QuocHung's Blog

21 thg 7, 2009

NGUYỄN VĂN VĨNH

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN BÁO CHÍ TIẾNG VIỆT VÀ TRUYỀN BÁ CHỮ QUỐC NGỮ.
Nguyễn Thị Lệ Hà - Viện Sử học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

1. Vài nét về thân thế của Nguyễn Văn Vĩnh
Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 30 tháng 4 năm Nhâm Ngọ, (tức ngày 15.6.1882), tại số nhà 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội, nguyên quán làng Phượng Dực, thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Phú Xuyên). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, đông con ở vùng đồng chiêm trũng, quanh năm đói kém, nên bố mẹ ông phải bỏ quê ra Hà Nội kiếm sống. Tám tuổi ông làm nghề kéo quạt ở trường Thông ngôn của Pháp mở tại đình Yên Phụ.

Năm 11 tuổi nhờ chăm chỉ và ham học ông được Hiệu trưởng D’Argence đồng ý cho dự thi tuyển vào lớp thông ngôn tập sự ngạch Tòa công sứ, niên khóa 1893-1895. Ông đỗ thứ 12 trong tổng số 40 học sinh. Ông đã đỗ thủ khoa khi mới 13 tuổi và được tuyển làm phiên dịch của Tòa công sứ Lào Cai, Tòa công sứ Hải Phòng, sau lại làm thông ngôn ở Tòa công sứ Bắc Giang (từ 1902-1905).

Ngoài công việc chính ở Tòa công sứ, Nguyễn Văn Vĩnh còn là cộng tác viên của hai tờ báo tiếng Pháp: “Courrier de Hai Phong”, và “Tribune Indochinoise” của Schneider. Chính nhờ những hoạt động năng nổ này của Nguyễn Văn Vĩnh được viên Công sứ Bắc Giang Hauser tuyển làm thư ký riêng. Cho nên khi Hauser được cử về làm Đốc lý Hà Nội, ông cũng đưa Nguyễn Văn Vĩnh về theo.

Đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều biến đổi: phong trào “châu Á thức tỉnh” nổi lên; Nhật thắng Nga trong chiến tranh Nga -Nhật (1904-1905). Ở trong nước phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân phát triển rầm rộ. Trước tình hình này, sau khi được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương P.Beau nhận thấy cần cải cách nền giáo dục Việt Nam để có thể theo kịp được những biến động xã hội, đồng thời chú ý đến các công việc từ thiện nhằm xoa dịu sự phản kháng của nhân dân trước chính sách hà khắc của chính quyền thuộc địa. Toàn quyền P.Beau giao nhiệm vụ cho Đốc lý Hauser trực tiếp vận động và giúp đỡ người Việt làm đơn và thảo điều lệ xin phép lập các trường, các hội, rồi dịch ra tiếng Pháp để đệ trình lên Phủ thống sứ. Nguyễn Văn Vĩnh được Hauser tín nhiệm và giao cho đảm trách toàn bộ công việc này. Chính vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh là sáng lập viên của các hội, các trường được thành lập ra lúc bấy giờ trong đó tiêu biểu là:

- Hội Trí Tri ở 59 phố Hàng Quạt, Chủ hội là ông Nguyễn Liên. Nguyễn Văn Vĩnh là sáng lập viên, đồng thời là Chủ tịch Ban diễn thuyết và giảng sách mỗi tuần một lần, cùng với ông Nghiêm Xuân Quảng và Trần Tán Bình là Uỷ viên.

- Trường Đông Kinh Nghĩa Thục thành lập năm 1907 ở phố Hàng Đào, Nguyễn Văn Vĩnh là người thảo điều lệ và viết đơn xin thành lập, đồng thời là giáo viên giảng dạy tiếng Pháp, dạy cách viết văn và diễn thuyết.

- Thành lập “Hội dịch sách”, “Hội giúp đỡ người Việt đi sang Pháp học trung, đại học và kỹ thuật”, cùng nhiều trường, nhiều hội khác…

Năm 1906, Pháp mở Hội chợ thuộc địa tại Thành phố Marseille. Đốc lý Hauser được giao tổ chức gian hàng Bắc Kỳ. Đốc lý Hauser đã rất tin tưởng Nguyễn Văn Vĩnh và giao tất cả công việc từ thu thập sản phẩm hàng hoá, thiết kế trưng bày đến tuyển thợ đi Marseille dựng gian hàng. Đồng thời, ông được giao quản lý luôn gian hàng Hội chợ thuộc địa từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1906, khi đó ông mới 24 tuổi.

Hội chợ thuộc địa kết thúc, Nguyễn Văn Vĩnh ở lại Marseille một tháng, được Đốc lý Hauser đưa thăm quan nhà in và báo “Revue de Paris”, Nhà xuất bản Hachette, Nhà xuất bản Từ điển Larousse.

Năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội Nhân quyền Pháp.
Sau khi về nước, ông xin nghỉ việc và cùng với một người Pháp tên là Dufour thành lập nhà in. Ông cùng với Phan Kế Bính dịch và xuất bản hai tác phẩm đầu tiên là Tam Quốc và Truyện Kiều. Trong Lời tựa của cuốn Truyện Kiều ông đã đưa ra câu nói nổi tiếng: “Nước Nam ta mai sau này hay hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ”. Câu nói này đã trở thành lời kêu gọi của các nhà truyền bá chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX, nó được in trên tất cả các bìa sách do nhà in của Nguyễn Văn Vĩnh xuất bản. Đồng thời, đây cũng là mục đích trong suốt cuộc đời làm báo và xuất bản của ông. Từ đó, Nguyễn Văn Vĩnh chuyển hẳn sang nghề làm báo và xuất bản. Ông đã quyết định “tự cách tân” mình, bỏ búi tó, khăn xếp, bỏ áo dài, mặc quần áo theo kiểu Âu, đội mũ cát két, cắt tóc ngắn, đi giầy da, dùng xe môtô mang từ Pháp về. Năm 1907 là năm đầu tiên ông thực sự bước vào làng báo với nhiều bút danh khác nhau như: Tân Nam Tử, Đào Thị Loan, V, Bản Quán… tuỳ theo từng thể văn.

Bên cạnh đó, ông cũng là hội viên rất tích cực của hai hội lớn là Trí Tri và Khai Trí Tiến Đức. Song song với công việc mà cả cuộc đời ông say mê kể trên, ông còn tham gia hoạt động chính trị, làm Uỷ viên Hội đồng Thành phố Hà Nội khi mới 25 tuổi (1907), trong nhiều khoá liên tiếp làm hội viên Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ (tức Viện Dân biểu) từ năm 1913, và thành viên của Đại Hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương (cơ quan tư vấn tối cao về kinh tế của Chính phủ Liên bang Đông Dương). Ông còn tham gia Hội Nhân quyền Pháp tại Việt Nam và Hội Tam điểm Quốc tế.

Có thể nói, Nguyễn Văn Vĩnh là một trong số rất ít người Việt Nam lúc đó tham gia vào tất cả các tổ chức tư vấn của Chính quyền Pháp. Chính vì thế, một số người cho rằng ông hoàn toàn phục vụ quyền lợi cho thực dân Pháp. Nhưng có một thực tế là ông đã hai lần từ chối Bắc Đẩu bội tinh, một huân chương mà người Việt và người Pháp thời ông đều mơ ước.

Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những người Việt Nam đầu tiên tiếp nhận văn hoá Âu Tây và tích cực truyền bá vào Việt Nam. Chính ông là một trong những người đánh những tiếng trống đầu tiên mở màn cho việc phát triển báo chí tiếng Việt, một nghề hoàn toàn mới đối với người Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đồng thời, ông cũng là một trong những người có công lớn nhất cho cuộc cách mạng chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ thời kỳ này có rất ít người chấp nhận sử dụng, trong khi đó chữ Hán, chữ Nôm đã tồn tại lâu đời và được tất cả mọi người chấp nhận nó như là một thứ chữ truyền thống.

2. Những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh với việc phát triển báo chí tiếng Việt
Cho đến nay, phần lớn các tác giả khi nghiên cứu về Nguyễn Văn Vĩnh đều cho rằng ông là người thông minh, có tài và đặc biệt xuất sắc trong nghề làm báo và xuất bản. Có thể nói, Nguyễn Văn Vĩnh là người làm chủ nhiệm, chủ bút nhiều nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX:

Ông chính thức làm chủ bút tờ Đăng Cổ Tùng báo số ra đầu tiên ngày 28-3-1907, thay cho tờ Đại Nam Đồng văn nhật báo. Tờ Đăng Cổ Tùng báo chỉ tồn tại được 9 tháng, đến ngày 14-11-1907 thì ngừng hẳn. Sau khi tờ Đăng Cổ Tùng báo đình bản, ông chủ trương ra tờ báo tiếng Pháp Notre Journal (1908-1909). Một năm sau vào năm 1910 ông lại ra tờ Notre Revue nhưng cũng chỉ tồn tại được 12 số, và cùng năm đó, ông làm chủ bút tờ Lục Tỉnh tân văn ở Sài Gòn.

Đầu năm 1913, ông ra Hà Nội làm chủ bút tuần báo Đông Dương tạp chí, số đầu ra ngày 15-5-1913. Năm 1915 ông kiêm làm chủ bút luôn cả tờ Trung Bắc tân văn. Từ đây, tờ Đông Dương tạp chí chỉ chuyên về những bài đại luận, bài văn chương, bài sư phạm, còn những bài thời sự và tạp luận thì chuyển hết sang tờ Trung Bắc tân văn. Cả 3 tờ báo tiếng Việt mà Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút đều do một người Pháp là Schneider sáng lập [1]. Năm 1919 tuần báo Đông Dương tạp chí một lần nữa được đổi thành Học báo vẫn do ông làm chủ nhiệm. Học báo là chuyên san về những vấn đề sư phạm, nhằm giúp các giáo viên dạy tốt và đặt ra phương pháp mới để dạy chữ Quốc ngữ. Cùng năm, ông mua lại tờ Trung Bắc tân văn và cho xuất bản nhật báo. Đây là tờ nhật báo đầu tiên ở Bắc Kỳ trong lịch sử báo chí Việt Nam.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cuối những năm 20 – đầu những năm 30 thế kỷ XX đã ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực. Ngành báo chí và kinh doanh nhà in của Nguyễn Văn Vĩnh cũng không tránh khỏi những khó khăn. Báo, sách in ra không phát hành được. Mặt khác, do tình hình chính trị trong nước giai đoạn này có những thay đổi lớn với phong trào cách mạng lên cao và sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương. Chính quyền thuộc địa Pháp cũng kiểm duyệt gắt gao báo chí tiếng Việt. Năm 1931, ông cho ra tờ báo tiếng Pháp “Annam Nouveau” (An Nam mới). Ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút cho tới năm 1936. Trong 30 năm tròn ông vừa là một cây bút viết một cách say mê trong tất cả mọi lĩnh vực, vừa là người quản lý nhà xuất bản.

Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết một khối lượng bài viết khổng lồ thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đăng trên các báo do ông làm chủ nhiệm, chủ bút hoặc trên nhiều tờ báo ra cùng thời. Điều đặc biệt của Nguyễn Văn Vĩnh là ông có thể viết một lúc nhiều thể loại báo chí khác nhau mà vẫn đưa được vào trong các tác phẩm của mình sự uyên bác, thông tuệ của một người trí thức mẫn cảm với thời cuộc: “…viết luôn một bài xã thuyết cho báo l’Annam nouveau, thảo một bức thư cho viên toàn quyền Pháp đưa xuống dưới nhà đánh máy luôn, dịch miệng “Tê Lê Mạc phiêu lưu ký” cho Đông Lĩnh Dương Phượng Dực ngồi ám tả, trong khi chính ông lại quay sang nói chuyện với ông Tụng về chuyện thống sứ Pháp “có ý muốn giúp ông tiền bất cứ lúc nào, bao nhiêu cũng được”, miễn là ông tạm gác ý kiến đả kích Pháp và ngưng chống nhà vua“[2,72]

Nguyễn Văn Vĩnh là một nhà báo đa tài. Ông có thể viết tin, nghị luận (xã thuyết), làm thơ, khảo cứu, phóng sự và dịch tiểu thuyết. Ở bất cứ chuyên mục nào những bài viết của ông cũng đều sắc sảo, thể hiện được trình độ học thức sâu và tầm nhìn rộng. Nhưng một trong những sở trường của Nguyễn Văn Vĩnh là báo nghị luận. Do thời kỳ ông viết báo chưa có một hệ thống lý thuyết phân định rạch ròi thể loại báo chí nên có thể liệt báo nghị luận gồm các bài viết (theo lối gọi khi ấy) là các bài xã thuyết, luận thuyết và một số bài có khuynh hướng thể loại giống như nhàm đàm, phiếm luận trên báo chí Việt Nam sau này. Những bài viết nghị luận của ông tương đối ngắn, nội dung phong phú đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Với bút danh Tân Nam Tử, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết nhiều bài nghị luận về các vấn đề khác nhau đăng ngay từ những số đầu tiên của tờ Đăng Cổ tùng báo như: Tại người hay tại đất? (thói lười biếng dẫn tới nghèo đói) số 2; Thói tệ (nói về lối sống thờ ơ không quan tâm đến nhau trong các đô thị), số 6; Phận làm dân (kêu gọi người dân thực hiện quyền bầu người đại diện trong nghị viện), số 17; Chết về gạo(về sự độc canh cây lúa mà dân vẫn đói), số 26; Hội Kiếp Bạc (về thói mê tín buôn thần bán thánh ở các đền chùa), số 28. Ngay số 2 trên Đông Dương tạp chí Nguyễn Văn Vĩnh đã có bài Học hành (nói về thói học vẹt, không sáng tạo trong tiếp thu kiến thức); Luận về việc du học (nói về sự vần thiết phải cử người đi du học nước ngoài), số 30… Trong những bài nghị luận của mình, bên cạnh những luận điểm, dẫn chứng để so sánh, phân tích các vấn đề nêu ra. Nguyễn Văn còn “nhìn thấy trước” các vấn đề trong xã hội. Thực tế cho thấy, nhiều vấn đề Nguyễn Văn Vĩnh đặt ra đến nhiều thập kỷ sau, thậm chí hàng trăm năm sau người Việt Nam vẫn phải đối mặt.

Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ dừng lại ở việc đưa ra được những vấn đề xã hội mà ông còn đi sâu phân tích, mổ xẻ nguyên nhân, thực trạng và quan trọng hơn ông còn đưa ra các giải pháp để hạn chế các mặt tiêu cực của những hiện trạng đó. Chính sự phân tích khách quan, khoa học cộng với tầm nhìn xa của một người làm báo khiến cho các bài báo nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh có sự bền vững của thời gian.

Tuy nhiên, Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ viết những bài nghị luận, mà ông tham gia viết rất nhiều chuyên mục khác nhau với nhiều giọng điệu phù hợp với từng chuyên mục. Đồng thời, giữ vai trò là chủ bút ông có đóng góp rất lớn trong lịch sử báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, khi ông luôn chủ động thay đổi nội dung tờ báo hoặc mở ra những chuyên mục riêng với phong cách, giọng điệu rất riêng giúp phù hợp với tâm lý và thị hiếu của người đọc trong từng thời kỳ. Và mỗi chuyên mục riêng đó, ông đều viết với ngữ điệu khác nhau khiến người đọc dễ tiếp thu, tiếp nhận những ý kiến, tư tưởng mà nhà báo muốn truyền đạt như chuyên mục Nhời đàn bà, và một loạt bài Xét tật mình… được đăng trên Đăng cổ tùng báo và Đông Dương tạp chí.

Hầu hết các bài trong mục Nhời đàn bà trên cả Đăng Cổ tùng báo (20 bài) và Đông Dương tạp chí (53 bài) đều không có tựa đề riêng mà chỉ gộp chung lại trong mục Nhời đàn bà và đều ký tên Đào Thị Loan. Các bài trong mục Nhời đàn bà bàn đến mọi vấn đề, mọi góc cạnh trong đời sống của người phụ nữ: từ chuyện mang thai, nuôi dạy con, chăm sóc chồng con, trang phục, vệ sinh, nữ công gia chánh, đối nhân xử thế…Giọng điệu trong các bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh ở mục này đã mở ra hơi hướng của thể loại báo chí phiếm đàm (hoặc phiếm luận, nhàn đàm…) trên báo chí quốc ngữ sau này. Nhiều bài viết trong mục Nhời đàn bà đã tiến đến gần hình thức của những tiểu phẩm báo chí. Với việc viết đều kỳ cho mục Nhời đàn bà trên Đăng Cổ tùng báo và Đông Dương tạp chí, Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những nhà báo đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam đảm nhiệm công việc viết chuyên mục dài ngày trên một tờ báo. Mặc dù được viết trong cả khoảng thời gian dài nhưng mỗi bài viết của ông luôn có nội dung mới, hấp dẫn người đọc. Nghiên cứu những bài viết nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh trên các tờ báo tiếng Việt có thể nhận thấy một văn phong rất riêng, đặc thù cho một thể loại báo chí nghị luận. Đây là đóng góp rất lớn của Nguyễn Văn Vĩnh với việc phát triển báo chí tiếng Việt. Báo chí Việt Nam sau này đã có sự thừa hưởng thành quả mà Nguyễn Văn Vĩnh đã vô tình hay hữu ý để lại .

Bên cạnh chuyên mục Nhời đàn bà Nguyễn Văn Vĩnh còn viết 19 bài Xét tật mình đăng nhiều kỳ thành hẳn một mục độc lập trên Đông Dương tạp chí nêu lên tất cả những tật xấu của quan lại và người dân Việt Nam như: Tính ỷ lại trong cuộc sống số 8; Coi ăn uống là việc quan trọng hàng đầu số 10; Ăn mặc suồng sã hớ hênh số 14; Lối học cổ hủ thông qua tiếng Trung Hoa, tác hại đến hoạt động trí tuệ của dân tộc số 16; Lợi dụng đau khổ của đồng bào để trục lợi số 17….Mục đích của ông khi viết một loạt bài này là nhằm làm cho nhân dân nhanh chóng vứt bỏ những thói tục xấu, tiếp thu những tri thức mới của phương Tây. Để có được những bài viết phản ánh được đúng thực trạng xã hội đòi hỏi nhà báo phải có tri thức và phong văn hóa rộng nhưng điều quan trọng là tác giả phải dũng cảm viết đúng sự thật. Những sản phẩm để lại qua 30 năm làm báo và xuất bản của Nguyễn Văn Vĩnh đã minh chứng được: ông hội tụ được đầy đủ những tố chất của một nhà báo tài ba, chân chính và ông xứng đáng là một tấm gương sáng cho nhiều thế hệ nhà báo sau học tập.

Có thể thấy rằng theo dòng thời gian-từ Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí đến Trung Bắc Tân văn -bút lực của Nguyễn Văn Vĩnh ngày càng trở nên sắc sảo, đa dạng. Không chỉ làm công việc của một người quản lý tờ báo, ông còn đảm nhiệm viết rất nhiều mục, nhiều thể loại trên báo của mình. Đặc biệt, những bài báo nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh dù được viết dạng “chính thống” với giọng điệu nghiêm túc, chuẩn mực hay dưới dạng “phá cách” như trong mục Nhời đàn bà, Xét tật mình …Những bài viết của ông ở thể loại này dù vô tình hay hữu ý đã tạo ra một phong cách riêng biệt và trở thành một trong những hình mẫu về thể loại báo chí nghị luận mà báo chí quốc ngữ đã tựa vào đó để hình thành và phát triển trong nhiều năm sau này.
Một trong những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh trong việc phát triển báo chí tiếng Việt là ở chỗ ông là một trong những người đi tiên phong trong việc viết phóng sự. Qua hai phóng sự Từ triều đình Huế trở về và Một tháng với những người đi tìm vàng (đang viết dở thì ông chết) được đăng trên tờ L’Annam nouveau. Tuy chưa hẳn đã là những hình mẫu chuẩn mực của phóng sự nhưng rõ ràng đây là những bài đầu tiên mang đậm dấu ấn thể loại phóng sự mà nhiều nhà báo sau này đã vận dụng và tiếp tục sáng tạo trong nền báo chí tiếng Việt.

Một đóng góp rất quan trọng khác của Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử báo chí tiếng Việt là việc ông với vai trò là chủ bút Đông Dương tạp chí, đã cho đăng rất nhiều công trình dịch thuật của các tác phẩm văn chương đặc sắc của nước ngoài. Nhưng người có nhiều công trình dịch thuật nhất lại chính là Nguyễn Văn Vĩnh. Ông dịch tất cả các thể loại, không chỉ riêng tiếng Pháp mà cả chữ Hán, chữ Nôm, và dịch ngược từ chữ Nôm ra chữ Pháp, nổi tiếng nhất là Truyện Kiều. Tìm hiểu các công trình dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên Đông Dương tạp chí và Trung Bắc tân văn, ta thấy có sự thay đổi đáng lưu ý. Lúc đầu ông thường thiên về dịch các tác phẩm học thuật tư tưởng của các bậc danh sĩ nổi tiếng nước Pháp như Emile Zola, Pascal. Nhưng dần về sau, ông chuyển sang dịch tiểu thuyết và hài kịch. Có lẽ, ông muốn thu hút nhiều người đọc báo hơn, vì đọc tiểu thuyết và hài kịch thường gây lối cuốn hơn đọc tư tưởng triết học. Những tác tác phẩm dịch tiểu thuyết, văn xuôi, thơ… của Nguyễn Văn Vĩnh giúp cho người dân Việt Nam hiểu biết những tư tưởng mới, những điều hay của Phương Tây và phương Tây cũng qua những tác phẩm dịch ngược của ông mà biết được nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam và Phương Đông. Do đó, có thể khẳng định Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những người đầu tiên bắc chiếc cầu nối giữa hai nền văn hóa Đông và Tây. Đây là đóng góp rất lớn của Nguyễn Văn Vĩnh với nền văn hóa Việt Nam nói chung và nền báo chí nói riêng những năm đầu thế kỷ XX.

Nghiên cứu một cách hệ thống các tác phẩm báo chí của Nguyễn Văn Vĩnh qua từng thời kỳ (Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn), ta có thể nhận thấy sự tiến triển rõ rệt trong các bài viết từ xây dựng cấu trúc đến tu sửa câu văn. Vì vậy, các bài viết của ông ngày càng bớt rườm rà, ngô nghê để trở nên trong sáng, giản dị và xúc tích hơn.

Về cơ bản, các tác phẩm báo chí của Nguyễn Văn Vĩnh, dù với thể loại nào, đều được thể hiện bằng một nghệ thuật báo chí bậc thầy trong thời điểm xuất hiện. Với tài sử dụng ngôn từ hiếm có và một vốn văn hóa dồi dào được tích hợp trong môi trường giao thoa văn hóa Đông -Tây, Nguyễn Văn Vĩnh đã thể hiện xuất sắc các tác phẩm báo chí, mang lại cho chúng những giá trị lâu bền.

3. Những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh với việc cổ vũ và truyền bá chữ Quốc ngữ
Phát minh ra chữ Quốc ngữ là công của các giáo sĩ phương Tây (Francisco de Pina, Gaspar do Ammarl, Antonio de Barbosa, Alexandre de Rhodes). Tuy nhiên, vào thời kỳ đầu (TK XVII-XIX) chữ Quốc ngữ chỉ là chữ dùng mẫu tự La tinh để thể hiện ngữ âm Việt Nam, giúp các giáo sĩ dễ dàng truyền đạo vào Việt Nam. Cho đến giữa thế kỷ XIX rất ít người Việt Nam biết và dùng được chữ Quốc ngữ. Phải đến khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ thì chữ Quốc ngữ mới đắt đầu được dạy và được phổ biến.

Người Việt Nam có công truyền bá chữ Quốc ngữ đầu tiên là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của. Khi đó Trương Vĩnh Ký đã đem những sách đọc dễ hiểu và gần gũi với tâm lý người Việt như Lục súc tranh công, Phan Trần truyện, Lục Vân Tiên in ra bằng chữ Quốc ngữ. Mục đích của ông là để truyền bá dễ dàng chữ Quốc ngữ trong nhân dân. Năm 1868, Trương Vĩnh Ký viết sách: “Tiếng Annam thực hành, dùng cho trường thông ngôn”. Năm 1876, ông xuất bản cuốn: “Sách học đánh vần quốc ngữ”. Tuy nhiên, cả hai ông lại không phát động, hô hào và dấy lên một phong trào học chữ Quốc ngữ sâu rộng như Nguyễn Văn Vĩnh sau này ở miền Bắc. Nguyễn Văn Vĩnh và nhóm Đông Dương tạp chí (Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học…) đã sớm nhận thấy ở chữ Quốc ngữ là một thứ vũ khí lợi hại cần thiết cho dân tộc ta trong sự nghiệp phục hưng nước nhà. Nguyễn Văn Vĩnh từng nói năm 1907: “Nước ta sau này hay hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ”. Và ông đã lấy chính chữ Quốc ngữ để truyền tải những điều mới lạ của văn hoá phương Tây cho đông đảo nhân dân ta, như ông đã nêu rõ tại Hội quán Trí Tri (ngày 4-8-1907): “… Nước Nam ta muốn chóng bước lên đường tiến hoá thì phải mau thu thái lấy những tư tưởng mới. Muốn cho những tư tưởng mới trong văn hoá Âu Tây truyền bá khắp trong dân gian, thì phải cần phiên dịch những sách chữ nước ngoài ra Việt Nam…”. Sáu năm sau (1913), ông lại đưa vấn đề này trên báo Đông Dương tạp chí: “Bản quán định đem hết những bài luận hay về các công nghệ, về việc buôn bán, dịch ra quốc văn cho người Annam được tận hưởng” [3].

