quân Yên Thế dưới quyền chỉ huy của cụ Đề Thám. Cụ Đề Thám và cụ đều bị giặc Pháp bắt. Nhưng rồi cụ trốn được về trụ trì chùa này. Dù xuất gia ăn chay niệm Phật nhưng cụ vẫn hoạt động cách mạng, nuôi dấu nhiều cán bộ bí mật, trong đó có cụ Nguyễn Phong Sắc, Bí thư xứ uỷ Trung kỳ, người lãnh đạo phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. ( Thật cơ duyên, năm 2002 chính Bích Hằng đã tìm được mộ cụ Nguyễn Phong Sắc. Nhà nước đã xây mộ, đúc tượng cụ đặt tại xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, Nghệ An ). Lúc ấy Hằng còn nhìn thấy phía sau cụ có tới mấy trăm “linh hồn” môn đệ của cụ đều là nghĩa quân đứng theo hàng ngũ nghiêm trang. Họ tranh nhau nói, tỏ ra rất bất bình vì cụ có công lớn với đất nước vậy mà người đời không ai biết đến để người ta lấn chiếm đất chùa xây nhà đè lên đầu, lên thân cụ. Sư Tổ thong thả nói: Làm được việc tốt cho đời là quý, chứ cái thân xá lợi thì có nghĩa lý gì ... Vừa lúc ấy Hằng thấy “linh hồn” cụ Nguyễn Phong Sắc về. Cụ nói với Bích Hằng: Để sư Tổ nằm thế là không được, ngay dưới nhà vệ sinh của người ta. Người ăn mày chết còn được chôn cất tử tế, đằng này cụ là ... Sư Tổ phàn nàn rằng hai gia đình làm nhà đè lên cụ đều gặp những tai ương, kẻ thì chết bất đắc kỳ tử, người thì ốm đau bệnh tật làm ăn thất bát. Cụ thương họ lắm. Làm người xuất gia tu hành cụ không muốn chúng sinh đau khổ, nhưng những nghĩa quân của cụ do bất bình mà họ bảo nhau trừng phạt, cụ khuyên không được. Sau đó, một phần do Bích Hằng cầu khẩn, phần nể lời cụ Nguyễn Phong Sắc và anh em nghĩa binh sư Tổ mới cho Hằng biết hiện cụ đang nằm ở dưới hai ngôi nhà, chứ chỗ nhà chùa đắp đất thắp hương là không phải đâu... Ngày còn sống mỗi khi luyện võ xong cụ và thủ lĩnh Đề Thám thường cùng nhau uống rượu chén tạc, chén thù. Cái nậm rượu cụ luôn đeo bên mình. Khi chết người ta chôn theo. Nằm trong đất xương cốt có thể mục nát, chứ cái nậm rượu thì không... Nhờ những thông tin ấy mà Hằng đã giúp nhà chùa tìm được mộ sư Tổ.
Lần đi tìm mộ anh bộ đội ở Vĩnh Thạnh, Bình Định. Khi đào gặp hài cốt lại thấy trước ngực có phù hiệu quân nhân ngụy mang tên trung tá Nguyễn Hữu Tuý. Bà con người địa phương ra chứng kiến rất đông. Mọi người trao đổi với nhau hay là anh bộ đội cải trang lính nguỵ và bị hy sinh ? Bên tai Bích Hằng bỗng vẳng đến giọng một “linh hồn”: Không phải. Tôi nằm bên này cơ ... Cùng lúc ấy một anh trong đoàn đi đào mộ (anh là xã đội trưởng) nhào tới, cầm chiếc phù hiệu xem, rồi hét lên : “ Thằng Tuý. Đó là thằng Tuý. Chính tên ác ôn này đã giết ba tui. Tau phải băm vằm mi ra mới hả”. Vừa nói anh vừa cầm chiếc đầu lâu tên Tuý ném xuống suối. Anh khoẻ quá, phản ứng quyết liệt quá khiến không ai kịp cản lại. Anh kể năm ấy anh mới mười tuổi, đã tận mắt chứng kiến bọn lính ngụy trói, rồi đóng đinh ba anh vào cây dừa và chính tên Tuý này đã dùng dao găm rạch bụng ba anh moi hết tim gan ra ngoài. Khi ấy ba anh là cán bộ Ban tuyên huấn xã. Căm thù bốc lên, anh lấy hòn đá đập tới tớp vào đống xương đã mục. Mấy người cố giữ lấy anh, hết mực khuyên can : người ta bây giờ cũng chỉ còn là nắm xương tàn. Dẫu có hành hạ nắm xương ấy thì ba anh cũng không thể sống lại được. Tốt nhất là rộng lòng tha thứ, bốc lên chôn cất lại cho người ta tử tế, rồi người ta sẽ hối hận với những tội ác đã gây ra... Mặc mọi người khuyên, anh vẫn kiên quyết: “Ai làm việc đó thì làm. Chớ tui nhất định không có làm”. Những người dân ở đây đều đã biết , đã chứng kiến bọn lính ngụy giết hại, moi gan bố anh xã đội trưởng cùng sáu cán bộ cách mạng khác nên cũng rất căm phẫn, nhất định không chịu bốc chôn cất lại hài cốt tên lính ngụy. Cuối cùng Bích Hằng phải bỏ tiền ra Quy Nhơn mua chiếc tiểu về, bỏ hài cốt tên Tuý vào đấy rồi mai táng. Nhưng khi cô đặt bát hương lên, người trong làng lại xô đến ném bát hương xuống suối. Đúng lúc ấy “linh hồn” đồng chí bộ đội mà nhóm của Hằng đang tìm mộ anh hiện lên, nhờ cô nói với mọi người rằng: Chiến tranh đã qua lâu rồi, mọi thù hận cũng nên khép lại bằng tấm lòng độ lượng. Nếu bà con cô bác không thắp hương anh ta thì tôi sẽ không cho tìm thấy mộ tôi đâu. Cứ thắp cho anh ta nén hương thì anh ta sẽ chỉ cho các vị biết chỗ tôi đang nằm ... Nghe Hằng truyền đạt lại ý “linh hồn” anh bộ đội như vậy mọi người mới cho cô thắp hương và ngay sau đó “linh hồn” người lính ngụy hiện lên dẫn Hằng đến bên bụi cây lớn nói rằng: Hài cốt anh bộ đội giải phóng nhân từ ấy nằm ở đây ... Mọi người đào và chỉ mất mươi lăm phút là thấy... Hằng nói: “ Vậy là anh ta đã lập công chuộc tội rồi, mọi người không nên căm thù nữa”. “Linh hồn” anh bộ đội kể rằng: hồi đó anh là lính đặc công bị tên Tuý bắt được. Khi nó đang áp giải, anh dùng võ thuật đá văng khẩu súng rồi cướp lưỡi lê giết nó luôn. Không ngờ vừa giết xong tên Tuý anh lại bị một tên phía sau bắn trúng. Mộ anh gần mộ nó. Anh nói : Khi còn chiến tranh là thù địch. Nhưng nay đất nước độc lập rồi, ở dưới này chúng tôi đã làm hoà với nhau, bắt tay nhau và cùng hút chung điếu thuốc...
Chuyện đi tìm mộ của Bích Hằng thì rất nhiều. Nhưng gian nan, vất vả, nguy hiểm, bí ẩn, hấp dẫn và để lại ấn tượng rất sâu sắc là lần ba nhà ngoại cảm Bích Hằng, Thẩm Thuý Hoàn và Nguyễn Khắc Bẩy cùng Đoàn công tác do Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh phụ trách và nhiều nhân chứng tham gia thực hiện đề án nghiên cứu mang số hiệu TK.06 đi tìm hài cốt các liệt sĩ trong trận đánh nổi tiếng tại cứ điểm K’Nak (Tây Nguyên) diễn ra từ tháng 3 năm 1965. Để có những thông tin cần thiết, thông qua bức ảnh đã cũ, Bích Hằng mời được “linh hồn” liệt sĩ Ngô Trọng Đãi về để “xin được thưa chuyện”. Liệt sĩ Ngô Trọng Đãi vốn là một trong số cán bộ chỉ huy trận đánh, nên qua những lần “trò chuyện” với “ông” mọi người được biết khá nhiều về vị trí quan trọng của cứ điểm K’Nak, về lực lượng và hệ thống bố phòng của địch, về quyết tâm tiêu diệt bằng được cứ điểm ấy của bộ đội ta, về các mũi tấn công và diễn biến vô cùng khốc liệt của trận đánh, về tổn thất nặng nề của quân ta và đặc biệt “ông” cho biết những địa điểm hoặc trong rừng, ven suối, hoặc dưới đáy hồ sâu Đắc Lốp, nơi rải rác, chỗ tập trung hài cốt của nhiều liệt sĩ đang từng ngày bị ải mục trong lòng đất mà không ai biết đến, không ai hương khói. Kết hợp với những thông tin từ Thẩm Thuý Hoàn và Nguyễn Khắc Bẩy cuộc tìm kiếm diễn ra nhiều ngày, nhiều đợt với vô cùng gian nan, vất vả, nguy hiểm. Cuối cùng Đoàn công tác đã tìm được hơn 300 bộ hài cốt liệt sĩ. Lễ đón nhận, truy điệu được tổ chức trọng thể. Một số được thân nhân đưa về quê hương, còn lại được an táng chu đáo tại nghĩa trang Vĩnh Thạnh.

Khả năng ngoại cảm xuất hiện ở một số người là có thật và luôn gắn liền với những điều thần bí chưa giải thích được. Ngoại cảm đang ngày càng ảnh hưởng sâu rộng và chi phối tới nhận thức, đời sống tâm linh con người. Bởi thế hiện nay ở nước ta đã xuất hiện nhiều “nhà ngoại cảm tự phong” và hầu hết là “đồ dởm”. Chỉ số ít người thực sự có khả năng đặc biệt đã được thử thách, đánh giá, đã được các cơ quan chuyên ngành là Liên hiệp khoa học công nghệ tin học ứng dụng, Trung tâm bảo trợ văn hoá kỹ thuật truyền thống, Viện khoa học hình sự (Bộ Công an) và Bộ Khoa học và công nghệ do Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tiến hành khảo nghiệm và kết luận công nhận như: Phan Thị Bích Hằng, Đỗ Bá Hiệp, Nguyễn Văn Liên, Thẩm Thuý Hoàn,Vũ Thị Minh Nghĩa, Nguyễn Khắc Bẩy, Nguyễn Thị Nguyện, Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Thị Phương, Hoàng Thị Thiêm ... mới đáng tin cậy.
Tôi quen Phan Thị Bích Hằng khi biết cô là một trong số ít nhà ngoại cảm ấy và ở thời điểm khả năng đặc biệt của cô đạt trình độ khá cao mà thực tế những việc cô làm đã chứng minh.

2

Từ khi quen Bích Hằng, tôi có ý định sẽ nhờ cô làm cầu nối để mong “gặp” được “linh hồn” bố, mẹ và những người thân đã qua đời, nên cố không để lộ thông tin gì về gia đình mình. Hằng chỉ biết tôi là nhà văn, nhà báo đã nghỉ hưu, chỉ hiểu tôi đôi chút qua các lần gặp gỡ cùng với Vũ Huy Hùng và những người thân khác (mà tôi thường kín đáo ít nói). Hoặc qua đọc những cuốn sách của tôi tặng cô, vậy thôi. Nghĩa là hầu như Hằng chưa biết gì nhiều về tôi, nhất là gia đình tôi. Điều đó rất quan trọng để khẳng định tính chính xác về những thông tin ngoại cảm Hằng giúp tôi.
Hằng nhận lời từ mấy tháng trước, hai lần hẹn, lại lỡ. Một lần cô phải đi Côn Đảo, lần sau đi nước ngoài. Biết Hằng rất bận, nhưng trong thâm tâm tôi nghĩ: có lẽ cái “duyên” được gặp “linh hồn” bố, mẹ và người thân của mình chưa đến, mặc dù từ nhiều năm nay sáng nào tôi cũng đèn hương, thỉnh chuông khấn niệm gia tiên rất thành tâm. Thế rồi đột xuất Hằng điện cho tôi: “ Chiều mai cháu sẽ đến giúp chú”.
Hôm sau (2 tháng 12 năm 2007) Hùng và tôi đón Hằng. Lần đầu Hằng đến nhà tôi. Bỏ qua phòng khách, chúng tôi lên thẳng phòng thờ trên tầng bốn. Ở đấy, chiếu đã trải trên sàn, vợ tôi, các con, các cháu và một số người thân của tôi đã ngồi chờ sẵn. Máy ghi âm, máy quay phim con rể tôi đã chuẩn bị đầy đủ. Cả gia đình đều rất thành tâm chờ đón sự việc thiêng liêng này.
Hằng bảo tôi chuẩn bị một chiếc bàn nhỏ, cùng một ghế nhỏ, một cốc đựng gạo, một nén hương, một chén nước lã, một chiếc bút, một tờ giấy và hạ ảnh bố tôi trên bàn thờ xuống cùng danh sách “linh hồn” những người thân cần gặp ghi kèm họ, tên, quê, ngày giỗ, phần mộ hiện ở đâu (nếu biết), ảnh (nếu có)... để trước mặt cô. Ngay sau đó Hằng ngồi vào ghế, thắp hương cắm vào cốc đựng gạo, mắt đăm đắm nhìn bức ảnh, chắp hai tay, miệng khấn niệm: “ Con lạy chín phương Trời, mười phương Phật ! Hôm nay, ngày 23 tháng 10 năm Đinh Hợi, tại số nhà 10 Ngõ 73 phố Giang Văn Minh, quận Ba Đình, Hà Nội, tín chủ là chú Nguyễn Đắc Trung xin quan Thổ Công, Thổ Thần coi quản phần nhà, phần đất trên cho phép tín chủ được mời vong linh của các thân nhân gồm: Ông nội tên là...quê quán...giỗ ngày ...phần mộ an táng tại...Bà nội tên là ...Bố đẻ là ...Mẹ đẻ là...Bố vợ là ...Mẹ vợ là ... về đây để chú Trung cùng con cháu trong gia đình xin thỉnh cầu các cụ mong được các cụ chỉ bảo và cháu xin truyền đạt lại ý kiến của các cụ cho mọi người biết ...”
Sau những lời thành tâm ấy, bút trên tay, giấy trước mặt Hằng sẵn sàng cho cuộc “phiên dịch”. Tất cả im lặng chờ đợi. Gần một phút trôi qua (chính xác là 56 giây), bỗng mắt Hằng sáng lên vui vẻ: “ Con chào ông ạ... Con chào bà ạ ...” . Mọi người đều xúc động.
Đồng hồ chỉ 15 giờ 40 phút.
Vợ chồng tôi đều nghẹn ngào: “Con chào bố, mẹ ạ”. Hằng nói rõ ràng thong thả : “ Thưa ông bà, hôm nay vợ chồng chú Trung và con cháu trong gia đình mời ông bà về để các con, các cháu được gặp ông bà. Chú Trung cũng có vài ba việc muốn được thưa với ông bà để ông bà chỉ bảo...”. Rồi Hằng quay sang tôi: “ Chú cần hỏi gì thì cứ nói đi”. Tôi cố kìm nén xúc động, rồi nhẹ nhàng: “ Thưa bố mẹ, con muốn biết ở dưới ấy bố mẹ có thiếu gì không ạ ? Có cần chúng con gửi xuống thứ gì không ạ ?” . Tôi dừng. Hằng vừa ghi chép, vừa nhắc: “ Chú cứ hỏi đi”. Tôi nói tiếp: “Ở trong lăng nhà ta hiện nay có hai bia đá khắc tên bố, mẹ, các cụ, rồi bà cô, ông mãnh, những người có phần mộ ở đấy thì có đủ không ạ ? Có đúng không ạ ? Trong lăng có lẫn ai là ngoại tộc không ạ ? Mộ của ông nội ở xứ đồng Mả Cổ, mỗi khi về chúng con chỉ đến đấy thắp hương bái vọng thôi chứ không biết cụ thể chỗ nào. Vậy xuống đấy bố có gặp ông không ? Mộ ông có còn ở khu vực ấy không ? Bố, mẹ và các cụ ở dưới ấy có biết trên này chúng con xây nhà thờ Tổ không ? Hàng năm chúng con cúng giỗ anh Thuận vào ngày mồng 1 tháng 6 âm lịch thì có đúng anh con mất vào ngày ấy không ạ ? Xuống đấy bố mẹ có gặp anh Thuận không ? Con cũng muốn hỏi bố là đất cát nhà cửa chúng con đang ở trên này có sạch sẽ không ? Có vong có cốt gì ở dưới không ? Việc nữa là vợ chồng con có cháu Nguyễn Thị Mai Trang là con gái và cháu Nguyễn Quang Anh là con rể, các cháu xây dựng với nhau đã sáu bẩy năm mà vẫn chưa có con, không biết vì sao ? Vậy bố mẹ có điều gì khuyên ? Vợ chồng anh Dưỡng thì có cháu Nguyễn Thị Thoa và Nguyễn Thị Thuỷ. Các cháu đều trưởng thành rồi, cũng rất mong có gia đình riêng, bố mẹ có điều gì dạy bảo ? Đặc biệt con hỏi mẹ về bà ngoại. Năm ấy bà đi cấy thuê ở Lạc Khoái trong Gia Viễn, Ninh Bình, gặp bão, thuyền bị lật, đến nay vẫn không biết mộ bà ở đâu. Vậy xuống đấy mẹ có gặp bà và có biết gì thêm về bà không ? Rì Cởn cũng mới mất, mẹ có gặp rì ở dưới ấy không ?” . Tôi tạm dừng hỏi và Hằng cũng tạm ngừng ghi, tai chăm chú lắng nghe, rồi quay sang tôi: “ Nhà mình có ai tên là Hoa không ạ ?”. “ Có. Con gái chú tên là Hoa”. Hằng: Ông bảo Hoa pha cho ông ấm trà để ông mời ông thông gia . Tôi lễ phép trả lời bố: “ Vâng ạ. Cháu Hoa đi pha nước ngay bây giờ ạ”, rồi thì thầm với Hoa: “Chắc ông ngoại cũng về đấy con ạ”. Hằng lắng nghe “linh hồn” nói, tay ghi, thỉnh thoảng lại : “ Vâng ạ....Dạ, thế ạ... Ông nhắc lại cho cháu là cụ Kinh hay cụ Kính ạ ?...”