Từ khi bắt đầu bước vào nghề làm báo và tham gia giảng dạy ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Nguyễn Văn Vĩnh đã cổ động nhân dân học chữ Quốc ngữ. Năm 1913, trên số 2 của tờ Đông Dương tạp chí, ông đã cổ động nhân dân Việt Nam học chữ Quốc ngữ để thay thế chữ Hán, chữ Nôm: “Mở ngay tờ nhật báo này ra mà ngẫm xem bấy nhiêu điều luận trong báo, thử nghĩ: giá thử luận bằng chữ Nho thì có mấy người đọc được, mà trong những người đọc được, thì có mấy người hiểu cho hết nghĩa. Thế mà chữ Quốc ngữ, thì không những là người biết chữ Quốc ngữ đọc được, hiểu được, một người đọc cả nhà nghe cùng hiểu được, từ đàn ông cho đến các bà (không dám nói đàn bà sợ các bà quở) trẻ con cũng nghe được mà chỉ với chúng ta trong cuộc luận bàn thế sự thì có phải nó vui việc ra là bao nhiêu”. Đồng thời, ông cũng cho rằng để đọc, viết được chữ Quốc ngữ rất dễ “ai có ý chí vài ngày, ngu đần là một tháng cũng phải thông” [4]. Trong khi đó học chữ Nho thì phải “mất hàng nửa đời người, mà trăm người học không được một người hay, học được hay cũng chỉ ích lấy một mình, không đem ra mà dùng cho đời được nhờ cái học vấn của mình chẳng qua là một cái thú rung đùi mà thôi” [5]. Còn chữ Nôm thì dễ hơn, nhưng có cái khó là mỗi miền, mỗi người lại có cách viết và hiểu khác nhau. Do vậy nó cũng gây khó khăn cho việc học, hiểu và phổ biến rộng rãi.

Ý thức được rằng sẽ rất khó khăn nếu chỉ một mình xông xáo trong cuộc cách mạng chữ viết, truyền bá nó tới tất cả mọi người, Nguyễn Văn Vĩnh luôn vận động, kêu gọi “những bậc tài hoa, những người có học thức trong nước, phải chuyên vào nghề văn quốc ngữ”, và cả những “bậc có Pháp học, thì tuy rằng cái ngoại tài ấy phải chuyên làm cách tren – cạnh, làm mối kiếm ăn, nhưng hễ muốn nhân việc lập thân mà lại có ích cho cả đồng bào mình, thì phàm luyện được chút tài nào của người, cũng nên dùng quốc văn mà phát đạt nó ra cho cả người đồng – bang được hưởng” [6].
Thời gian đầu văn chương Quốc ngữ vẫn còn vụng về, lủng củng, Nguyễn Văn Vĩnh thấy cần thiết phải khắc phục những mặt hạn chế đó để khi nói, viết diễn tả được đúng ý và chuẩn xác. Ông đã đề xuất một biện pháp đơn giản và hiệu quả là tất cả các thể loại như: báo, sách, văn chương, thơ, tiểu thuyết, nghị luận, đơn từ đến những câu đối, câu phúng, lời chúc mừng bạn bè… đều phải viết bằng chữ Quốc ngữ, để cho người dân làm quen dần và đồng thời cũng luyện cho người viết trôi chảy, chau chuốt hơn.

Bên cạnh việc vận động mọi người cùng tham gia cổ động và viết chữ Quốc ngữ, vấn đề ngữ pháp tiếng Việt cũng được ông đưa ra bàn luận để đi đến thống nhất trong toàn quốc về cách đặt câu, cách viết, chấm phẩy, cách nói, viết cho cả 3 miền và cần phải có một thể lệ chung “Nay bản báo lấy việc cổ động cho chữ Quốc ngữ làm chủ nghĩa, tưởng cũng nên đem hết các khuyết điểm, các nơi không tiện ra mà bàn lại, chẳng dám đem cách nào mới mà xin thế vào lối cũ, sợ thiên hạ lại bảo vẽ vời, song cũng nên bàn các nơi bất tiện ra để ai nấy lưu tâm vào đó, thì dễ có ngày tự dưng chẳng phải ai làm mà chữ Quốc ngữ tự đổi dần dần đi” [7].

Là người từng đi dọc 3 miền đất nước, Nguyễn Văn Vĩnh có điều kiện chú ý giọng nói, cách viết của 3 miền và thấy có sự khác biệt nhau rõ nét như chữ ch với chữ tr ngoài Bắc không phân biệt mấy nhưng “ở Nam Kỳ thì thật có phân biệt. Như con trâu mà viết thành châu (hạt châu) thì người Nam Kỳ không hiểu… Sự này tôi đã có ý nghiệm từ Thanh Hoá vô tới Quảng Nam và ở Sài Gòn”. Hay chữ s với chữ x: ngoài miền Bắc và miền Trung thì không phân biệt hai chữ này còn người miền Nam thì “chữ s uốn lưỡi như chữ ch tây, còn chữ x thì đọc như chữ s tây. Chữ gi, chữ d, chữ r thì ở Bắc Kỳ ta không phân, còn ở Nam Kỳ và Trung Kỳ phân biệt được chắc chữ r mà thôi, còn d với gi cũng đọc như chữ y, mà không mấy người biết chắc được tiếng nào đáng viết d hay gi” [8]. Mục đích của ông khi ông đưa ra sự so sánh giữa 3 miền là mỗi miền nên học những tiếng chuẩn của nhau, mỗi bên có thể “nhường nhịn” nhau một chút, như ngoài Bắc nên theo trong Nam mấy tiếng “gi thành tr, d thành nh, nh thành l… để dùng cho đều trong văn tự, ba miền cùng dễ hiểu cả”. Ông đã liệt kê ra một số từ:

“1. Gi đổi ra tr: trả để thay cho tiếng giả, trai gái – giai, trăng gió – giăng, trao đổi – giao, trầu không – giầu, tro tàn – gio, trồng cây – giồng, trở về – giở.
2. s đổi ra tr: trống mái để thay cho tiếng sống.
3. d đổi ra nh: mạng nhện để thay tiếng dện, nhọn – dọn, nhốt gà – dốt, nhơ bẩn – dơ…
4. nh đổi ra l: lạt để thay tiếng nhạt, lát (chốc) – nhát, lầm (lẫn) – nhầm, lẹ – nhẹ…” [9]. Theo ông nếu mỗi miền chịu học những từ chuẩn của nhau thì chữ Quốc ngữ ngày càng trở nên rõ ràng và trên văn tự có sự thống nhất trong cả nước.

Theo Nguyễn Văn Vĩnh chữ Quốc ngữ trong thời gian đầu “viết có mẹo mực lối lăng. Lối chỉ có một, không phân ra lắm cách như bây giờ, cho nên dễ nhận. Lối ấy, tất là lối của những người Âu châu sang đây trước nhứt, tức là các cố đạo”. Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh muốn chữ Quốc ngữ phải là một lối viết có luật lệ, có kinh điển để “xứng đáng làm văn chương riêng của nước Nam ta” [10]. Cho nên ông cho rằng sự khác biệt giữa 3 miền và việc học hời hợt chữ Quốc ngữ của một số người đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của chữ Quốc ngữ, vì nhiều khi các chữ viết không đúng đã làm cho người đọc phải suy nghĩ và dễ gây hiểu sai nghĩa. Từ thực tế đó ông sợ chữ Quốc ngữ dần dần “thành một lối chữ hỗn độn, không ai hiểu được nữa” [11]. Ông đã đề nghị các quan cai trị xét trong các đơn từ nếu đơn nào viết sai lỗi chính tả thì không nhận, trừ những việc khẩn cấp. Nếu được “như thế thì chắc rằng chẳng bao lâu bắt được người Annam phải viết chữ Quốc ngữ theo phép chớ không viết liều được nữa” [12].

Trên Đông Dương tạp chí ngay từ những số đầu năm 1913, đã có những bảng mẫu chữ cái Quốc ngữ bao gồm một số nguyên âm và phụ âm, nguyên âm đôi, các vần ghép: bơ, cơ, dơ, gơ, hơ, kơ… và một số đếm đơn giản từ 1 đến 9 và số 0. Bảng chữ cái viết hoa to và các chữ thường theo sau là cách phát âm khá chuẩn xác. Chúng tôi thấy đủ 23 chữ cái, 6 nguyên âm ngắn và 11 phụ âm. Cách phát âm các từ này có kèm theo tranh vẽ dễ hiểu như sách học vần của các em lớp 1 hiện nay, ví dụ: Dép (vẽ đôi dép), Tháp (vẽ cái tháp), lọ (vẽ cái lọ), người mẹ, cái chợ, con quạ… đều có vẽ tranh nhỏ minh họa. Đặc biệt ở Đông Dương tạp chí năm 1918 còn có bài hướng dẫn cách cầm bút, cách ngồi, cách viết… Tất cả những công việc này đều có đóng góp quan trọng bậc nhất của chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh, người đã hết lòng cho việc cổ suý chữ Quốc ngữ phát triển sâu rộng trong quảng đại quần chúng nhân dân.

Để chữ Quốc ngữ ngày càng hoàn chỉnh, giúp cho mọi người đọc và hiểu được dễ dàng, bên cạnh việc chỉnh sửa những chữ còn sai khi nói và viết (chính tả) thì cần phải thống nhất cách phiên âm tên đất, tên người nước ngoài khi dịch ra chữ Quốc ngữ. Thông thường người dịch theo tiếng Trung Quốc, mặc dù rất dễ đọc và nhớ nhưng lại bị sai với nguyên bản, còn nếu dịch thẳng từ tiếng nước ngoài ra chữ Quốc ngữ thì nhiều người lại không hiểu, còn để nguyên như bản gốc thì những người không biết tiếng nước ngoài lại không đọc được. Từ những khó khăn đó Nguyễn Văn Vĩnh đã đưa ra hai cách phiên âm: “Bao nhiêu những tên nước lớn, ai cũng biết theo tiếng Tàu rồi như là Pháp, Anh, Nga, Đức, Bỉ-lị-thì, áo, thì cứ để tiếng biết rồi mà dùng… Còn bao nhiêu những chỗ chưa mấy biết thì dịch theo cách mới, lấy cho gần nguyên âm”, tức là “ khi viết lẫn những tên ấy vào văn quốc ngữ thì nên viết tiếng dịch trước rồi vòng hai bên hai cái viết nguyên dạng chữ vào sau cho người đã biết tiếng Tây dễ nhận ra” [13]. Đây là một vấn đề rất cần thiết và rất thời sự đối với báo chí, xuất bản lúc bấy giờ.

Với mong muốn đưa chữ Quốc ngữ nhanh chóng trở thành một chữ viết phổ thông, Nguyễn Văn Vĩnh đã tham gia viết nhiều thể loại, từ nghị luận, dịch tiểu thuyết, thơ ngụ ngôn… bằng chính chữ Quốc ngữ, để chữ Quốc ngữ dần hoàn chỉnh, có khả năng truyền tải được tất cả tư tưởng, tình cảm của con người. Những người không biết chữ Hán và chữ Pháp thì qua chữ Quốc ngữ cũng có thể tiếp cận được những áng văn hay, những tư tưởng mới của nước ngoài. Nguyễn Văn Vĩnh còn biên soạn một quyển sách tự học chữ Quốc ngữ để phát cho những người mua báo. Nguyễn Văn Vĩnh luôn tận dụng mọi điều kiện, mọi khả năng về phương diện báo chí mà mình có để có thể tuyên truyền cho chữ Quốc ngữ.

Chữ Quốc ngữ có tới 5 dấu thanh: nặng, sắc, huyền, hỏi, ngã và những râu ở chữ đ, ơ, ư. Nguyễn Văn Vĩnh đã đề xướng cải cách ngay trên tờ báo do ông làm chủ bút (Đông Dương tạp chí, Trung Bắc Tân văn). Theo đó chữ F thay dấu huyền, chữ W thay dấu sắc… Sự cải cách của ông rất tiện lợi trong thời kỳ máy chữ mua của Pháp. Nhưng những việc làm đó của ông không được nhiều người cùng thời hưởng ứng. Mãi sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, và sau ngày hoà bình lập lại, ngành bưu điện Việt Nam đã áp dụng chính hệ thống “chữ Quốc ngữ cải cách của Nguyễn Văn Vĩnh” trong các điện tín.

Trong số những người cùng chí hướng với ông thời gian đó như Phan Kế Bính, Trần Trọng Kim, Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Quỳnh… thì Nguyễn Văn Vĩnh được coi là người đứng đầu của phong trào cổ vũ và truyền bá chữ Quốc ngữ ở Việt Nam. Ông luôn thực hiện bằng cả hai hình thức: diễn thuyết và xuất bản (hay ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết).

Với mục đích đào tạo một số người trở thành phiên dịch phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, cho nên trong chương trình giảng dạy, chữ Quốc ngữ chỉ chiếm thời lượng rất ít mà phần lớn thời gian dành cho việc học chữ Pháp. Vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh, cùng với việc truyền bá văn hoá phương Tây đã rất tích cực tuyên truyền, cổ vũ người dân học chữ Quốc ngữ, dùng chữ Quốc ngữ để truyền tải những cái hay cái đẹp của nền văn minh Việt, phổ biến những tư tưởng Đông – Tây để làm cho nhân dân vừa hiểu được nền văn hoá Pháp, vừa giữ được bản sắc văn hoá dân tộc. Ông đã từng nói “Nước Nam ta mất vì những trí thức nho học chỉ biết làm văn Tàu. Chúng ta bây giờ đừng để trở thành những người trí thức mới chỉ biết làm văn chương Tây” [14].
Chữ Quốc ngữ lúc đầu rất phức tạp vì chữ có rất nhiều nguyên âm (72 nguyên âm), cho nên việc in ấn gặp rất nhiều khó khăn do các máy chữ mua của phương Tây không có nhiều dấu như vậy. Do đó, việc cải cách chữ Quốc ngữ cho bớt dấu đi là rất cấp thiết và quan trọng. Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những người đầu tiên đề xướng việc cải cách chữ Quốc ngữ để tiện in ấn, xuất bản. Theo Hồ Lân Trinh trong “Sự cải cách vần chữ Việt” thì “Muốn cho chủ và thợ nhà in áp dụng những tiến bộ về kỹ thuật ấn loát cho chữ Việt, thì phải cải cách chữ viết thế nào cho ít dấu chữ chừng nào hay chừng nấy. Đi từ ý này và đưa ý đó đến chỗ cùng tột, Nguyễn Văn Vĩnh đề nghị hạn chế các dấu lại còn 26: đó là số người Anh hùng. Như vậy bất cứ máy sắp chữ mua ở thị trường nào trên thế giới cũng có thể “phụng sự” chữ Việt được. Nhưng làm sao để nhốt 72 nguyên âm Việt vào trong phạm vi chật chội của 7 nguyên âm Anh? Nguyễn Văn Vĩnh liền đề nghị hai ước lệ: thay thế một số nguyên âm bằng những nguyên âm đôi và đánh dấu giọng thấp cao bằng những phụ âm không ở cuối vần mà người sẽ để ở chót tiếng” [15].