. Tất cả im lặng. Mấy phút trôi qua, Hằng quay sang tôi: Ông nói chuyện, còn bà thì cứ sụt sùi khóc ... Ông nói là... Ở dưới ấy bố với mẹ không thiếu thốn gì cả. Điều mừng nhất là việc làm được nhà thờ Tổ. Dưới này không chỉ bố mẹ, mà mọi người trong dòng tộc đều ngậm cười nơi chín suối. Mừng lắm. Còn về lăng mộ, ông bảo Nhìn vào bếp núc thì đánh giá người đàn bà trong gia đình. Nhìn lăng mộ thì thấy sự bề thế của gia tộc. Ông phấn khởi lắm. Nhất là các con lại khắc được danh sách đầy đủ tên các cụ có phần mộ trong lăng. Làm được thế là chu đáo lắm... Ông bảo Ở trong lăng nhà mình có một người ngoại tộc, nằm sát ngay mộ cụ Ngoạn . Nhưng không sao. Người ta ở đây từ lâu rồi. Hơn nữa con cháu nhà mình lại chu đáo nên người ta rất lấy làm vui. Bởi nếu không ở đây mà nằm chỗ khác thì người ta chẳng được ai hương khói cả... Hằng ghé sang hướng bên cạnh lắng nghe, tay thì ghi, miệng luôn: “ Vâng ạ ...vâng...thế ạ ...”, rồi nói với cả nhà : Cụ bà vừa sụt sùi vừa bảo rằng Cụ vẫn về chơi với cu Dũng. Tôi thưa: “ Dạ, cu Dũng ngồi kia ạ”. (Cu Dũng 7 tuổi, con mẹ Hoa, chắt của cụ bẽn lẽn cười lộ hai chiếc răng sứt). Hằng tiếp: Cụ bảo mỗi khi về chơi với cu Dũng cụ lại thương cháu Trang... Cụ bảo về cháu Trang thì chắc trên đường dương các con đã chạy thày, chạy thuốc đủ rồi, nhưng chả bệnh tật gì đâu, chẳng qua chỉ bị vướng một chút về đường âm thôi... Cụ bảo nhà mình có ông mãnh tổ là cụ Kính với anh Thuận, hai người này đều đi hầu Thánh cả. Vợ chồng cháu Trang nên sắm mấy cái lễ, đi lễ, bà sẽ đi cùng... Khi cháu khôn lớn thì bà không còn, nên cháu cũng chẳng tường bà. Nhưng bà lúc nào cũng thương cháu. ( Nghe bà nói, cháu Trang ngồi phía sau nước mắt tràn mi nghẹn ngào khóc). Chỉ mong giúp cháu được gì thì bà sẽ cố gắng... Sắm lễ rồi đi về phủ Xuân Trường, ở Hành Thiện ấy, cầu đức thánh Minh Không, bà sẽ nói với cụ Kính và anh Thuận nữa cùng với bà đi xin cho. Bà bảo người dương đi cầu mười thì chỉ bằng người âm đi một lần thôi. Hằng lại lắng nghe, tay ghi vào giấy, miệng luôn: “ Vâng ạ...dạ, vâng ạ....”. Ông nói là Anh Thuận đúng là mất ngày mồng 1 tháng 6 âm lịch. Giỗ anh các con rất chu đáo rồi. Nhưng vì anh mất vào ngày linh, ngày triệt đinh, nên các con sau này hiếm con trai. Thôi thì trai gái gì cũng được miễn là hiếu thảo. Ông bảo người ta có ba cái khổ: thứ nhất là yểu, thứ hai là tuyệt, thứ ba là bần. Bần hàn thì không gõ đến cửa nhà mình rồi. Yểu thì cũng không, phúc đức thọ trường rồi. Còn tuyệt tức là không con cháu thì rất khổ. Bởi thế vợ chồng cháu Trang cứ yên tâm, ông bà sẽ giúp. Hằng : Bà lại vừa khóc vừa nói Nhắc đến bà ngoại càng thấy đau lòng. Xuống đấy mẹ có gặp bà, mới biết rằng khi bà mất người ta đem chôn cùng với mấy người vào gò đất gần gốc gạo sau đình Lạc Khoái ... Khi nào các con có điều kiện về đấy thắp cho bà mấy nén hương để bà đỡ tủi mà những người xung quanh được thắp hương người ta cũng nhớ ơn mình... Hằng lại lắng nghe, tay ghi, rồi quay sang tôi: Bà bảo Cậu Tân lên đây được sao không bảo anh Dưỡng lên ? Tôi trả lời mẹ : “ Thưa mẹ, anh Dưỡng ở xa quá, sức khoẻ lại không tốt nên con không báo. Hai hôm trước giỗ Tổ ở quê anh em con mới gặp nhau. Hôm nay bố mẹ dạy điều gì con xin hứa sẽ truyền đạt lại cho anh con ạ.” . Hằng lại tiếp: Bà bảo Còn việc chồng con của Thoa với Thuỷ thì Thuỷ không vướng gì đâu, nhưng Thoa thì có tiền duyên đấy. Nên phải nhờ thày làm lễ cắt tiền duyên cho nó rồi mọi việc sẽ tốt đẹp thôi. Việc con cái của cháu Trang cũng thế, cũng vướng một chút về đường âm. Nên sau khi lễ ở phủ Xuân Trường xong thì về phủ Vân Cát, nơi thờ đức Thánh Mẫu cầu xin thì vợ chồng nó sẽ có con cái đề huề thôi. Bà nói dì Cởn xuống đấy mẹ có gặp rồi. Hai lần mẹ mời dì lên chơi, nhưng đến đây phải chờ mãi mới được vào nhà. Nghe bà nói thế ông giải thích luôn là Các cụ nhà ta rất giữ lễ. Thấy người lạ mà không thấy thờ trong bát hương là quan Thổ Công, Thổ Thần và các cụ không cho vào. Sau nghe bà giảng giải mới biết, mới mời, chứ không phải các cụ không tiếp đón em của bà. Cũng như các cụ bên họ Mai, là thông gia,họ Nguyễn nhà mình vẫn mời các cụ lên ngồi trên bàn thờ... Ông bảo Chỉ có bát hương thờ bà ngoại các cháu lẽ ra con nên để thấp hơn một chút, vì đấy là bát hương bụi. Nghe vậy vợ chồng tôi và mấy chị em nhìn nhau: “Đúng quá. Vì bà ngoại mới mất chưa cải cát”.. Hằng tiếp : Ông bảo Ảnh thì vẫn để cao ngang hàng với nhau, nhưng bát hương con để xuống dưới... “ Vâng ạ. Chúng con sẽ làm theo ý bố ạ... Thưa mẹ, con xin hỏi là xuống đấy mẹ có gặp cậu Bạn không ?”. Hằng : Bà bảo Xuống đấy mẹ có gặp cậu Bạn. Cậu ấy cứ than phiền vì cậu ấy không có giỗ. Tôi thưa luôn: “ Mẹ ơi, cậu đi Tân Thế Giới rồi biệt tích luôn. Vì không biết cậu mất ngày nào nên không giỗ. Vậy con xin hỏi mẹ là giỗ cậu con vào ngày nào ạ ?”...Hằng : Bà bảo Tiết đông chí này đây. 27 tháng 11 con ạ... Tôi: “Thưa mẹ, mẹ có gặp ông ngoại và cậu Bảo không ?”. Hằng: Bà bảo Mẹ có gặp ông ngoại, gặp các cậu, gặp rì. Ở dưới ấy đi lại thăm nhau rất là dễ. Mẹ muốn giỗ mẹ sắp tới các con sắm mấy bộ quần áo để mẹ biếu ông ngoại, bà ngoại, các cậu, các rì... Còn về chuyện vận hạn, thì vợ chồng con không có gì phải lo cả. Nhưng con nhắc anh Dưỡng nhớ giữ gìn sức khoẻ. Sang năm là vận hạn đấy, nhất là tháng ba, phải cẩn thận kẻo sai một ly, đi một dặm... Hằng: “ Bà nội gọi Hà. Nhà mình có ai tên là Hà không ?”. Hà là chồng Hoa đang quay phim vội ngồi xuống: “ Cháu đây ạ”. Hằng : Bà bảo Tháng 12 năm nay Hà có hạn, nên đi đâu phải cẩn thận, 30 Tết chưa phải đã tai qua nạn khỏi... Ông bảo Đã dặn thì dặn cho kỹ. Hạn là hạn cả tháng, nhưng nhất là những ngày 3 và ngày 7 làm việc gì cũng phải giữ gìn... Ông nói Mộ của ông nội thì vẫn ở xứ đồng Mả Cổ. Mộ ông nội ở đấy tốt lắm, đắc địa lắm. Tổ tiên xui khiến làm sao mà cái ngày quy tập mộ các cụ vào lăng lại không động tới mộ ông, chứ nếu không thì rất phiền. Sau này các con vẫn giữ nguyên như vậy, không được thay đổi. Hằng quay sang tôi: “ Vưà nhắc đến cụ nội thì cụ nội về... Vâng,cụ Nguyễn Trọng Thóng ạ”, rồi hướng về phía “linh hồn” cụ nội, tay ghi, miệng hỏi : “ Vâng ạ...Thế ạ...Cụ đọc lại cho cháu ghi ạ... Cháu xin đọc lại xem đã đúng chưa cụ nhé...”. Hằng vui vẻ nói với cả nhà: Cụ nội về, cụ bảo Xây được nhà thờ Tổ các cụ phấn khởi lắm. Ý cụ muốn là nếu được đôi câu đối nôm để dạy bảo, nhắc nhở con cháu... Cụ đọc cho hai câu thế này : “Tình cốt nhục muôn đời không phai nhạt. Nghĩa tử tôn vạn kiếp chẳng thể nhoà”...Thì các con xem ... Tôi thưa: “ Chúng con sẽ xin tiến cúng nhà thờ Tổ đôi câu đối ông vừa cho ạ. .. Thưa bố, con muốn được hỏi bố là đất và hướng nhà nơi chúng con đang ở đây và nơi anh Dưỡng con đang ở dưới Nam Định thế nào ạ ?”.... Hằng: ông bảo Đất ở đây, thứ nhất là lành, thứ hai là sạch, không có vong có cốt. Đấy là điều yên tâm nhất. Còn hướng nhà thì, phố xá mà, không thể theo ý mình được. Như thế này là gia trạch bình yên rồi. Còn nhà anh Dưỡng thì tuy cây cối điền viên có hơn ở đây, nhưng sinh khí hơi kém. Tại cả rẻo đất ấy trước có một cái giếng rất tốt, rồi người ta lấp đi mất nên bị bế mạch. Nhưng cũng không sao đâu... “ Con xin hỏi bố là vừa rồi con có mua cho cháu Thuỷ một căn hộ ở chung cư phố Đội Nhân không biết chỗ ấy có được yên ổn không ạ và chỗ vợ chồng cháu Hà – Hoa đang ở thế nào ạ ?”. ... Hằng : Ông cười bảo Ông đã được đến thăm nhà của Thuỷ đâu mà biết nó tốt hay xấu thế nào. “Đúng quá. Con chỉ mới ký hợp đồng mua trên giấy qua bản vẽ thiết kế thôi. Nhà thì họ đang xây nên cũng không biết cụ thể căn phòng của Thuỷ ở vị trí nào”. (Mọi người cười)... Còn chỗ nhà Hà – Hoa đang ở thì cũng được. Nhưng quan Thổ Công ở đấy hơi nóng tính nên các cháu phải biết, phải hương khói chu đáo. Những người nóng nảy lại được việc. Trần thế mà âm cũng vậy. Miễn sao mình biết mà cư xử... Hằng im lặng lắng nghe, rồi nói: ông ngoại đang cười, cụ phê bình là Chán cho mấy chị em, con trai, con gái, cháu nội, cháu ngoại đến đủ cả mà không sắm lấy cái lễ cho họ Mai. Đây toàn là lễ của họ Nguyễn. (Cả nhà nhìn nhau ngạc nhiên: “Đúng quá. Sao ông biết nhỉ ?”, rồi cùng cười) . Tôi nhẹ nhàng : “ Thưa thày, chúng con xin được hỏi, xuống dưới ấy thày có gặp em Kiên không ạ ? Mộ chú Phương hiện ở đâu ? Sang năm chúng con muốn cải cát mộ cho mẹ con, vậy làm vào ngày nào thì tốt ạ ?”... Đang chăm chú lắng nghe, Hằng quay sang tôi hỏi: “ Nhà ta có ai là bộ đội không ? Có một chú bộ đội vừa về”. Mọi người nhìn nhau: “ Bộ đội à ? Ai nhỉ ? Hay là Hưng ? (Hưng là con chú Phương mà Tân mới vào tìm được mộ ở nghĩa trang Trường Sơn), “Hay là Huế ?” (Huế là bạn thân của tôi hy sinh năm 1968 ở mặt trận phía Nam). Mọi người xì xào trao đổi thì Hằng cuời: “ Chú Hưng. Chú Hưng theo cậu Tân lên đây”... Hằng: Ông bảo Xuống đấy ông gặp cậu Kiên rồi. Hôm nay ông cũng định rủ cậu Kiên đi, nhưng sợ đến đông quá. Hưng thì không thể ngăn được vì cứ bám theo Tân vào. Chắc là cũng có tâm sự muốn nói. Nhưng mà thôi, phải nhường các cụ họ Nguyễn. Họ Nguyễn về đông, các cụ cử đại diện nói, mà họ Mai nói nhiều thì không tiện. Ông nội thì bảo Không sao . Các cụ vui vẻ lắm. Ông ngoại bảo Còn việc cải cát mộ cho mẹ con thì sang năm, vào tháng 10 âm lịch, từ mồng 1 đến mười rằm chọn ngày nào tốt thì làm. Mẹ con luôn than phiền rằng hiện nay chuột nó cứ rúc vào trong mộ, không yên. Nhưng biết làm sao. Chả lẽ lại đào lên à, đành chịu khó vậy... Lăng các con xây đẹp, bố mẹ đều ưng, nhưng rút kinh nghiệm mộ phải để thông thiên chứ không xây kín . ( Tân nhìn tôi gật đầu: “Đúng. Nhà mình xây bít kín thật” )...Hằng: “ Có một chú bộ đội nữa về ... À, chú Huế”. Vợ chồng tôi và cả nhà mừng: “A ! Huế”. Tôi bảo cháu Trang lấy ảnh bác Huế xuống. Chú ấy nói với chú Hưng là Họ không có thuốc lá mời anh em mình đâu . (Tôi giật mình: “ Đúng. Huế nghiện thuốc lá”). Vợ tôi giục cháu Quang Anh: “ Con đi mua thuốc về mời bác Huế”... Hằng: Chú Hưng bảo Mộ của chú ấy ở nghĩa trang Trường Sơn, Đoàn 559 họ rất chu đáo. Họ có bốc mộ, có làm bia, chỉ buồn là hài cốt không nhiều. Tôi hỏi : “ Huế ơi, năm ngoái cháu Bình với cháu Mạnh nhờ nhà ngoại cảm Năm Nghĩa chỉ dẫn. Các cháu có đến nghĩa trang xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, Quảng Trị tìm và đặt bia mộ Huế trong khu “Liệt sĩ vô danh”, không biết có đúng Huế nằm dưới ấy không ? Sáng nào thắp hương bàn thờ gia tiên mình cũng khấn Huế, Huế có về được không ?”... Hằng: Chú Huế bảo Mục đích chính của Huế hôm nay cốt khoe với Trung là Huế đã về được đây. Vì thế mình mới chen ngang các cụ đấy, chứ mình có trong danh sách được mời đâu. Bao nhiêu năm Trung luôn thắp hương cho mình, mình biết, mình cảm động lắm, cảm động tấm lòng của bạn đối với mình. Chỉ tiếc rằng giá tìm được mình sớm hơn thì đỡ tội cho mẹ. Vừa rồi mình theo các cháu về gặp mẹ, cụ bảo khi còn sống lúc nào cụ cũng mong tìm được mộ mình thì mới yên tâm nhắm mắt. Nhưng mà việc ấy là do số mệnh, đến lúc nào là nó đến. Thôi thế cũng là may lắm rồi, chứ biết bao nhiêu người bom xé nát tả tơi chả còn gì. Ngay anh bạn Hưng này, anh ấy vừa than phiền là một cái chân của anh ấy bay đâu mất ... ( Tân ngồi bên gật đầu: “Đúng. Anh bạn cùng đơn vị với Hưng nói Hưng bị mất một chân, khi chôn không tìm thấy” ). Tôi hỏi: “ Vậy ngôi mộ ở nghĩa trang xã Hải Phú, huyện Hải Lăng mà các cháu đã gắn bia, có đúng là mộ của Huế không ?”. ... Hằng: Chú Huế bảo Đúng. Tôi mừng quá, đứng lên lấy trong tủ lưu niệm chiếc đồng hồ cũ: “ Huế có nhận ra chiếc đồng hồ này không ? Lần cuối cùng chúng mình gặp nhau vào tháng 8 năm 1967 ở Nghi Lộc, Nghệ An. Đêm chia tay ôm nhau khóc, Huế tháo chiếc đồng hồ này đưa mình, còn mình cởi chiếc áo đang mặc trao cho Huế. Rồi từ đấy không còn được gặp nhau nữa. Chiếc đồng hồ mình vẫn giữ và coi là kỷ vật...”...Hằng: Chú Huế bảo Mình xúc động lắm Trung ạ. Trung vẫn giữ được những kỷ vật ấy. Về thấy nhà cửa, vợ con của Trung thế này mình mừng lắm... Hằng quay sang phía vợ tôi : Chú Huế bảo rằng Hương ơi, mình tâm sự với Trung một tý nhé. Bọn mình có những kỷ niệm, những tình cảm gắn bó mà chỉ những người cùng vào sinh ra tử với nhau mới có được.... Trung ạ, mình biết những trang viết của Trung đều có dáng dấp mình, mình thích lắm... Tôi nói luôn với Huế: “ Truyện tình cờ” mình đề “Tặng NguyễnVăn Huế thân yêu” . Anh bộ đội trong ấy có cái răng khểnh là mình tả Huế đấy.”... Hằng: Chú Huế bảo Hôm nào Trung phải đốt tặng mình mấy cuốn sách của Trung nhé. Mình thích đi theo cậu lắm, theo để xem cậu viết... Chú Huế cười bảo Nhờ anh cu Đức châm cho chúng mình điếu thuốc. ( Cháu Đức là con cậu Tân đang ngồi ở cửa)... Hằng: Bà nội nói Hôm nay anh em các con gặp nhau, nội ngoại gặp nhau thế này mẹ vui quá... “ Thưa mẹ, con muốn hỏi mẹ là ngày xưa trước khi mẹ mất mẹ bị loà, hiện nay mắt con cũng thường bị đau. Liệu có việc gì không ạ ?”