Đến năm 1918 [16] năm kết thúc của tờ Đông Dương tạp chí, đồng thời cũng là năm chữ Quốc ngữ thắng lợi hoàn toàn, thì không còn ai có thể nghi ngờ khả năng của chữ Quốc ngữ nữa. Chữ Quốc ngữ đã có thể dịch được tất cả những áng văn hay của nước ngoài, cũng như diễn tả được những tư tưởng và cảm xúc một cách chân thực. Chữ Quốc ngữ đã được sử dụng rộng rãi thay thế chữ Hán và chữ Nôm (chữ Hán bị bãi bỏ trong thi cử năm 1915 ở Bắc Kỳ, và chấm dứt trên cả nước năm 1919 ở Trung Kỳ). Từ đây chữ Quốc ngữ đã trở thành thứ chữ phổ thông chiếm vị trí quan trọng và được tất cả người dân Việt Nam ưa dùng.

Để đạt được thành quả đó, những người đi tiên phong cổ vũ và cải cách chữ Quốc ngữ như Nguyễn Văn Vĩnh đã trải qua rất nhiều khó khăn. Vì trong chương trình học của nước ta lúc đó, chỉ 3 năm đầu cấp tiểu học được học bằng chữ Quốc ngữ, đến bậc trung học chữ Quốc ngữ chỉ còn là một môn sinh ngữ, trong khi tiếng Pháp được nâng lên trong tất cả các môn học. Và đến bậc cao đẳng, đại học thì chữ Việt mất hẳn, chỉ còn lại chữ Pháp. Đồng thời, họ phải đối đầu với ý thức hệ phong kiến lạc hậu, bảo thủ trong xã hội Việt Nam. Vì vậy việc cổ động cho việc học chữ Quốc ngữ từ thành thị đến nông thôn là một việc rất vất vả. Trước thực tế đó việc lên tiếng bảo vệ, cổ động cho chữ Quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh và những người cùng chí hướng với ông là một việc làm rất đáng kể, rất đáng trân trọng.

Mặc dù chữ Quốc ngữ và những người truyền bá chữ này được đặt dưới sự bảo trợ của Chính quyền thuộc địa, nhưng người Pháp không thể ngờ rằng, khi loại chữ này đã trở thành chữ viết của dân chúng để truyền đạt tư tưởng và nguyện vọng, thì chính quyền thuộc địa lúc này đã không thể kiểm soát được nữa và nó đã trở thành nhân tố quan trọng trong công cuộc giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam sau này cũng nhận thấy việc truyền bá chữ Quốc ngữ là một biện pháp để giáo dục quần chúng và đưa quần chúng đi theo con đường cách mạng của Đảng và Mặt trận Việt Minh tiến tới Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Chữ Quốc ngữ đã được giảng dạy trong tất cả các trường từ bậc tiểu học đến đại học.

4. Một vài nhận xét về Nguyễn Văn Vĩnh
Những năm cuối đời, Nguyễn Văn Vĩnh gặp nhiều khó khăn trong công việc báo chí, xuất bản lẫn trong chính trường. Từ năm 1930 trở đi, Nguyễn Văn Vĩnh đã nợ Ngân hàng Đông Dương rất nhiều tiền nên chính quyền thuộc địa Pháp buộc ông phải lựa chọn một trong ba con đường do Pháp đặt ra: Một là vào Huế làm quan Thượng thư; Hai là vào tù; Cuối cùng là phải đi biệt xứ sang Lào tìm vàng về trả nợ. Ông đã chọn phương án thứ ba để bảo vệ nhân cách của mình, đồng thời ông cũng muốn qua chuyến đi này có thể khảo sát thêm và có điều kiện tiếp tục viết báo. Nhưng ông đã chết trong lần thứ hai đi tìm vàng trên dòng sông Sê-băng-ghi, trên một chiếc thuyền độc mộc, trong người không có lấy một đồng xu, nhưng trên tay vẫn đang cầm một quản bút và một bài phóng sự đang viết dở “Một tháng với những người đi tìm vàng”, mà mấy bài đầu ông gửi về đăng trên tờ Annam Nouveau. Ông mất vào ngày 1-5-1936.

Như phần trên đã nói, Nguyễn Văn Vĩnh lúc đầu gặp nhiều hạn chế về học hành, nhưng bù lại ông lại có một trí thông minh tuyệt vời. Bằng nỗ lực cá nhân ông đã vươn lên và trưởng thành một cách nhanh chóng. Về chữ Quốc ngữ ông là người đóng góp nhiều và quan trọng nhất, để có được một thứ chữ như ngày hôm nay cho chúng ta dùng. Nguyễn Văn Vĩnh còn là người mở đầu và có đóng góp rất lớn cho một ngành mới trong những năm đầu thế kỷ XX: đó là ngành báo chí mà bây giờ rất phát triển và quan trọng. Đồng thời ông cũng mở đầu cho một nghề mới: nghề in ấn và xuất bản.
Nghề này, được phát triển nhanh chóng và trở thành nghề tối quan trọng không thể thiếu được ở các quốc gia văn minh. Nguyễn Văn Vĩnh cũng là người khởi đầu cho các thể loại như thơ mới, truyện ngắn, tiểu thuyết mà đến những năm 1930-1945 đạt đến đỉnh cao và giai đoạn này đã ghi được một nét sâu đậm trong lịch sử phát triển của nước nhà. Đồng thời, ông còn là người khơi nguồn và cổ động nhiệt tình cho một loại hình nghệ thuật hoàn toàn mới mẻ đối với dân tộc Việt Nam lúc đó là kịch nói và điện ảnh. Về văn hoá ông đóng góp rất lớn trong việc truyền bá văn hoá phương Tây vào Việt Nam thông qua dịch thuật. Những tác phẩm của ông để lại bây giờ theo thống kê của con cháu ông có đến hàng ngàn cuốn sách viết, dịch và hàng vạn bài báo bằng tiếng Việt, tiếng Pháp. Có thể nói, cho đến ngày hôm nay cái tài viết của ông gồm đủ các thể loại, với nội dung phong phú từ viết tin, dịch thơ, phóng sự, khảo cứu, dịch tiểu thuyết, dịch hài kịch.. . ít ai vượt qua được. Một khối lượng khổng lồ làm ra trong vòng có 30 năm (1906-1936), quả thật đáng kính nể và là những tài liệu quý.

Cụ Hoàng Đạo Thuý, một trí thức yêu nước người Hà Nội đã nhận xét về Nguyễn Văn Vĩnh: “Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những thông ngôn đầu tiên giỏi tiếng Pháp, có học thức, tinh khôn, tài hoa, lại có óc kinh doanh. Vĩnh rất hăng hái trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ… Sau Nguyễn Văn Vĩnh kinh doanh nghề in, cải tiến nhà in, ra được nhiều sách đẹp, lại làm việc kinh doanh nữa. Đã kinh doanh thì va ngay vào các quyền lực tài chính của thực dân Pháp và bị đè bẹp” [17]. Khi ông mất có rất nhiều các bậc danh tiếng thời đó như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Trọng Kim, Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Tố… đã gửi tới viếng ông những câu đối, trướng, liễn với biết bao tình cảm tiếc thương và kính trọng.

Việc nghiên cứu, đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh còn cần phải đầu tư nhiều công sức và thời gian.

Bài viết này chỉ góp một phần rất nhỏ vào việc nhận định, đánh giá một số đóng góp Nguyễn Văn Vĩnh về văn hóa như phát triển báo chí tiếng Việt và cổ vũ và truyền bá chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX.

20 thg 7, 2009

Thị trấn Tân Châu bị Bà Thủy nuốt cũng do nạn này !

“Rút ruột” sông Hậu - Hồ Hùng
(TBKTSG 20/7/2009, 09:45 GMT+7) - Hai tháng nay, sông Hậu đang trở thành điểm nóng về khai thác cát bừa bãi. Trong khi đó, chính quyền địa phương vẫn chưa có giải pháp nào để hạn chế và cứ mặc dòng sông bị “rút ruột”.


Tranh nhau tài nguyên
Năm 2008, được phép của phía Việt Nam nên mỗi ngày đều đặn có 4 - 5 tàu Singapore vào Cần Thơ thu gom cát. Đây là loại cát tốt, được khai thác trên sông Mêkông, đoạn chảy qua Campuchia. Tuy nhiên, từ tháng 5-2009, phía Campuchia đã cấm hẳn việc khai thác cát trên sông Mêkông, khiến các nhà cung ứng điêu đứng.
Ngay lập tức, họ kéo phương tiện sang phía Việt Nam, đến đoạn sông Hậu chảy qua địa bàn Cần Thơ, Đồng Tháp... ung dung khai thác để cung ứng tiếp cho tàu Singapore và các đơn đặt hàng trong nước. Theo Phòng Cảnh sát giao thông đường thủy (Công an thành phố Cần Thơ), đó là lý do mà hiện nay các tàu Singapore vẫn đều đặn hàng ngày vào Cần Thơ nhận cát.

Ngoài ra, một số tỉnh, thành phía Bắc cũng tạm ngưng một vài hoạt động khai thác khoáng sản, nên các phương tiện khai thác cũng được kéo về hoạt động tại sông Tiền và sông Hậu. Một cán bộ Phòng Cảnh sát giao thông đường thủy Cần Thơ cho biết, chỉ riêng từ Hải Dương, đã có khoảng 85 sà lan từ 400-1.500 tấn được kéo vào ĐBSCL hoạt động.

Theo ông Đặng Hữu Phước, Trưởng phòng Tài nguyên - Khoáng sản - Nước - Khí tượng thủy văn (Sở Tài nguyên - Môi trường), tại đoạn sông Hậu chảy qua Cần Thơ hiện có hơn 100 sà lan đang khai thác cát, dù sở này chỉ cho đăng ký 31 phương tiện được phép hoạt động. Các sà lan vừa nạo cát, vừa trang bị cả máy bơm hiện đại để hút trực tiếp cát từ đáy sông.

Các phương tiện khai thác “chui” mang bảng đăng ký ở Đồng Nai, Long An, An Giang, Cà Mau... và thường hoạt động vào ban đêm để “né” lực lượng kiểm tra. Theo ông Nguyễn Thanh Dũng, Chủ tich UBND quận Thốt Nốt, một chiếc sà lan khai thác cát có thể đạt lợi nhuận 30-40 triệu đồng/đêm nên các chủ phương tiện đua nhau “rút” cát hết mức có thể. “Tình hình đã vượt tầm kiểm soát”, ông nói.
Hiện tại, cồn Tân Lộc, cồn Khương... đang đứng trước nguy cơ sạt lở rất lớn do các phương tiện “bu” vào khai thác xung quanh. Còn ở cồn Cái Đôi (Thốt Nốt), người dân liên tục gửi đơn khiếu nại đến Sở và Bộ Tài nguyên - Môi trường do tình trạng sạt lở liên tục diễn ra bởi các sà lan khai thác cát, nhưng tình hình vẫn không biến chuyển.

Ở Campuchia trước đây, mỗi chiếc cần cẩu đăng ký khai thác cát phải nộp 22.000-25.000 đô la Mỹ, sau đó tiếp tục đóng 1,5-2,5 đô la Mỹ trên mỗi mét khối cát khai thác được. Còn tại Cần Thơ, theo ông Nguyễn Viết Thân, Cục phó Cục Thuế Cần Thơ, với bảy doanh nghiệp còn đang hoạt động khai thác có giấy phép, hàng năm ngành thuế chỉ thu được vài trăm triệu đồng cho ngân sách. Còn các phương tiện khai thác chui thì không hề thu được đồng nào, dù tài nguyên đang bị móc ruột ngày đêm!

Bó tay vì quản lý yếu

Ông Phước cho rằng, việc kiểm tra và xử lý các phương tiện khai thác chui là rất khó do thiếu kinh phí và cán bộ. “Khi đến kiểm tra, họ đổ rằng chủ sà lan đang đi vắng, giấy tờ ông chủ cất... nên cương quyết không chịu ký biên bản. Nhưng nếu muốn xử lý kiên quyết bằng cách kéo phương tiện về thì chúng tôi lại không biết... điều khiển”, ông nói.
Thực tế, thời gian qua Phòng Cảnh sát giao thông đường thủy đã kiểm tra xử phạt 22 phương tiện. Tuy nhiên mức phạt chỉ từ vài triệu đồng hoặc 30-40 triệu đồng, chỉ tương đương lợi nhuận một đêm mà một sà lan mang lại, nên không đủ sức răn đe. Trong khi đó, phương án xử lý nặng nhất là tịch thu phương tiện, hiện chỉ mới được đưa ra bàn bạc.