... Hằng: Bà nói Cái nghề của con phải làm việc bằng đầu, bằng mắt nhiều, thứ hai là bệnh ấy cũng có di truyền đấy nên con phải giữ gìn. Nhưng bây giờ khác trước rồi, chứ không như ngày xưa mẹ con mình khổ quá ... “ May mà mắt của con được cháu Thuỷ thường xuyên theo dõi chạy chữa ạ”... Hằng: Bà hỏi Ai ngồi ở cửa kia mà mẹ không biết ? “À, đấy là chú Hùng,bạn con, con coi chú ấy như em ạ”... Hằng: Chú Huế nhìn anh Hùng, chú ấy bảo Nhiều lần mình đi với Trung đều có anh bạn này... Bà bảo Cháu Thuỷ ở đây thì xa cha có chú, con chịu khó chăm sóc sức khoẻ cho chú... Ông thì nói Cái nghề của người cầm bút cần có đôi tay và đôi mắt nên con phải giữ sao cho đôi tay khoẻ, mắt sáng để làm việc. Không gì bằng lại có người nhà là bác sĩ thì may mắn lắm rồi. Chú Huế cười, chú ấy bảo Thôi có bao nhiêu tinh anh của mình, mình sẽ nhường cho Trung... À, mình rất thích cậu xây dựng nhân vật Đức Rây-mông. Cậu nhớ đốt cho mình cuốn sách ấy nhé. Tôi ngạc nhiên quá: “Đúng rồi. Đức Rây-mông trong tiểu thuyết “Đứa con kẻ thử thù”. Huế có đọc sách của mình à ?”... Thế cậu không thấy mình ở trong tủ sách của cậu hay sao ? ( Cả nhà cười. Đúng, ảnh Huế tôi đặt trong gian sách lưu niệm rất đẹp cạnh chiếc đồng hồ kỷ vật và phong bì đựng “Giấy báo tử” Huế )... Cậu không biết, chứ mình theo cậu suốt hành trình đi tìm Đức Rây-mông đấy. ( Tôi càng ngạc nhiên hơn. Đúng là năm 1976 tìm gặp được anh chàng tướng cướp này quả là một hành trình. Huế cũng đi với tôi ư ? Thú vị thật !)... Từ nay cậu đi đâu xa thì cho mình đi với nhé. Cấp cho mình cái giấy thông hành... “Cấp cho Huế cái Thẻ nhà báo nhé.” ( cả nhà lại cùng cười)... Hằng: Bà ngoại cũng cười, bà bảo Thế bây giờ đã đến lượt tôi chưa ? Tôi đáp: “ Thưa mẹ, chúng con đang mong mẹ đây ạ”... Hằng lắng nghe “bà ngoại”, rồi hỏi lại: “ Thưa bà, khi nãy ông nói chắc bà cũng đã nghe. Ông bảo sang năm thì cải cát cho bà, vậy bà có ý kiến gì không ạ ?”, rồi nhắc: “ Mọi người cứ hỏi bà đi”. Vợ tôi xúc động: “ Mẹ ơi, con muốn hỏi mẹ là thanh minh năm nào chúng con cũng tổ chức làm cơm canh, đốt tiền vàng cúng mẹ ở nhà anh Mùi, bố mẹ có về, có nhận được không ạ ? Con xin hỏi bố là mộ chú Phương hiện đang nằm ở đâu ? Chị Mùi mới mất xuống đấy, bố mẹ có gặp chị con không ? Cháu Lan Anh nó sắp lấy chồng, chồng nó là cháu Minh, bố mẹ xem có được không ? Cháu Hạnh thì chồng nó mất rồi, hôm nay nó muốn gặp chồng nó thì có được không ? ... Hằng: Bà bảo 12 tháng 10 sang năm thì thay mộ cho mẹ... Ông nói Khi xuống đấy mục đích đầu tiên của bố là đi tìm chú Phương và bố có gặp chú Phương rồi. Chú ấy vẫn về lăng với cái mộ giả ở đấy, chứ mộ thật của chú thì bị mất không tìm được đâu. Khi gặp cậu Kiên cậu ấy phàn nàn là mộ bị động, bố mới đi theo xem sự thể thế nào, thì ra xương cốt của những người cùng nằm ở đấy lẫn lộn với nhau cả không sao phân biệt được. Cho nên có động cũng đành chịu thôi. Bởi thế, bố có ý định thế này, sang năm khi cải cát cho mẹ con, thì tiện thể các con xây luôn một ngôi mộ cho Kiên trong lăng, rồi lên chùa nhờ thày bốc bát hương đặt trên mộ cùng với bia khắc tên cậu để cậu có nơi chốn đi về... Bố mẹ và cả Kiên nữa vẫn đi về nhà anh Mùi, tiền vàng các con gửi xuống nhận được hết... Hằng: Bà hỏi Đôi nụ đeo tai của mẹ, khi còn sống mẹ cho chị Mùi. Giờ chị Mùi mất rồi thì ai giữ ? Mấy chị em tôi nhìn nhau: “ Sao mẹ nhớ thế”. Vợ tôi vừa cười vừa nói: “ Mẹ ơi, đôi nụ ấy trước khi mất chị con trao cho cháu Ngọc là con dâu giữ để làm kỷ niệm ạ. Hay là chúng con làm một đôi như thế gửi xuống cho mẹ nhé”...Hằng: Bà bảo Ừ, làm y như thế... Hằng: Ông cười bảo Để cho bà vui ấy mà, xuống đây vẫn còn lẫn, có khi ăn rồi bảo chưa ăn, vừa đưa cho rồi lại bảo đã đưa đâu, cháu mình mà cứ bảo con hàng xóm. (Đúng quá. Trước khi mất bà bị bệnh A-giê-mơ, khi nhớ, khi quên, lẫn lộn cả. Thì ra xuống đấy vẫn thế). Vợ tôi thưa: “ Bố ơi, con xin hỏi là chỗ đất nhà cậu Tân và đất nhà chị Hồng đang ở có vong cốt gì không ? Rồi cái nhà con ở Nam Định khó bán quá không biết vì sao ?”.... Hằng: Ông bảo Chỗ đất nhà Tân và nhà Hồng không sao. Cứ yên tâm mà ở. Ông cười Còn chỗ nhà con, nhà Hương-Trung ấy, khó bán là vì có ông tiền chủ, ông ấy chưa muốn cho bán. Nên các con phải sắm lễ khấn xin ông ấy. Ông này vốn làm nghề nấu kẹo lạc. Nếu các con mua được thứ kẹo ngon nhất Nam Định là kẹo Sìu Châu cúng thì may ra... Chứ không ông ấy không cho bán đâu. Ông bảo Bà là bà chỉ thích ở nhà Mùi thôi, nên hôm nào giỗ, Tân phải thắp hương khấn mời bà về nhà con. Nhớ là hương đang cháy dở thì tắt đi, đến khi đem lên nhà con thắp tiếp, chứ không phải chỉ đem cái chân hương về đâu... Ông bảo Khi nào bốc mộ xong thì bà mới trở lại bình thường, chứ bây giờ vẫn bị lẫn, lúc nhớ, lúc quên. Ông bảo Làm sao hôm nay lại theo ông lên đây, chứ mọi khi cúng giỗ toàn mình ông đi, đem lộc về ông bảo “ của nhà Trung – Hương đấy”... Ông nhắc Lan Anh khi nào cưới thì nhớ dắt cả Minh nữa về thắp hương ông bà nhé. Ông bảo ông rất thương cháu Hạnh. Cháu thành quả phụ sớm quá. Nhưng mà người ta sướng khổ đều do cái số cả, đành phải chịu thôi. Còn cháu muốn gặp chồng cháu ở đây thì khó. Bởi nhà mình đã là ngoại, với cháu thì lại thêm một lần ngoại nữa nên không được đâu. Ông bảo Chị Mùi mất cũng tận số rồi đấy. Mà ra đi như thế là mát mẻ, các con đừng có nghĩ ngợi nhiều để chị con dễ siêu thoát. Chị con lại rất là nặng trần. Xuống đấy rồi nhưng lúc nào cũng sụt sùi u uất...
Ông nội bảo Thôi sắp đến giờ các cụ bên nội, bên ngoại phải đi rồi,các con bớt ra mấy lễ để tặng cho Hưng và Huế. Vợ tôi nói luôn: “Thưa bố, không phải bớt đâu ạ. Chú Hưng và anh Huế chúng con sẽ có tiền vàng biếu riêng ạ”. Cháu Trang nghẹn ngào: “Ông ơi, đến tháng 11 này vợ chồng con làm thụ tinh trong ống nghiệm ở Bệnh viện 103 thì có được không ạ ?”....Hằng: Ông bảo Tháng 11 này là tháng Tý. Mà sang năm cũng là năm Mậu Tý. Tý hợp với cung tử tức của các cháu nên đều tốt. Nhưng các cháu phải đi lễ cầu xin Thánh trước, nếu không thì khó lắm đấy. Hay là đầu tháng, vào mồng 1 tới này đi lễ. Ông bà sẽ cùng đi cầu giúp cho các cháu... Có hai ngày mồng 1 và 19 tháng 11 là tốt. Thế nhé !
... Hằng cười: “ Dạ, gặp được các cụ hôm nay con cũng rất vui. Con cũng cám ơn các cụ ạ... Dạ, con xin chào các cụ”. Cô chắp hai tay cúi đầu vái mấy vái, rồi ngẩng lên nói: “ Các cụ đi rồi ”.
Kim đồng hồ chỉ 16 giờ 48 phút.
Thế là cuộc “gặp” linh hồn bố, mẹ và những người thân của gia đình tôi diễn ra liên tục đúng 68 phút.

3

Tôi đặt cả máy ghi âm, máy quay phim thu trọn vẹn cuộc “gặp gỡ” kỳ diệu ấy. Hình ảnh rất nét, âm thanh rất rõ. Tôi đã nghe đi nghe lại, xem đi xem lại nhiều lần, lần nào cũng xúc động. Về tình cảm, từ hôm ấy tôi thấy hình ảnh bố mẹ và những người thân đã quá cố luôn rất gần gũi với tôi, quanh quẩn bên tôi, cười nói cùng tôi, nhất là những buổi sớm thắp hương bàn thờ, thỉnh chuông chắp tay khấn vái gia tiên. Về lý, tôi cố tỉnh táo, khách quan phân tích từng chi tiết của sự việc thần bí này và nhận ra rằng hầu hết những thông tin từ các “linh hồn” người thân qua nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng truyền đạt đều chính xác.
Chẳng hạn về ngôi mộ ông nội tôi (cụ Nguyễn Trọng Thóng). Từ khi tôi còn bé, hàng năm vào dịp Thanh ninh bố thường cho theo đi tảo mộ. Đến cánh đồng Mả Cổ, bố thắp hương cắm xuống đất khấn vái. Không thấy mộ đâu, trước mặt chỉ là những thửa ruộng trồng ngô xanh tốt. Bố bảo mộ ông nội ở khu vực này. Ngày xưa bố và các chú nhờ thày địa lý tìm mạch đất thiêng. Nửa đêm bí mật chuyển hài cốt của ông nội đến đấy, đào rất sâu, hạ tiểu xuống, lấp chặt, san phẳng, trên lại trồng ngô như cũ. Việc làm ấy ngoài bố, các chú và thày địa lý không ai được biết. Sau này “đi xem” mấy “thày” đều bảo mộ ông nội “kết”. Có lẽ vì thế, khi quy tập bố không đưa mộ ông vào lăng.
Năm 1995, lần đầu tiên tôi gặp nhà ngoại cảm Đỗ Bá Hiệp. Anh nắm bàn tay tôi một lúc, rồi nói: “ Ngôi mộ ông tam đại nhà anh rất tốt. Con cháu được nhờ nhiều đấy. Mộ của cụ đặt sâu, lưng tựa núi cách chừng 300 mét, mặt hướng Nam đồng rộng mênh mông không vật cản. Phía Tây là sông và phía Đông cách 25 – 30 mét có con mương nhỏ. Thế đất rất đẹp... Anh có người anh trai mất năm 3 tuổi, rất thiêng, nhưng việc cúng giỗ lại không chu đáo.”. Tôi về quê, hỏi chị cả, năm ấy đã ngoài 70 tuổi. Chị tôi nói: “Đúng. Cậu tên là Thuận, mới được 28 tháng thì chết. Chị nhớ hôm ấy là mồng 1 tháng 6. Cậu mất khi còn bé quá nên việc cúng giỗ cũng không được để tâm”. Như thế là đúng. Đó chính là anh Thuận mà “linh hồn” bố tôi xác nhận mồng 1 tháng 6 giỗ anh, còn “linh hồn” mẹ tôi thì bảo ở dưới ấy anh Thuận được đi hầu Thánh cùng với cụ mãnh Tổ tên là Kính. Cụ Kính là em ruột ông nội tôi.
Tháng 4 năm 2007, tôi mời nhà ngoại cảm Đỗ Bá Hiệp về quê. Đang trên con đường dẫn vào núi, anh kéo tôi rẽ xuống cánh đồng. Đó là đồng Mả Cổ. Tới khu ruộng trồng ngô, anh chỉ xuống: “ Mộ ông nội anh chỗ này. Sâu lắm. Cốt của cụ còn tốt nguyên”. Tôi thắp hương, hoá tiền vàng cầu khấn và thấy trong lòng rất xúc động. Tôi dẫn anh Hiệp tới khu lăng của gia đình cách đó mấy trăm mét. Khuôn viên rộng, có tường bao, cổng sắt, sân lát gạch đỏ, phía trước hai cây đại, bốn bụi mẫu đơn trổ đầy hoa. Cung thờ tám mái cong dán ngói mũi hài, bên trong ốp gạch men sứ màu nâu,bát hương bằng đá. Danh sách họ, tên 19 thân nhân quá cố được khắc chung trên hai tấm bia gắn bên tường. Các phần mộ không phân biệt đều bằng phẳng dưới thảm cỏ xanh biếc. Chỉ tay xuống góc bên trái, anh Đỗ Bá Hiệp bảo tôi: “ Bố anh nằm đây. Anh giống ông cụ, cũng to cao” Tôi thầm nghĩ: “Vị trí đúng. To cao cũng đúng”. Lát sau anh Hiệp nói tiếp: “ Trong lăng nhà anh có một người ngoại tộc”. Tôi nghi ngờ về thông tin này và tự hỏi: “ Nếu thật sự anh Hiệp có khả năng thấu thị thì chỉ biết số hài cốt trong lòng đất so với danh sách khắc trên bia thừa hay thiếu, chứ làm sao biết được có người ngoại tộc ?”. Nghi ngờ ấy cứ ở trong đầu, cho đến bữa nay tôi đem việc ấy hỏi “linh hồn” bố tôi và thông qua nhà ngoại cảm Bích Hằng bố tôi không chỉ xác nhận là đúng, mà còn nói rõ mộ người ngoại tộc ấy nằm sát mộ cụ Ngoạn. Tôi tra cứu “Sơ đồ hệ phả gia tộc” và được biết cụ Ngoạn là cụ mãnh Tổ đời thứ sáu mà bố tôi gọi là ông chú.
Thật kỳ lạ. Không thể ngẫu nhiên mà các thông tin từ hai nhà ngoại cảm phát ra ở những thời điểm khác nhau, hoàn cảnh khác nhau lại trùng khớp như thế. Để giải toả băn khoăn này, tôi gặp và hỏi nhà ngoại cảm Đỗ Bá Hiệp: “Vì sao anh biết ?”. Anh Hiệp bảo: “ Bộ hài cốt người ngoại tộc ấy phát ra thứ ánh sáng khác”. Đúng là huyền bí.
Hoặc về tình bạn giữa tôi với liệt sĩ Nguyễn Văn Huế. Hai chúng tôi cùng học, rất thân nhau từ năm 1955, tới năm 1964 thì mỗi đứa đi theo một ngả đường chiến tranh. Tháng 8 năm 1967 gặp nhau lần cuối ở Nghi Lộc, Nghệ An. Tôi trao Huế chiếc áo và Huế trao tôi chiếc đồng hồ làm kỷ niệm. 6 tháng sau Huế hy sinh ở chiến trường Quảng Trị. 40 năm âm dương cách biệt, nhưng trong lòng tôi không bao giờ nguôi nhớ thương Huế. Sáng nào thắp hương bàn thờ gia tiên tôi cũng khấn tên Huế cùng với ông, bà, bố, mẹ và những người ruột thịt đã quá cố của tôi. Việc “linh hồn” Huế về được hôm nay thật là niềm sung sướng, xúc động bất ngờ đối với tôi và trong thâm tâm tôi nhận ra đó đúng là Huế của tôi, bởi tính cách, bởi những việc Huế kể chỉ tôi mới biết. Thí dụ: Huế nghiện thuốc lá nặng và mỗi khi thèm thuốc là không sao chịu nổi, phải tìm bằng được. “ Linh hồn” Huế về, đầu tiên là gợi ý thuốc lá và lát sau, chắc thèm quá, lại Nhờ anh cu Đức châm cho điếu thuốc. Thứ hai là trong các trang viết của tôi từ truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản điện ảnh hầu như nhân vật nào là bộ đội có bản chất chính diện tôi đều đặt tên là Huế, ngoại hình miêu tả cũng có những nét giống Huế, nhất là đôi mắt sáng, miệng cười tươi có chiếc răng khểnh rất duyên. “Linh hồn” Huế nói đều đã đọc sách của tôi và nhận ra điều ấy. Đặc biệt “linh hồn” Huế nhắc đến nhân vật Đức Rây-mông và kỳ lạ thay Huế bảo Huế theo tôi suốt hành trình đi tìm nhân vật này. Điều đó thì chỉ mình tôi biết. Năm 1976, trước khi đi thực tế vào các tỉnh phía Nam vừa giải phóng để sáng tác về đề tài cải tạo tội phạm và chủ nghĩa thực dân mới, các đồng chí công an ở “Cục quản lý trại giam” gợi ý: “ Vào đấy anh cố tìm gặp Đức Rây-mông. Con người này có nhiều chuyện ly kỳ hấp dẫn lắm đấy”. Đó là một tướng cướp nổi tiếng trong giới giang hồ thời Mỹ ngụy. Tôi đến các trại giam Chí Hoà, Long Thành, Sông Bé...tìm, không có. Đọc hồ sơ lưu trữ của “Nha Cảnh sát Đô thành”, của “Tổng Nha cảnh sát Quốc gia”, của Cục lưu trữ Chính phủ ngụy và những tờ báo quan tâm nhiều tới “ xã hội đen” thời ấy. Kết quả thu được rất ít. Gặp mấy “đại ca” trong “giới anh chị” đã “rửa dao gác kiếm”, nói tới Đức Rây-mông họ đều tỏ ra khiếp nể, nhưng từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng Đức Rây-mông biệt tích đâu không ai biết. Sau đó tình cờ tôi phát hiện ra Đức Rây-mông đã thay tên đổi họ đang cai nghiện tại “Trung tâm Phatima Thủ Đức”. Tôi tìm cách gặp và đã khai thác được ở Đức Rây-mông rất nhiều chuyện lạ trong giới du đãng, hiểu về họ, rồi từ chất liệu ấy tôi đã xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của mình.. “Linh hồn” Huế nói đã theo tôi suốt hành trình tìm Đức Rây-mông là thế, khiến tôi không thể không tin.