Hiện đang có 10 mỏ cát ở Cần Thơ được Sở Tài nguyên - Môi trường cho “mở cửa”, với 16 doanh nghiệp được cấp phép khai thác trên tổng diện tích 558,88 héc ta, trữ lượng trên 25,2 triệu mét khối. Nhưng ngay cả các phương tiện khai thác có đăng ký, Sở Tài nguyên - Môi trường cũng không thể quản lý nổi lượng cát mà họ khai thác được hàng tháng là bao nhiêu, có khai thác đúng vị trí cấp phép để tránh sạt lở hay không... Chỉ tại quận Thốt Nốt, theo ông Dũng, qua kiểm tra 38 trường hợp thì một nửa trong số đó đã vi phạm về vị trí khai thác... Trong khi đó, sở này đã cấp một số giấy phép có thời hạn đến... 10 năm.

Ông Dũng nói: “Ngay cả bốn mỏ cát ở Thốt Nốt mà Sở Tài nguyên - Môi trường đã cấp phép, đúng ra chưa nên cho khai thác. Bởi khai thác kiểu này thì không còn chỗ nào trên dòng sông còn bồi lắng”. Theo ông, sau khi được cấp phép, hầu như các doanh nghiệp đều bán lại hợp đồng khai thác cho một số phương tiện chui, sau đó photocopy giấy phép phát cho chủ các phương tiện để đối phó khi có kiểm tra. “Không ai biết được hiện một mỏ cát có bao nhiêu phương tiện khai thác”, ông Dũng khẳng định.

NHỮNG KỶ-NIỆM VỀ THẦY DƯƠNG-VĂN-ÚT

Thầy Dương-văn-Út, là một nhà giáo đã có hơn 50 năm cống hiến cho việc giáo dục quận Tân Châu, tỉnh Châu-Đốc nay là Huyện Tân-Châu,Tỉnh An-Giang.Thầy đã đào tạo biết bao thế-hệ học trò và những học trò của Thầy đa số đã thành đạt và cống hiến nhiều cho xã-hội, nay vẫn còn một số học trò cũ của Thầy hãy còn phục vụ cho quê hương, đất nước.


Tôi được biết Thầy khi tôi rời trường ở làng quê ra chợ học bậc Tiểu-học; lúc ấy Thầy đang là giáo-viên Trường Nam Tiểu-Học Tân-Châu.

Mặc dù không được học với Thầy nhưng tôi rất yêu kính Thầy và thường hay đeo bám cửa lớp của Thầy đang dạy để xem Thầy dạy, nhất là nghe Thầy tập cho học-trò hát thật vui là bài “Con Chuột" Thầy hát: "Một con chuột, có một cái đuôi, hai tai, hai mắt, một đầu, bốn chân…” Bài hát đựơc phổ-biến rộng rãi, dễ nhớ, từ giáo-viên đến học-sinh trong trường ai cũng thuộc. Những lớp Thầy không dạy nhưng khi có thầy, cô nào có việc đến lớp trể hoặc có việc đi ngoài, lớp ồn ào, mất trật tự thì Thầy đến ngay để giữ lớp giùm và thế là Thầy lấy bài hát “Con chuột” ra dạy cho học trò .

Khi quận Tân-Châu được mở trường Trung-học Công-Lập, tôi là một trong những giáo-viên được bổ-dụng về dạy Trường nầy.Vì là trường mới thành-lập chưa có cơ sở nên Trường Trung-học Công-lập Tân-Châu lúc bấy giờ phải mượn phòng học của Trường Nam Tiểu-Học và Bộ Giáo-Dục đề-cử Thầy Dương-văn-Út, lúc nầy đang đảm nhiệm chức vụ Hiệu-Trưởng Trường Nam kiêm Quản-Đốc Trường Trung-Học Công-Lập Tân-Châu. Do đó, tôi có dịp gặp lại Thầy dưới mái trường ngày xưa mà tôi đã có rất nhiều kỷ-niệm .Tôi cũng vô cùng xúc động, phấn-khởi khi gặp lại những Thầy cũ của tôi nay vẫn còn đứng lớp cùng với lớp giáo viên trẻ mới ra trường …

Lúc bấy giờ Thầy rất bận rộn vì ngoài việc điều hành trường Nam Tiểu Học Thầy phải kiêm nhiệm thêm việc điều hành mấy lóp Trung-học Công-lập mới mở.

Trước tấm lòng nhiệt huyết của Thầy đối với giáo dục địa phương, chúng tôi, những người mới rời trường học để ra làm thầy cũng như những giáo viên đang cộng tác với Thầy lâu năm bên Tiểu-học đều hết lòng tiếp tay, tiếp sức với Thầy trong công việc điều hành.Chính nhờ vậy mà trong thời gian gần gủi với Thầy tôi học hỏi ở Thầy nhiều kinh nghiệm trong cách đối nhân xử thế, cách điều hành …cho đến khi ngôi trường Trung-học Công -Lập Tân-Châu được hợp-thức hóa thành một trường đúng chuẩn bậc Trung-học và tôi được Bộ Giáo- Dục đề cử chức vụ Hiệu-Trưởng thay thế Thầy.

Thầy thường kể cho chúng tôi nghe những chuyện vui nhất là chuyện vui trong nghề giáo có pha chút tiếu-lâm nên chúng tôi có những dịp “cười đến chảy nước mắt”.

Chuyện “ngáp phải ruồi”, chuyện nầy xảy ra thời Pháp ở Việt Nam do Thầy kể :

Một gíáo-viên dạy tiểu-học, kém tinh thần trách nhiệm, không làm sổ sách, cộng sổ điểm để xếp hạng mỗi tuần cho học trò ở lớp mình dạy, nên hay bị ông Đốc học (Hiệu Trưởng) nhà trường nhắc nhở, cảnh cáo …thường xuyên nhưng tình trạng cũng không cải thiện. Một hôm, nhằm ngày chủ nhật có viên thanh- tra giáo dục địa-phương là người Pháp đến trường để đánh quần-vợt với mấy thầy giáo tại sân trường (sân trường ngày trước thường tráng xi-măng để vừa làm sân chơi cho học sinh vừa làm sân quần vợt ).

Trong giờ giải lao, viên thanh tra nầy nhìn thấy có một cửa lớp học đang mở (các lớp khác đóng cửa im- ỉm vì là ngày nghỉ).Thấy lạ, viên thanh-tra nầy ngạc-nhiên đi đến và nhìn vào thì gặp người giáo viên vừa kể đang chăm chú làm sổ sách.Viên thanh tra đi vào vồn-vả, bắt tay, khen nức-nở người giáo viên và kêu ông Đốc- học trường đến chỉ thị lập hồ sơ khen thưởng về sự “tận tụy, yêu nghề”cho giáo viên nầy !

Ông Đốc-học trường đành làm theo lịnh thanh-tra dù ông Đốc-học biết rằng hôm nay vì có cuộc cự cải với bà xã ở nhà nên ông thầy giáo nhà mình mới vào mở cửa lơp làm siêng một bữa mà lại gặp hên ngay như vậy!.

Thầy Dương-văn-Út còn kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện vui khác liên quan đến nghề thầy như chuyện “Cơm hà"...

Rất tiếc vì sạt lở nên cơ sở ngôi trường NamTiểu-học Tân Châu không còn, chỉ còn lại cái cổng trường với tên hiệu và tuồng chữ kẻ trên trụ cột xi măng của thầy Võ-văn-Nhiệm ; tấm bảng ghi câu “NHIỆM-VỤ CỦA NHÀ GIÁO CHƯA CHẤM DỨT SAU BUỔI HỌC CHIỀU”,câu mà tôi luôn tâm niệm khi theo nghề giáo, treo ở dãy hành lang giữa, tôi cũng không tìm thấy ở đâu!

NG-NG

16 thg 7, 2009

Nội y thì cấm, đồ tắm thì... OK ! (Thanh Niên Online)

Quyết định số 39 do UBND TP.HCM ban hành ngày 5.6 về việc cấm dùng ma-nơ-canh (mannequin) trưng bày trang phục lót, quảng cáo poster hình người mẫu mặc trang phục lót nơi công cộng, cửa hiệu, cửa hàng, nơi sản xuất kinh doanh... gây thắc mắc cho nhiều người cả mua lẫn bán.

Quy định mới này nhằm mục đích “tạo vẻ mỹ quan” cho đô thị. Từ 15.6, trên địa bàn TP.HCM, các cửa hàng, cửa hiệu, nơi sản xuất, nơi công cộng không được dùng hình ảnh, sản phẩm minh họa quần áo lót, băng vệ sinh, tã lót để quảng cáo, kinh doanh.

Rất nhiều chủ cửa hàng kinh doanh trang phục lót tại TP cho biết họ sẽ khoác thêm lên ma-nơ-canh áo mỏng hoặc choàng tấm khăn voan để “lách luật”. Vì quy định chỉ cấm ma-nơ-canh mặc trang phục lót, không cấm phủ thêm áo khoác hay khăn voan.

Nghịch lý hiện nay là dù không cho phép biểu diễn trang phục lót, áo tắm trên sàn diễn thời trang nhưng tại các cuộc thi hoa hậu, hoa khôi, người đẹp ban tổ chức vẫn có thể cho các thí sinh trình diễn trang phục áo tắm 1 mảnh hay 2 mảnh bằng cách choàng thêm tấm khăn voan mỏng.

Trong khi đó, cũng có “họ hàng” với nội y là đồ tắm thì được phép trưng bày, quảng cáo, vì theo một cán bộ Sở VH-TT-DL TP thì: “Đồ tắm là trang phục mặc nơi bãi biển, nơi công cộng nên hoàn toàn được phép trưng bày, quảng bá. Còn nội y không phải là trang phục mặc nơi công cộng nên không được phép”.

Thực ra, đi trên đường nhìn vào một cửa hiệu, người tiêu dùng khó mà phân biệt rõ trang phục lót hay đồ tắm nếu không quan sát thật kỹ lưỡng. Thậm chí nếu xét về thuần phong mỹ tục, nhiều bộ đồ tắm còn “thiếu vải” và khêu gợi hơn cả những bộ trang phục lót bình thường. Trang phục lót ở đây phải hiểu gồm cả áo thun lót dành cho nam, quần đùi nam, áo lót nữ dạng áo thun 3 lỗ ôm sát dùng chơi thể thao, áo lót liền quần của nữ, quần dài lót của nữ, váy lót, đồ lót body fit (toàn thân)...

Quy định 39 không nêu trang phục ngủ có bị cấm trưng bày hay không.

Chỉ TP.HCM là cấm, các nơi khác thì không

Ma-nơ-canh trưng bày trang phục lót hiện vẫn nhìn thấy ở cửa hiệu tại TP.HCM dù có quy định cấm từ ngày 15.6 - ảnh: Đ.T

Điều đặc biệt, cấm ma-nơ-canh mặc đồ lót chỉ áp dụng tại TP.HCM, trong khi các tỉnh thành khác trong cả nước, kể cả tại thủ đô Hà Nội thì không hề cấm! Như vậy, cùng một công ty sản xuất trang phục lót sẽ xảy ra điều nghịch lý: cấm trưng bày quảng cáo sản phẩm tại TP.HCM còn các tỉnh thành khác thì vô tư!

Nhìn sang các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Philippines... không nước nào có quy định cấm ma-nơ-canh mặc trang phục lót như tại TP.HCM!

Đến nay, các đơn vị, công ty, cửa hàng sản xuất, bày bán, kinh doanh trang phục lót vẫn chưa nhận được công văn hướng dẫn cụ thể về việc cấm trưng bày ma-nơ-canh mặc đồ lót kèm hình thức chế tài nếu vi phạm. Vì thế, nếu dạo quanh một vòng các phố thời trang tại TP dễ thấy vẫn còn rất nhiều cửa hàng trưng bày ma-nơ-canh mặc trang phục lót.

Một TP có mỹ quan hay không, chắc chắn không phải vì chuyện ma-nơ-canh mặc hay không mặc đồ nội y. Và chắc chắn Hà Nội hay các tỉnh thành khác không có quy định cấm trưng bày ma-nơ-canh mặc đồ lót thì không có nghĩa là những nơi ấy thiếu mỹ quan.

Hình ảnh Long Xuyên









Chùa Hang - Châu Đốc - An Giang





15 thg 7, 2009

Long Xuyên 2009

Bờ sông công viên Nguyễn Du


Đường bên Hồ Nguyễn Du


Chùa Hang Châu Đốc







11 thg 6, 2009

Châu Úc







Châu Âu mùa đông








10 thg 6, 2009

Những bài viết của Nguyên

Làng Phú Lâm.

(Tặng các chị Khanh, Tài, A. Sĩ và các em Mai, Hoa, Huệ, Vân)

Đồng quê Phú lâm


Từ khi tôi biết, làng Phú Lâm thuộc quận Tân Châu, có khi thuộc tỉnh Châu Đốc, có khi thuộc tỉnh An Giang (khi Long Xuyên và Châu Đốc còn chung một tỉnh); từ Tân Châu về làng hơn 14 cây số, phải qua làng Long Sơn, tới khoảng cây số 9 -10 gọi là ranh làng. Nay thì là xã Phú Lâm thuộc huyện Phú Tân tỉnh An Giang.