Hoặc mẹ vợ tôi, hai năm cuối trước khi qua đời cụ bị bệnh A-giê-mơ khi nhớ, khi quên lẫn lộn cả. Bố vợ tôi mất trước đó 8 năm. Nghĩa là cụ ông không biết cụ bà bị lẫn. Vậy mà “linh hồn” cụ ông về kể rằng bà xuống đấy vẫn lẫn và phải đến khi cải cát xong mới trở lại bình thường. Hoặc khi còn sống mẹ vợ tôi rất quý đôi nụ đeo tai, trước khi qua đời cụ cho chị Mùi là con gái cả, nay chị Mùi đã mất “linh hồn” cụ về hỏi ngay Đôi nụ của mẹ bây giờ ai giữ ?
Hoặc “linh hồn” mẹ đẻ của tôi về nói Xuống đấy mẹ có gặp cậu Bạn. Cậu cứ than phiền về việc cậu không có giỗ. Đúng là cậu tôi không được giỗ. Bởi cậu đi Tân Thế Giới từ khi còn trẻ rồi biệt tích luôn có ai biết ông mất ngày nào mà cúng .
Hoặc “linh hồn” bố tôi nói Bát hương thờ bà ngoại các cháu lẽ ra con nên để thấp hơn một chút vì đấy là bát hương bụi . Đúng. Vì bà ngoại các cháu mới mất chưa cải cát.
Hoặc “linh hồn” bố vợ tôi phê bình Con trai, con gái, cháu nội, cháu ngoại đến đủ cả mà không sắm lấy cái lễ của họ Mai, đây toàn là lễ của họ Nguyễn. Rất đúng với tính cách bố vợ tôi. Cụ là người chu đáo, trọng lễ nghi và cũng rất đúng vì chỉ có lễ của họ Nguyễn thật. Hoặc “linh hồn” bố vợ tôi bảo Lăng đẹp, bố mẹ ưng lắm, nhưng mộ phải để thông thiên chứ không được xây kín . Cũng đúng. Các mộ trong lăng đều bít kín.
Hoặc dường như mọi người trong gia đình “các cụ” đều biết kể cả còn sống và đã mất. “Linh hồn” nói đến tên ai, vai vế quan hệ thế nào đều đúng, cách xưng hô cũng thế. Khi thấy một người lạ là chú Hùng “linh hồn” mẹ tôi liền hỏi Ai ngồi ở cửa kia mà mẹ không biết ? và “linh hồn” Huế nói luôn Nhiều lần mình đi với Trung đều có anh bạn này...
Có thể kể ra nhiều chi tiết tương tự để khẳng định rằng hầu hết những thông tin từ “linh hồn” bố, mẹ và những người thân đã qua đời của tôi được truyền đạt qua nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng là chính xác.
Từ “cuộc gặp” kỳ diệu ấy, có được những thông tin ấy, một tuần sau, sáng mồng 1 tháng 11 theo lời khuyên của “linh hồn” bố mẹ, vợ chồng tôi cùng hai cháu Mai Trang – Quang Anh đi lễ, mục đích “cầu tự” để các cháu “sớm có em bé”. Chúng tôi về Hành Thiện, Phủ Xuân Trường, nơi có Chùa Keo cổ kính nổi tiếng từ mấy trăm năm. Ở đây thờ Phật và thờ đức thánh Minh Không. Xong, về đền Bảo Lộc (ngoại thành Nam Định) để lễ Đức thánh Trần ( Tức Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn). Tại ngôi đền nổi tiếng này trước đây bố mẹ tôi cũng đến dâng lễ “cầu tự” và được Đức Thánh ban cho anh tôi, rồi tôi ra đời. Từ đền Bảo Lộc, chúng tôi về phủ Vân Cát lễ cầu Đức thánh Mẫu. Trọn vẹn một ngày, mọi việc thuận lợi và tôi thấy lòng rất thanh thản.
Mấy năm trước vợ chồng cháu Quang Anh đã tới các cơ sở y tế lớn chạy chữa. Làm thụ tinh nhân tạo ở Bệnh viện phụ sản Trung ương, rồi Trung tâm công nghệ phôi thuộc Viện Quân y 103, tốn kém không ít tiền của và thời gian nhưng đều không kết quả. Cuối tháng này, theo lời khuyên của “linh hồn” bố mẹ tôi, sau khi đi lễ về, các cháu sẽ thực hiện phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm cũng ở Viện Quân y 103. Cả gia đình chúng tôi hy vọng. Không chỉ tin vào khoa học hiện đại mà đặc biệt lần này còn trông chờ ở sự trợ giúp của tâm linh.
Tiếp đến hai tuần sau cuộc “ gặp” kỳ diệu ấy, cũng theo lời khuyên của “linh hồn” mẹ, chúng tôi tìm vào thôn Lạc Khóai, xã Gia Lạc, huyện Gia Viễn, Ninh Bình, nơi hơn 90 năm trước bà ngoại tôi đi cấy thuê, gặp bão, bị lật thuyền chết đuối gia đình không tìm được xác và cũng không biết phần mộ ở đâu. Thôn Lạc Khóai nằm bên sông Hoàng Long. Sông Hoàng Long sâu, có đê cao, bãi rộng. Mùa mưa nước ngập mênh mông, gió to, sóng dữ. Người đi làm đồng bị lật thuyền chết đuối xảy ra thường xuyên. Nên dân ở đây phải dành một giải đất cao sát chân đê làm bãi tha ma. Bãi tha ma có mấy cây gạo cổ thụ và chỉ cách phía sau đình Lạc Khoái chừng 500 mét. Rất khớp với những thông tin mà “linh hồn” mẹ tôi cho biết. Chúng tôi được bà con trong làng nhiệt tình chỉ dẫn. Người ta còn kể cho nghe câu chuyện về “Miếu Ba Cô” được truyền khẩu mà ở đây ai cũng biết. Chuyện rằng năm ấy, sau một trận bão lớn có ba xác phụ nữ trôi dạt vào chân đê. Cả ba đều không phải dân vùng này. Người ta đưa đến chôn ở bãi tha ma phía sau đình, gần gốc gạo. Hồn ba người ấy rất thiêng, dân làng phải xây miếu thờ, gọi là “Miếu Ba Cô”. Những năm gần đây Gia Viễn thuộc vùng phân lũ. Đồng ruộng, sông ngòi, vườn ao ngập sâu trong nước hàng mấy tháng liền. Những cây gạo ngoài bãi tha ma to cao là thế cũng chết. Còn “Miếu Ba Cô’ thì bị sóng nước và thuyền bè xô đổ mất.
Đi cấy thuê, gặp bão, lật thuyền chết đuối mất xác cùng với bà ngoại tôi còn có hai người bạn gái cùng quê. Vậy có phải đó chính là xác ba người phụ nữ được chôn ở đây và được thờ trong “Miếu Ba Cô” ? Dù chẳng có bằng chứng, nhưng không hiểu sao trong thâm tâm tôi cứ tin là thế.
Sau khi thắp hương khấn cầu Thành Hoàng thờ trong Đình Lạc Khoái chúng tôi được hai cháu Tuấn và Chương dẫn ra bãi tha ma, tìm tới chỗ đất cao còn rất rõ dấu tích của “Miếu Ba Cô”. Bày đồ lễ, thắp rất nhiều hương, đốt tiền vàng, quỳ xuống chắp tay tôi khấn rõ ràng rành mạch: kể về mẹ tôi, về bà ngoại tôi, về những người thân trong gia đình... Rằng bao nhiêu năm do chiến tranh loạn lạc, nay các cháu mới có điều kiện tìm đến nơi bà mất, thắp hương bà... Rằng việc tìm hài cốt của bà còn rất khó khăn, hôm nay xin bà cho các cháu rước chân hương mời anh linh bà về quê. Trong lăng nhà ta đã làm sẵn mộ phần của bà... Tôi khấn, nước mắt tràn mi. Nắm hương cắm dưới đất đang cuộn khói bỗng bốc cháy đùng đùng, tro tiền bay mù mịt. Tôi cảm thấy rất rõ luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng.
Từ hôm ấy lòng tôi thanh thản, thấy phần nào vơi nhẹ được nỗi băn khoăn day dứt thương cảm đối với bà ngoại.