Quê ngoại tôi ở làng Phú Lâm, đúng ra là ở đâu đó ngoài Huế, ba của ông cố ngoại tôi là quan án sát Nguyễn Văn Giám thuộc triều vua Nguyễn, không biết sao ông con thứ tư của quan Án sát lại lưu lạc đến xứ Bạc Liêu và chết ở đó, lúc mới có 35 tuổi - để lại cho bà cố tôi một đàn con 2 trai 4 gái trôi dạt đến làng Phú Lâm này lập nghiệp để rồi sinh ra bà tôi để xứ này thành quê ngoại.

Tôi không biết gì về ông ngoại mà biết ông qua hình chụp thờ ở bàn thờ nhà ngoại và nhà tôi vì ông mất lúc tôi vừa giáp thôi nôi. Sinh thời ở làng Phú Lâm gọi ông là Ông Bang vì ông người Hoa lưu lạc từ bên Tàu qua Campuchia rồi qua Việt Nam làm công cho một nhà khá giả là anh chị em với bà Cố tôi (hay ông cố?) thì gặp bà ngoại tôi và cùng nhau về lập nghiệp tại làng Phú Lâm.

Hai ông bà cầy cục làm ăn mua được mươi hecta đất ở phía sau đường cộ ngang bây giờ và dựng được căn nhà gỗ có một lầu ở phía trên chợ Tân Phú mà tôi chỉ thấy qua hình (hay lời kể rồi tưởng tượng ra) bởi vì năm 1945, nhà này đã bị máy bay Nhựt bỏ bom lộn làm sập một bên nhà và đến thập niên 50, sau khi ông mất thì bà ngoại tôi tự đứng ra cất lại căn nhà ngói như hiện giờ vẫn còn.

Nhà ngoại tôi thật nhiều kỹ niệm vì thuở nhỏ mỗi mùa hè hay tết nhứt anh chị em chúng tôi vẫn thường về nhà ngoại để ở hũ hĩ với bà, bởi vì từ khi ông chết bà chỉ ở một mình nuôi hai con, nuôi cả cháu (con của em bà) và một đám 12 đứa cháu ngoại mà bây giờ đứa út nhất cũng đã U50.

Anh chị em chúng tôi bây giờ tứ tán phương xa, nhà Ngoại bây giờ đã thành Phủ thờ.

Ảnh chụp gia đình trước Phủ thờ

---------------

2. Nhớ Huỳnh Văn Lực.
Dương Quốc Hùng (21/8/2008)

Hôm qua, ngẫu nhiên mở HTV7, nghe giọng nữ hát bài Trương Chi, tôi bỗng nhớ đến Huỳnh Văn Lực vừa mất trong năm.

Tôi và Lực không cùng học chung lớp, nhưng gặp nhau trong thời kỳ sinh viên học xa nhà tại hòn ngọc viễn đông: Sài Gòn.

Nhỏ hơn Lực 2 tuổi nhưng sau này biết ra, tôi học trước Lực một lớp, có lẽ vì tôi học sớm. Tôi và anh tôi cùng vào học trường Nam Tiểu học Tân Châu; lúc đó anh tôi 7 tuổi và tôi 5 tuổi, học lớp nhứt do cô dạy (rất buồn là đến giờ - cố gắng mãi vẫn chưa nhớ ra tên cô), lớp nhì học Thầy Nguyễn Văn Kiềm , lớp ba Thầy Lợi, lớp tư Thầy Nhiệm lớp năm Thầy Toàn.

Trung học đệ nhất cấp và đệ tam, tôi học trường Công lập Tân Châu, năm đệ nhị tôi học hai tháng ở trường Thủ Khoa Nghĩa còn lại là xuống Long Xuyên học trường Chưởng Binh Lễ mới mở (chung với HC Phú, NT Mỹ, TQ Tấn, NT Phong, NV Bé (Sang) là những bạn cùng ở Tân Châu xuống LX học) đến đệ nhất thi tú tài 2 vào năm 1971. Một số bạn dừng học vì không đỗ tú tài 2.

Từ năm 1971, tôi thi rớt vào Bách khoa (hay Kỹ thuật?) Phú Thọ nên ghi danh học Đại học Khoa học MPC dự bị Toán-Lý-Hóa), sau 1 năm ở nhà người quen khu Cây Gõ tôi bắt đầu trọ học nhiều nơi và khi dời đến 146 Ngô Tùng Châu thì gặp gỡ nhiều bạn cùng quê tập trung lại, đó là Nguyễn Thành Lực đang học cán sự công chánh Bách khoa Phú Thọ, là anh em Ngô Hữu Mạnh và Hữu Liệt, là Nguyễn Tấn Mỹ và Nguyễn Thành Phong đang học ở Thủ Đức về ghé chơi, là Đào Hùng đi giang hồ về tá túc ...

Từ 1974 hình như Lực ra trường và đi làm cho một hảng thầu xây dựng nước ngoài nào đó, lương khá lắm nên thỉnh thoảng ghé rủ anh em càfé, ăn sáng; sang thì nhậu tí chút. Sau đó tôi có đứa em bạn dì ở Tân Châu xuống học thi tú tài nên cùng ở với nó về ở đường Nhiêu Tâm là kho của xe tốc hành Nam Cường (của chị Đỗ Thị Đôi) chạy tuyến Tân Châu - Sài Gòn.

Tôi làm luận án ra trường thì giải phóng, phải ở lại học chính trị và lao động tại Nông trường Lê Minh Xuân, sau đó thi ra trường vào tháng 6 năm 1976 và đi làm vào cuối năm này.

Từ năm 1977, nhiều bạn học Tân Châu vào làm việc tại Uỷ ban Kế hoạch tỉnh, trong đó có Huỳnh Văn Lực, Châu Dứng, Nhựt (Nhựt Tân), Hùng Phạm, Hùng Đào, NV Bá, NT Hồng, Thón, ... Đây là lúc tôi thường nghe bài ca Trương Chi mà Lực thích hát. Chúng tôi ở chung nhà tập thể, chơi chung, nhậu chung, hát chung, thứ bảy về quê chung. Lực đàn không phăng, nhưng rất cứng về nhịp, ngoài Trương Chi còn một số bài tiền chiến mà Lực thích hát (Mộng dưới hoa, Làng tôi, Hòn Vọng phu 1-2-3, Tình ca, Áo anh sứt chỉ đường tà (Thơ Hữu Loan, Phạm Duy phổ nhắc, . . .), 6 câu vọng cổ cũng thường được ca trong những cuộc nhậu nhất là bài Tống tửu Đơn Hùng Tín. Lực cưới vợ (Nghĩa, học chung vợ tôi) trong thời gian này.

Phong trào về quê làm việc nở rộ trong những năm 80, … Lực, Dứng, Nhựt, Hùng Phạm, Hùng Đào, NV Bá, NT Hồng, Thón lần lượt về Tân Châu làm việc, tôi cũng bán rẻ nhà chuẩn bị về, nhưng xếp tôi không cho (sợ tôi về đi buôn biên giới), mà nhà đã bán rồi, nên xếp bố trí tôi về ở tập thể lại. Năm 1993, bị lấy lại nhà tập thể, tôi mua lại căn nhà cấp 4 gần đó ở .

Lực có nghề xây dựng, nên khi xây chợ mới Tân Châu, một số chức sắc ở tỉnh tìm và giao Lực làm trong Ban Quản lý công trình xây dựng Chợ, sau này, khi xây trụ sở UBND tỉnh, Lực cũng được điều xuống Long Xuyên làm trong Ban Quản lý công trình xây dựng trụ sở UBND tỉnh.

Ngày đưa đám Lực tôi bận không về được, tôi ghé nhà gặp Nghĩa vào ngày mở cửa mả, ở đây gặp lại anh Thanh (chồng chị LT Huệ - cháu cô Mến, học chung), anh Nhân (học lớp A Công lập - nhà ở rạp hát) là bạn chiều nhậu của Lực thời gian sau này, nói chuyện lan man, hỏi thăm tin tức về các bạn cùng thời rồi chia tay.

Tôi thắp cho Lực nén nhang và cầu mong cho hồn anh thanh thản miền cực lạc.
QH


Thầy Lê Văn Đỡ (Ngày 06-9-2008).
Lê Văn Đỡ và Phan Ngọc


Không học thầy ngày nào vì thầy dạy trường Trung học Bán công Tân Châu từ năm 1966. Sau này, khi thầy ra dạy trường Nguyễn Chánh Sắt thì tôi đã đi học nơi khác.

Hôm qua, có dịp về Tân Châu, ngồi sương sương ở quán Mười Nhàn với một số anh và bạn, tôi đã gặp thầy Lê Văn Đỡ. Nhìn mặt, thầy biết ngay tôi là em của Dương Quốc Tuấn.

Biết hai thầy đã nghỉ hưu, tôi xin phép chụp ảnh thầy ngồi với thầy Phan Ngọc Kiến - tác giả bài hát An Giang miền đất đứng làm kỷ niệm.

Nhìn mái tóc bạc, trắng như cước của thầy, tôi không nghĩ rằng tửu lượng thầy mạnh như thế: Liên tiếp 4 cái séc ông già chống gậy (Jhonny Walker - Red label) và 50 phần trăm Saigòn đỏ thường xuyên mà Thầy vẫn sang sảng ngâm nga bài thơ Tình Già của Phan Khôi và bài thơ của thầy trong đó có câu: "Em ơi mây trắng chiều đổ mưa".

Chưa kịp hỏi ý nghĩa câu thơ trên thì đã chia tay.

Đến giờ tôi vẫn thắc mắc mà không trả lời được: Tại sao mây trắng mà chiều đổ mưa?.
Quốc Hùng.

Còm của SKN:
Cảm ơn tấm hình của anh QH nhé! Thầy Kiếng nhìn càng già càng đẹp lão. Không biết anh thì sao? Anh còn nhớ em ko?
Có 1 lần em về Tân Châu có ghé thăm thầy Đỡ. Nghe thầy nói cuộc sống của thầy khi về hưu cũng khỏe lắm. Nghe vậy em cũng mừng.
Thầy Đỡ chủ nhiệm lớp 12A của ngày nào...Hồi đó em làm lớp phó văn thể mỹ được thầy cưng lắm. Vì phong trào nào trường phát động là lớp 12A có mặt đầy đủ. Bóng bàn, văn nghệ, điền kinh,...đều có mặt em hết. Nghĩ sao lúc đó em hăng ghê!
Vậy đó mà mới đây đã gần 30 năm! Eo ơi!....khủng khiếp!
SKN

Còm của Phu Chau:
Chú Quốc Hùng ơi! Khi nào chú có dịp về Tân Châu và gặp thầy nữa thì cho phuchau gởi lời thăm và chúc thầy sức khỏe dồi dào. Phuchau học thầy Đỡ năm lớp 7 và 8 năm 1993-1994 cùng lớp với Thanh Sang, Thiên Bình (hai "bé" này học giỏi toán hơn phuchau nên chắc thầy nhớ lớp nào)

Lời nhận xét của thầy mà phuchau nhớ đến giờ là " Chữ thằng Phú to, vuông vuông nhìn ngộ thiệt..."

Còm của Lê Dum:
Quốc Hùng mến!
Nhìn thấy hình Thầy Kiến trên web, tôi vừa ngạc nhiên vừa mừng vô cùng, vì biết được Thầy còn rất khỏe lại còn đẹp lão nữa chứ. Hôm về VN có tìm để thăm Thầy nhưng Thầy không có ở nhà. Hình ảnh người Thầy kính vẫn còn in đậm ở tâm trí tôi... Dù Thầy không dạy tôi lúc tôi còn bé, nhưng tôi đã học ở Thầy rất nhiều ....
Cám ơn QH đã cho tôi biết được tin tức về Thầy. Bao giờ QH có về quê cho tôi gửi lời thăm Thầy và lời chúc sức khỏe nha.
LD

Còm của Nguyễn Thành Tài:
Thầy Lê Văn Đõ, bạn già của Tôi ngày nào, nay tóc đã bạc nhưng còn quá khỏe, cười té ánh bạc. Thầy Kiến, Tôi có biết nhưng không thân, trông rất tráng kiện.

Tuần sau Tôi sẽ gặp lại Thầy Đỡ và những Thầy khác vui mừng trong tiệc cưới con Tôi. Rất tiếc không thể mời mọi người trên DĐ tham dự...

Xem đây như là thiệp hồng báo tin vui.

Thân mến,
NT2
=============

44 năm một kỷ niệm (Ngày 29-9-2008)

Hè năm lớp nhứt – 1964, tôi chuẩn bị rời trường Nam Tiểu Học Tân Châu sang Châu Đốc học lớp đầu của bậc Trung học Đệ nhất cấp là lớp Đệ thất (lớp 6 bây giờ).
Cổng trường Nam Tiểu học Tân Châu


Để vào học trường công (Thủ Khoa Nghĩa) phải qua một kỳ thi tuyển, nếu đậu thì học, rớt thì vào trường Trung học Bán công Nguyễn Hữu Cảnh hoặc trường tư (?) ở dưới Nhà Thờ đối diện phà Châu Giang.

Chị hai tôi (khi đó đang học Thủ Khoa Nghĩa) dẫn tôi và anh tôi qua Châu Đốc thi. Vì học môn văn rất dở, nên khi đề thi cho bình luận “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”, tôi mải mê bình luận với ý nghĩa TÀU là chiếc tàu chở bầy ngựa. Kết quả là cả hai anh em tôi đều RỚT.

May thay, khi đó Trường Trung học Công lập Tân Châu mới thành lập, tôi đã thi đậu và vào học 1 trong hai lớp duy nhất của Trường lúc bấy giờ: Lớp đệ thất B, với hai giáo sư cơ hữu là thầy Nguyễn Trọng Phúc và Thầy Trinh. Thầy Dương Văn Út là Hiệu trưởng Trường Trung học Công lập Tân Châu trong thời gian đầu.

Thầy Phúc, tôi vẫn liên lạc qua E-mail hay điện thoại, Thầy Trinh hoàn toàn mất liên lạc.
QH
================
Com của PT Nga:
Lúc còn nhỏ thường ta có nhiều suy nghĩ thật ngây ngô nhỉ? Hồi đó TNP cũng hiểu y như anh Quốc Hùng vậy đó.
Còn chuyện đời xưa nào nữa, kể cho bà con nghe cho vui, anh QH nhé, nhé!
Lại nhớ về chuyện xưa...
Năm đó – năm 1968, không nhớ rõ là bằng cách nào mà chúng tôi biết ngày nhà trường thông báo kết quả thi tuyển vào Đệ Thất, chỉ nhớ rằng khi biết chính xác ngày đó thì bọn học trò và cả các bậc phụ huynh đứng chật cả sân trường Nam Tiểu Học để nghe Nhà Trường đọc kết quả*.
Tôi cũng vào trường cùng bà chị để nghe. Hồi hộp biết bao khi dõng tai chờ nghe người ta đọc tới tên mình. Trời ơi, nếu nghe cho đến khi người ta đọc đến hết danh sách mà không có tên mình thì là, thì là… đối với tôi thì chỉ có cách trở về trường Tiểu Học cũ học lại lớp Nhứt**, hoặc là nghỉ học luôn ở nhà… ngày ngày đi chơi nhảy cò cò, chuyền chuyền, tán u,…thôi.
Tôi không nhớ rõ người ta đọc theo thứ hạng hay theo tên trường Tiểu Học, chỉ nhớ rõ khi nghe đọc đúng tên và số báo danh của mình – Phan Thị Nga, SBD 474, tôi đã quá mừng và… véo lia lịa vào tay của bà chị, trong khi tai vẫn còn nghe tiếp thứ hạng của mình... Véo, ngắt vào tay người khác khi hồi hộp và khi quá xúc động là một thói quen xấu của tôi, cho đến bây giờ vẫn còn y như vậy. Bà chị tôi tuy hít hà vì đau nhưng vẫn cười tươi như hoa vì em mình thi đậu.
"Tôi đậu vào Đệ Thất rồi!
Tôi sẽ mặc áo dài trắng đi học!
Tôi sẽ thành người lớn!
Thật là sung sướng!"
---
* Thật thán phục cách làm việc có kế hoạch của nhà trường. Thông báo ngày đó có kết quả là đúng y ngày đó!
** Vì sợ thi rớt, tôi đã vào học lại lớp Nhứt rồi; một số bạn khác đã vào học trong BC rồi, do trường Tiểu học và trường BC tựu trường sớm hơn trường CL.
-------------------------
Com của Tranbc:
NGV nhìn tấm hình "nơi ăn nhờ ở đậu" mãi 5 năm của Trường THCL Tân Châu mà lòng bùi ngùi. Nay chỉ còn lại cái cổng trường. Ngẫm nghĩ lại, đó là nơi NGV đã gởi 10 năm cuộc đời mình, 5 năm tiểu học cộng 5 năm trung học. Nhìn những lớp học đã mất như mình đang bị mất một phần cuộc đời. Đó là nơi tôi gởi lại những mơ mộng thời niên thiếu. Bạn bè nếu còn lại chỉ năm ba đứa tứ tán mười phương.

Cảm ơn Quốc Hùng đã cho NGV nhìn lại một phần quãng đời của mình.
NGV
-----------------
Com của Dương Thị Ngọc Chưởng
Gởi Quốc Hùng.
Trước hết, mà cũng là điều quan trọng nhất đối với CD là xin thành thật cảm ơn QH đã có nhã ý nhắc nhở đến ba của CD, ông Dương văn Út trên Diễn Đàn, mà còn đề cập với dòng chữ (CD đang chờ đợi coi có ai còn nhớ đến!) "Thầy Dương văn Ùt lả Hiệu trưởng Trường Trung Hoc Công Lập Tân Châu trong thời gian đầu". Rất chính xác, cảm động, đầy đủ chi tiết và am hiểu. Hôm rày CD theo dõi và mừng ngày thành lập trường. Mới đây mà đã 44 năm rồi! CD vui vì trường tiếp tục đào tạo thế hệ mới cho mai sau. Còn thế hệ như chúng mình ngày xưa có còn mấy ai nhớ đến người thầy già cả, nghèo nàn, bịnh hoạn trước lúc ông qua đời. Thấy Bảo Toàn hát bài ca con Chuột ba dạy, và hôm nay QH nhắc đến, CD xin cảm ơn, cảm ơn tất cà học trò Tân Châu, những ai còn nhớ đến những người Thầy Cô của trường. CD rất kính trọng nghề Giáo, nhưng cá nhân CD vì ghen tuông, nhõng nhẽo của ngày xưa còn bé, cứ nghĩ là Ba mình yêu thương Trường trước nhất, sau đó mới đến gia đình, nên có thành kiến "đó là sự sai lầm". Nhưng bây giờ, già rồi, nên suy nghĩ về đời sống rộng rãi hơn. Nếu CD có đụng chạm đến nghề nghiệp của ai thì cho CD xin lỗi. CD không có ý nghĩ xấu về nghề nghiệp của ai, chỉ người hành nghề không đúng tiêu chuẩn mới xấu thôi.

Nói về nghề nghiệp có 1 hôm mình hỏi mấy đứa con và đám bạn nó khi ra trường muốn làm nghề gì? Tụi nó bảo không biết, và hỏi ngược lại "Còn Bác (là C.D)?" Mình bảo sau khi trải qua bao nhiêu nghề, minh cũng vẫn không biết!!! "1 lu that bai" hihi... Que se ra se ra!

Cảm ơn và xin chúc Quốc Hùng, Phu Nhân cùng các cháu hạnh phúc, học giỏi, ăn nên làm ra.

Thân mến,
CD

Những bài ngắn của Lý Kim Cúc

Đăng những bài viết của Cúc từ các Blog khác chuyển về đây.

1/. Quê Ngoại - LKC

Hàng Gòn là tên của quê ngoại tôi, nó có cái tên này bởi vì ngày xưa được trồng rất nhiều gòn dọc theo hai bên đường, rợp bóng mát và rất nên thơ, dân ở đây cũng sống về nghề rẩy và mua bán gòn, cây gòn không bỏ gì cả từ cây, lá và trái (nhưng bây giờ thì hết rồi không ai trồng gòn nữa, nếu có cũng rất ít - vườn nhà Ngoại nay vẫn tôi còn một số gòn lão)

Không biết tự bao giờ tôi đã thuộc về nơi này. Tôi có ba, má và bốn anh chị em ở Tân Châu, chỉ có mình tôi ở đây với ông bà Ngoại, Ngoại cho tôi đi học ở một ngôi trường làng và ông thầy dạy học là bạn thân của ông Ngoại tôi.

Ở đây đường xá còn ngăn sông cách trở lắm, không có xe đò, những người dân ở đây muốn đi Tân Châu phải đi xe đạp hay đi bộ, rất ít nhà có xe gắn máy (từ nhà Ngoại tôi đi lên đầu cù lao, qua đò tới Tân Châu là hơn 10km ), hoặc đi bằng đò. Nếu đi đò thì phải thức lúc 2 giờ sáng, đò chạy tới chợ Tân Châu là 6 giờ sáng, hôm nào con nước xuôi thì có thể tới sớm hơn. Ơ quê không có Tivi, nên thường mỗi chiều thứ bảy ông Ngoại thường chở tôi lên Tân Châu bằng chiếc xe cào cào (là xe PC hay BC?, những người ở quê thấy Ngoại tôi chạy xe này thường gọi thế, và cả xã chỉ có một chiếc xe duy nhất này thôi ) để tối thứ bảy xem cải lương, thường thường mỗi tuần vào tối thứ bảy đài Cần Thơ hay hát cải lương, rồi chiều chủ nhật cùng về với Ngoại, tôi nhất định không chịu ở lại Tân Châu.

Ba má tôi mỗi ngày hay gửi báo (ngày xưa gọi là nhật trình) và thịt cá nhờ chủ đò đem về cho Ngoại. Thời đó ở đây thiếu thốn đủ mọi thứ : không điện, không nước, không tin tức…( bây giờ thì khác rồi), vì vậy nên ở làng trên xóm dưới ai muốn biết tin tức gì thì ghé nhà nghe thời sự từ ông Ngoại, vì vậy mọi người ở trong làng đều gọi ông Ngoại tôi là “nhà thông thái ”.
Tôi hay được ông Ngoại dẫn đi tắm sông mỗi buổi chiều, ông làm cho tôi một đôi thùng xách nước nhỏ nhỏ vừa với sức của tôi (lúc đó tôi 8-9 tuổi gì đó), khi tắm xong phải xách 2 thùng nước lên nhà, từ bến sông lên tới nhà khoảng hơn một trăm mét, ông ngoại 2 thùng lớn tôi 2 thùng nhỏ, nhưng tôi cảm thấy nặng nề quá, muốn thuê người gánh nước mà ở đây tuy người dân nghèo nhưng họ không chịu làm thuê việc nhà, làm dùm thì họ làm còn làm thuê thì không, người dân ở đây chất phát hiền hoà và họ rất giử thể diện.

Tôi rất thích những buổi trưa hè yên ắng, không một tiếng động, khi có con gà gáy trưa nào đó cũng làm vang vọng một góc vườn. Tôi yêu lắm những bụi chuối, bờ tre, những cây mận trắng Ngoại trồng rất ngọt mà những buổi trưa trốn ngũ tôi hay trèo lên cây hái trái ăn thoả thích, và tôi còn yêu rất nhiều thứ ở đây mà bây giờ trở lại đó tôi không còn tìm thấy nữa, hay chỉ tại vì không còn hình bóng của Ngoại tôi… ! !
=========================

Bài 2. Chích ngừa

Mỗi năm gần tới ngày nghĩ hè thì có một đợt chích ngừa trái rạ, thường thì chúng tôi được chích ở trường, nhà trường tổ chức chích ngừa cho học sinh mà không có học sinh nào trốn thoát được, nếu lỡ bị sót lại (có thể là vắng mặt nhằm ngày ở trường chích) thì phụ huynh phải dẫn con em mình đi đến nhà thương chích, năm nay không hiểu sao nhà thầy giáo Đáng nhận chích ngừa cho khu phố.

Hôm ấy tôi học buổi chiều (năm tôi học lớp ba) tan trường vừa về tới nhà thì má tôi kêu mấy chị em tôi rửa tay, rửa mặt, thay đồ rồi ba dẫn đi chích ngừa, tôi hăng lắm xung phong đi trước, ba tôi cũng hăm hở dẫn con gái đi chích ngừa. Ba dẫn tôi đi tuốt ra phía sau nhà thầy giáo (tôi thường kêu bằng cậu hai), nơi đó thầy để một cái bàn, trên bàn có nhiều dụng cụ y tế, nào là những ống thuốc, mấy cái ông tiêm …, thấy chúng tôi đến thầy liền lấy ông tiêm gắn kim vào rồi bơm thuốc vào ông tiêm, thầy lấy gòn tẩm alcool quẹt quẹt vào bắp tay tôi, thì bắt đầu tim tôi đánh lung tung, tôi nói
- Thôi ba ơi con không chích đâu
- Thầy giáo nói : không đau đâu nó như kiến cắn vậy thôi
- Con không chích đâu cậu hai ơi, con sợ lắm
- Ba nói : sợ thì nhắm mắt lại đừng nhìn.
Nhưng tôi càng nhìn càng thấy sợ, và tôi nhất định không cho thầy chích vào vai tôi, ai nói cách nào cũng nhất quyết không cho chích, bàn tay ba tôi vịn sau gáy tôi bắt đầu run lên vì giận, ba tôi tính nóng lắm , khi giận lên thì phải biết ! ba nói vài lời xin lỗi thầy giáo rồi dẫn tôi về gần như là kéo tôi đi, lúc này tôi không còn sợ chích nữa mà tôi thấy thứ khác còn đáng sợ hơn chích ngừa nhiều, đó là tính nóng của ba và mấy cái “đòn bánh tét nhân mây” đang chờ tôi ở nhà.