Tiếp đến một tháng sau cuộc “gặp” kỳ diệu ấy, với những thông tin thu được từ mấy tháng trước qua việc nhờ nhà ngoại cảm Năm Nghĩa “gọi hồn” Huế về cho biết, cùng những thông tin từ các nhân chứng như anh Ẩn (đại đội trưởng của Huế), anh Hợi (xã đội phó), chị Xuân (du kích), cô Quật (giao liên) tại thời điểm và địa bàn (xã Hải Phú, Hải Lăng, Quảng Trị) nơi Huế chiến đấu rồi hy sinh, họ đều còn sống kể lại, kết hợp với lần này “linh hồn” Huế về xác nhận ngôi mộ trong “Khu vô danh” tại nghĩa trang xã Hải Phú, Hải Lăng mà hai cháu Bình và Mạnh đã khắc bia tên Nguyễn Văn Huế là Đúng. Tôi quyết định cùng mấy cháu vào đưa Huế về nghĩa trang ở quê. Xuất phát sáng 27 tháng 12 năm 2007, đêm mới đến Đông Hà, phải ngủ lại, hôm sau vào Hải Phú, Hải Lăng. Thủ tục không khó khăn. Địa phương tạo thuận lợi. 11 giờ trưa tôi bước vào nghĩa trang. Nắng oi ả. Thắp hương trên “Đài liệt sĩ” xong, tôi nhằm “Khu vô danh” đi xuống. Đến hàng thứ ba, mộ thứ sáu bỗng cảm như có bàn tay lạnh giá đặt lên vai. Tôi ngồi xuống. Trước mặt là bia mộ Nguyễn Văn Huế... Tôi ôm lấy và khóc nức nở. Ở tuổi tôi, nỗi đau thường được kìm nén, thế mà ... Linh cảm như mách bảo ... Chúng tôi quyết định nửa đêm sẽ “bốc”. Trước lúc đó đầu tôi vẫn đắm chìm suy tư: thông tin do các nhân chứng cung cấp có thể tin . Thông tin do các nhà ngoại cảm cung cấp có thể tin. Linh cảm khi tôi đến trước mộ có thể tin . Còn vật chứng ? Tôi đặc biệt quan tâm đến chiếc răng khểnh của Huế... Đêm khuya. Rừng thưa yên vắng. Trăng cuối tháng nhợt nhạt. Hai pha đèn ắc quy chiếu xuống hầm mộ. Tiểu cốt được đưa lên. Tôi hồi hộp khi các cháu mở nắp. Xương sọ, còn. Xương ống chân, còn... “Hàm răng ?”. “Đây rồi ... Còn tốt nguyên”. Cháu Bình lướt nhẹ bàn chải mềm. Chiếc răng khểnh lộ ra. Tôi thở phào. Mừng quá. Xúc động quá. Đúng Huế đây rồi !
Hài cốt xếp cẩn thận trong hộp xốp trắng, dán băng dính, trên phủ cờ Tổ quốc đặt giữa hàng ghế, Bình và Mạnh ngồi hai bên “hầu cậu”. Xe rời nghĩa trang Hải Phú lúc 1 giờ 5 phút mà 11 giờ 30 đã về đến Yên Phương, Ý Yên, Nam Định, chỉ bằng hai phần ba thời gian hôm đi vào. Trên đường hết sức thuận lợi. Lễ đón nhận hài cốt liệt sĩ được chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức trang trọng.
Thế là bạn tôi sau 40 năm nằm nơi đất khách giữa khu rừng thưa hoang vắng nay đã về với quê hương, với bố mẹ và anh em ruột thịt. Đối với tôi 40 năm canh cánh xót thương bạn. Được may mắn trở về lành lặn, cuộc sống đủ đầy hạnh phúc bao nhiêu, tôi luôn cảm thấy có lỗi với bạn, với những người đã ngã xuống nơi chiến địa. Đưa được bạn về lòng tôi vơi nhẹ đi biết bao day dứt.
Đặc biệt là, khi tôi đang ngồi viết những dòng này thì cháu Mai Trang đi siêu âm từ Viện Quân y 103 về hớn hở vào khoe với bố: “ Bố ơi, có em bé rồi ! Bác sĩ bảo tim thai khoẻ”. Chao ơi là mừng. Niềm vui bất ngờ và thật là tuyệt vời. *
Sự chính xác của những thông tin khi “gặp” được các “linh hồn” bố, mẹ và người thân qua nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng; Kết quả việc “tìm thấy” nơi bà ngoại mất; Đưa được hài cốt của bạn về quê và việc vợ chồng cháu Mai Trang “có em bé” ... Tất cả những điều ấy khiến tôi càng suy nghĩ nhiều về những bí ẩn kỳ diệu mà các nhà ngoại cảm đem lại.
Tôi không giải thích được. Mà chính các nhà ngoại cảm cũng không giải thích được. Họ chỉ nhận biết mình có khả năng đặc biệt ấy, còn nhờ đâu mà có, thì chịu. Tôi tìm đọc để xem ý kiến các nhà khoa học ra sao ?
Trên thế giới từ lâu đã xuất hiện các nhà tiên tri, nhà ngoại cảm mà nhiều nước, nhiều nhà khoa học đã tổ chức nghiên cứu lĩnh vực này. Tuy nhiên cho đến nay họ cũng chưa có được những lý giải thuyết phục.
Còn ở nước ta, ngoại cảm không chỉ rất mới mẻ, không chỉ thuộc đối tượng để khoa học nghiên cứu mà còn là vấn đề khá nhạy cảm gắn liền với “phúc”, “họa”. Chỉ khoảng năm sáu chục năm trước thôi đã có những người điêu đứng bởi chịu ảnh hưởng “Di truyền học”, phê phán trường phái Lư-xen-cô. ( Ngày nay thì Di truyền đã trở thành ngành khoa học mũi nhọn đóng góp vô cùng vĩ đại cho cuộc sống con người). Quan điểm giai cấp cực đoan đã khiến người ta phê phán phủ định cả câu ca dao: “Con vua thì lại làm vua. Con nhà sãi chùa lại quét lá đa”. Cách đây không lâu giáo sư Hoàng Phương chỉ viết vài bài báo về hiện tượng “Thần giao cách cảm” thôi, mà phải chịu biết bao sự phê phán cay độc. Cho nên trước nột lĩnh vực mới, khó và nhạy cảm như thế hầu hết các nhà khoa học Việt Nam dè dặt, thận trọng cũng dễ hiểu. Chỉ có rất ít người dũng cảm dám đưa ra những quan điểm của mình. Nguời thì giải thích ở góc độ “ Trường sinh học”, người khác ở góc độ “Bức xạ tàn dư”, hoặc ‘ Sóng năng lượng đặc biệt”, hoặc “Thiên nhãn thông”... vân vân ...
Tuy nhiên cho đến nay cũng chưa có lý giải của ai đủ sức thuyết phục.
Điều đó có nghĩa “ngoại cảm” vẫn còn là dấu hỏi ?
Bài viết của tôi phản ánh sự việc có thực, cũng như hàng ngàn sự việc có thực khác mà các nhà ngoại cảm Việt Nam đã làm, đã tìm đuợc hàng vạn bộ hài cốt liệt sĩ trong đó có những tên tuổi lớn nhiều công lao với Tổ quốc, đã đem lại hạnh phúc cho biết bao gia đình. Một số cơ quan khoa học chuyên ngành được Chính phủ giao nghiên cứu ( Liên hiệp khoa học công nghệ tin học và ứng dụng, Viện Khoa học hình sự, Trung tâm bảo trợ văn hoá kỹ thuật truyền thống, Bộ Khoa học và công nghệ ) đã có những báo cáo kết quả trắc nghiệm và bước đầu khẳng định: “ Khả năng đặc biệt của các nhà ngoại cảm là có thật”, “ mà khoa học hiện nay chưa thể có lý giải một cách thoả đáng” . Họ có thể nhìn thấy hài cốt người chết vùi sâu dưới đất và biết được thân nhân quá cố ấy. Họ nhìn rõ diện mạo, hình dáng, nghe và hiểu được lời nói của “linh hồn” (có người chết đã hàng trăm năm), trao đổi, giao tiếp với các “linh hồn” ấy rồi truyền đạt lại thông tin cho những người đang sống với độ chính xác cao. Đó là sự thật.
Sự thật không phủ nhận được thì không nên phủ nhận.
Từ những năm đầu thế kỷ, nhiều nhà khoa học, nhiều nước Âu, Mỹ đã tổ chức và tiến hành nghiên cứu rất nghiêm túc về tâm linh. Một nhà khoa học thuộc Liên Xô cũ đã nhấn mạnh: Lý luận duy vật không những cho rằng tâm linh có thực mà còn coi đó là “vật chất notron sống”. Mục đích nghiên cứu của họ là giúp con người phát triển khả năng siêu năng lực tiềm tàng. Nếu chúng ta không sớm coi đây là một ngành khoa học và tổ chức nghiên cứu thật chu đáo thì chắc chắn sẽ tụt hậu so với thế giới. Và như thế thì thật là đáng tiếc !
Xin hãy coi “tâm linh” là đối tượng khoa học và đối xử như một ngành khoa học mới.

Hà Nội ngày 5 tháng 6 năm 2008

* Ngày 3 – 12 – 2008, cháu Mai Trang sinh đôi hai bé tại Bệnh viện phụ sản Hà Nội. Bé gái Nguyễn Gia Linh nặng 2,7 kg, bé trai Nguyễn Gia Huy nặng 3 kg. Mẹ khoẻ, con khỏe. Các cháu đều rất xinh xắn kháu khỉnh dễ thương.

Theo Blog trannhuong.com