Đến bây giờ mấy chục tuổi đầu tôi vẫn còn sợ cây kim tiêm, mỗi lần bị bệnh đi bác sĩ là dặn BS trước là tôi không chích đâu đấy nhé, nếu bắt buộc phải chích thì phải lựa cô y tá nào có tay nghề cao chích bá phát bá trúng mới chịu cho chích, chứ mà lụi tới lụi lui vài ba cái là mặt mày xanh lè không còn chút máu
=================== LKC

Bài 3. Ông lão mù

Ông làm bạn với chiếc gậy tre đã từ lâu lắm rồi sau một lần bệnh nặng vì đậu mùa, đôi mắt của ông đã vĩnh viễn chia tay ông từ dạo đó và để lại trên gương mặt ông những vết rỗ hoa cà vào lúc ông hai mươi hai tuổi, cũng kịp để ông trao dồi kiến thức cho mình làm hành trang vào đời sau này

Cũng có thể gọi ông là trí thức vì ông văn hay chữ tốt, biết ông là người hay chữ bà con ở làng trên xóm dưới gửi con tới cho ông dạy học, không hẳn phải trả bằng tiền vì bà con còn nghèo lắm và ông cũng nghèo, hằng tháng mọi người trả cho ông con cá, mớ rau, hay người có đất thì đợi tới mùa sẽ trả cho ông vài giạ lúa, vậy mà ông chắt mót cũng dư lúa được nhiều vì ông ăn chẳng có bao nhiêu. Ngoài văn hay chữ tốt ông còn đàn ca rất hay nhất là đàn cò, chiều chiều những trai làng thường đến nhà ông ngồi nghe ông đàn và cũng góp vui bằng vài câu vọng cổ, vậy mà có một người đi đâu đó về ngang qua làng nghe được tiếng đàn của ông về nhà không ăn ngũ được, từ đó người ấy thường vượt vài dặm đường đến đây núp sau những bụi chuối nghe ông đánh đàn để về mà tương tư, người ấy đang có chồng con yên ấm ở làng bên nhưng vì mê tiếng đàn của ông mà có một hôm bà đến nghe trộm ông đàn và không muốn đi nữa, từ đó hai người nương tựa vào nhau mà sống.

Từ ngày có bà, ông làm thêm một nghề nữa là làm cà ràng ông táo bán kiếm tiền để nuôi thêm một miệng ăn, ngày ngày bà đi lấy đất sét ở các bến sông đem về để ráo cho ông nắn lò, tuy ông mù nhưng nắn lò rất khéo, và dân ở quanh vùng hay mua giúp ông, hoặc có ai đặt ông đan rổ, rế, thúng, bồ chứa lúa, cái gì ông cũng làm được hết.

Cuộc tình của ông cũng nở hoa kết trái, bà đã sinh cho ông một cô con gái thật dễ thương, ai cũng mừng cho ông vì dù sao cũng có người lo cho ông lúc tuổi già, con của ông lớn lên cũng giúp cha dạy học trò, nó cũng giống ông là thông minh và học giỏi, nhưng trời không thương cho trót, con gái mới được tám tuổi thì bị chết đuối, niềm vui của ông khép lại, từ đây ông chỉ còn biết nương vào cửa phật tìm vui trong kinh kệ, ông cũng tới lui về nhà chứ không ở hẳn trong chùa vì còn có bà, nhưng tính tình thì nóng nảy hơn trước hay la rầy bà làm bà tủi thân và thường khóc một mình, thấy vậy có người nói sao bà không kiếm chồng khác đi, bà nói “ tuy vậy chứ mười người sáng mắt đổi một người mù bà cũng không đổi “, vậy mới biết bà thương ông rất nhiều

Tuổi đời chồng chất lại đau yếu liên miên cũng nhờ một tay bà chăm sóc, nhưng tính ông mỗi ngày một khó, bà đã lặng lẽ bỏ đi để ông ở lại trong căn chòi quạnh quẻ với căn bệnh trầm trọng, ông mỏi mòn trong chờ đợi vô vọng, rồi vào một đêm mưa gió ông đã ra đi mãi mãi trong lạnh lẻo âm thầm và nhớ bà da diết
=================== LKC

Bài 4. Một nụ cười
(Thương tặng cô Đỗ Binh )

Năm ấy là năm đầu tiên tôi học cô và cũng là năm đầu tiên cô đi dạy ở trường nầy, trường Nguyễn Chánh Sắc. Quê cô ở Châu Đốc, năm đó có hai cô quê ở Châu Đốc qua Tân Châu dạy là cô Đỗ Binh và cô Hương mắt hơi lé duyên, có một cửa hàng bán giầy dép ở trong nhà lồng chợ Châu Đốc, hai cô đều rất dễ thương.

Nhưng cô Đỗ Binh là người gây ấn tượng rất mạnh đối với tôi, cô không đẹp kiêu sa, cô không có nét dịu dàng thục nữ, mà ở cô có một sức hút kỳ lạ, chỉ đối diện với cô một lần thôi là sẽ bị thôi miên ngay, không thể nào không cảm mến cô được. Đến bây giờ đã mấy mươi năm rồi không gặp lại cô nhưng khi nhắm mắt lại tôi vẫn hình dung ra cô, tóc cô dài, dáng cao mà không gầy, tướng cô đi khoan thai, đặc biệt là lúc nào trên môi cô cũng có một nụ cười, cô cười bằng môi bằng mắt và bằng cả trái tim. Rất tiếc là tết vừa rồi nghe nói cô về có họp mặt với bạn bè tôi ở Long Xuyên, mà Dung đã quên không điện cho tôi.

Ở trong lớp khi cô giảng bài xong, còn dư giờ cô hay nói chuyện với học trò, có một lần cô dạy rằng “nụ cười không mất tiền mua đâu các em, gặp ai các em cứ chào bằng một nụ cười thì người được chào sẽ vui mà các em cũng thấy vui nữa “. Vậy là tôi áp dụng ngay, có một hôm đi học về gặp một anh bạn học quen cùng đi chung đường, tôi liền nhìn bạn và cười, thế là ít lâu sau tôi nhận được một lá thư … tỏ tình ! bởi vì anh ta tưởng tôi phải lòng anh ta. Khi rảnh rỗi tôi thường hay cùng các bạn đi chùa và các tịnh xá để vừa cúng phật vừa để nghe các sư thầy thuyết pháp, một hôm đi học về tôi gặp một nhà sư mà tôi quen mặt, chắc sư không nhớ tôi, sư còn trẻ lắm, tôi gật đầu chào và … cười, thì sư liền dừng lại giữa đường và nhắm mắt lại niệm phật chờ tôi đi qua rồi sư mới đi tiếp, trời ơi, cảm giác cho tôi thấy là sư nghĩ rằng “tôi đang bỏ bùa cho sư”.

Từ đó trở đi tôi không dám cười với người khác phái nữa, và tôi cũng ít cười với ai, cho đến gần đây tôi thấy mình quen rất nhiều người mà không thân được, bởi vì tôi luôn chờ người ta chào mình trước rồi mới chào lại, tôi bèn đổi thái độ, gặp ai quen, mặc dù người ta không chào mình nhưng tôi vẫn chào người ta trước bằng một nụ cười, thì thấy người đó vui lên và lần sau người ta rất vui khi gặp lại tôi. Vậy thì nụ cười của em đã có hiệu quả rồi phải không cô ? sau mấy chục năm nghiền ngẫm.

Vậy nhưng đến bây giờ tôi vẫn thấy có nhiều người không biết cười, có những khi tôi tới nhà một người quen, vào nhà họ mà họ không biết chào tôi một tiếng hay cho tôi xin một nụ cười, tôi rất lấy làm tiếc dùm cho họ. Ông bà ta thường nói “câu chào cao hơn mâm cổ “ , và như cô Đỗ Binh nói nụ cười không mất tiền mua “ vậy thì các bạn ạ hãy cười khi có thể, đừng quá tiết kiệm một nụ cười mà khiến cho mọi người phải xa lánh ta.
================== LKC

Bài 5. Một chuyến đi và tình người

Bốn giờ chiều bắt đầu khởi hành từ Tân Châu về Long Xuyên trời còn hanh nắng, tôi và ông xã đèo nhau trên chiếc mô tô, chúng tôi đi hướng Hoà Hảo để tránh xe vì đường Châu Đốc- Long Xuyên xe lớn rất nhiều và nguy hiểm. Đường chiều ngập nắng bóng mặt trời to dần ra chói loà trước mặt, tôi rất khó chịu vì bị ánh mặt trời rọi ngay vào mặt, nhưng không làm mất đi sự phấn khích trong tôi vì được ngắm nhìn những cánh đồng lúa bao la xanh biếc và được hít thở khí trời trong lành ở nơi thôn dã này.

Qua phà Năng Gù còn hai mươi bảy cây số nữa là tới Long Xuyên, đoạn đường này chúng tôi phải đối phó với những tình huống có thể xãy ra mà mình không mong đợi từ những chiếc xe đi cùng chiều hoặc trái chiều, có một lần ông xã bị một xe gắn máy đi cùng chiều ủi từ phía sau đẩy xe mình đi một đoạn rồi hai xe cùng ngã, cũng may là không đến nổi nào chỉ bị trầy sơ sơ và một chút … máu.

Mặt trời xuống thấp và tối dần, gần sáu giờ mà như đêm ba mươi, chiếc mô tô chúng tôi chạy êm như ru đang bon bon trên đường, qua khỏi huyện Châu Thành một đoạn chỉ còn 6 km nữa là tới Long Xuyên thì chiếc xe đang chạy êm như ru bổng im luôn không còn hơi hám gì nữa, xe tắt máy, làm cách nào cũng không chạy, bụng đói cồn cào, cũng may xe hư ngay quán cháo vịt bên lề đường (về nhà đám giỗ tôi chỉ làm chứ không ăn vì mệt ) chúng tôi tấp vào quán kêu hai tô cháo và một dĩa gỏi vịt hai người ăn, và cũng để hỏi thăm ông chủ quán xem gần đây có thợ sửa xe không, ông chủ quán nói gần đây có thợ sửa xe thường thôi chứ xe mô tô thì phải vào tiệm lớn mới có thợ biết sửa, ông đem cháo cho chúng tôi rồi vào nhà lấy đồ nghề ra coi dùm xe xem nó hư cái gì, ông lọ mọ một hồi rồi đạp thử xe cũng không có một chút hơi nào, ông chê ở đây thợ sửa không được , ông không phải là thợ nên cũng đành bó tay thôi. Ông xã tôi ngồi ăn không yên cứ một chút chạy ra một chút chạy vào, mấy người ngồi ăn trong quán mỗi người góp một ý, cuối cùng vợ chồng chủ quán kêu dùm một xe honda ôm đẩy xe chúng tôi về, đoạn đường chỉ có 6 km mà tôi thấy xa vời vợi, ngã giá với chú xe ôm là ba mươi ngàn về tới nhà nhưng thấy chú tội nghiệp quá nên tôi cho luôn tờ năm chục, nếu trước đó bị hét tới một trăm thì chúng tôi cũng vui lòng chịu luôn (chú xe ôm cũng là nông dân nên hiền), về tới nhà được là mừng rồi.

Xin cảm ơn vợ chồng chủ quán cháo vịt, những người khách trong quán đã quan tâm chia xẻ, cảm ơn anh honda ôm, người tốt luôn ở xung quanh ta, xin cảm ơn mọi người.
======================= LKC

Bài 6. Lần cuối

Tôi trải chiếu trên nền nhà đang ngồi chơi với đứa con trai nhỏ xíu của tôi thì T đến, có chở theo cô gái rất dễ thương để giới thiệu với tôi; T ghé vào một buổi chiều trời oi bức nắng, T ngồi xuống chiếu trò chuyện với mẹ con tôi, đứa con gái lớn của tôi mến anh T lắm, hai anh em nói chuyện giỡn với nhau một hồi, tôi bảo T :

- Hay con ở chơi mai hãy về.
- Thôi mợ, con phải về để mai còn đi làm, con thấy trong mình không khoẻ, chắc không qua khỏi con trăng nầy quá !
- Con thấy không khoẻ thì ở lại đi BS chứ về sao được?
- Con có uống thuốc rồi, mợ !
Và T từ giã mấy mẹ con tôi rồi lên xe cùng đi với cô bạn gái.

Trong ba người con của chị tôi , tôi thương nhất là T và cũng là đứa cháu gần gũi với tôi nhất, vì trong thời gian đi học ở Long Xuyên T thường hay ghé nhà chơi với mấy mẹ con tôi, dù không có cậu ở nhà cũng vậy. T rất vui tính và hay nói giỡn rất có duyên, lại “ga lăng” nữa, mỗi khi cùng đi Long Xuyên, qua phà hay qua mấy chỗ khó đi T hay đưa tay cho tôi nắm dìu tôi qua chỗ khó, và hay khen tôi “mợ trắng mà mang đôi guốc này thấy chân mợ đẹp lắm”, không biết T khen lấy lòng hay khen thật, nhưng nhìn vào mắt T tôi thấy rất chân thành, tôi chợt thấy ấm lòng mặc dù ngoài trời mưa rất lạnh.

Đùng một cái tôi nghe T chết, khi người nhà chưa cho chúng tôi hay T bệnh nhiều đến vậy, tôi nghĩ chắc T bị tai nạn xe cộ chứ đâu mà mất nhanh vậy ! Hôm nghe báo tin T mất tay chân tôi bủn rũn không đứng nổi (tôi có bệnh cao HA) nhưng tôi không về dự đám tang của T vì hôm đó ông xã đi công tác, còn tôi thì có con nhỏ, tay xách nách mang đi một mình không tiện nên tôi cho đứa con gái về thay .

T đã báo trước cái chết mà tôi không để ý qua câu nói gở của T, sau câu nói ấy không đầy một tháng thì T mất và hôm ấy cũng là lần cuối tôi gặp T.
======================== LKC

Bè cá - Xuồng

Bè buổi ban mai


XUỒNG VÀ CHỢ



Đầu đuôi cũng đến !

GHE và CẦU

Rượt theo !



Khởi hành




Gác máy !.


Cầu Quay NTT