QuocHung's Blog

24 thg 5, 2010

Bé Đằng cưới vợ Tập 2

Thu Đằng song hỉ Thảo Phương


Đeo nhẫn cỏ cho em




Em đeo lai nhẫn cho chàng





Cài dây chuyền cho Vợ



Làm gì mà xếp hàng thế ?




Vợ chồng Úh Huệ với thiếm Út Thành




Ngồi làm khách để phía trong làm lễ




Cô này muốn Vic. gì ?




Mở mâm Trầu Cau




Cả hai cùng hái một mớ chẳn (không lẻ) để vào dĩa cúng ông bà




Giới thiệu cô dâu với nhà Trai




Dì Ba lì xì cho hai đứa mau ăn chóng lớn




Cô Chín: Ăn nhiều, khoẽ nhưng đừng ú như cô




Dì Sáu




Chú 6 Bé từ Tịnh Biên cũng gửi quà cho cháu




Thiếm Út thì tặng nhẫn




Út Huệ cũng . . . nhẫn




Dì và Dượng 7 thì lì xì




Cậu Mợ Năm từ Long Xuyên cũng . . .




Anh 2 Điền gửi hộp màu đỏ, Cô ngồi kế có gửi quà mà thợ không chụp ảnh kịp




Làm dáng quá vậy Đằng ?

















Ra xe đi một vòng Dĩ An








Hai mẹ con làm dáng nhé !




































Hai vợ chồng và ông bà nhạc




Phát biểu của Sui Trai

Rót rượu


Sui gái phát biểu























Ca bài gì mà cảm động thế ?


Ra về






Bé Đằng cưới vợ Tập 1

Xe hoa chuẩn bị lên đường

Toàn thể Famile

Hai Ông bà Chủ xị

Tiểu Anh và bé Huy

Những cô gái xinh đẹp


Famile chú Rễ

Famile Dì 7 Hoa

Famile Dì Út Huệ

Toàn là Nữ kiệt

Dì Út - OX Kim


Lên đường qua nhà gái




Chợ BếnThành




Đeo hoa tai cho con Dâu


Đeo dây cguyên cho con Dâu

Chàng đeo lắc tay cho nàng

28 thg 4, 2010

DẤU NGOẶC BUỒN

Vào cuối thập niên bốn mươi, ở làng quê tình hình rối ren, trộm cướp nổi lên nhiều nơi. Những chuyến chở nông sản lên Saigon của Ông Ngoại phải tạm ngừng. Để tìm sự an bình cho gia đình, Ba Má tản cư lên Tân Châu sống chung với Mẹ và Ba Khôi ở phòng ngủ (khách sạn) Thanh Phong. Vừa từ quê lên, chưa có việc làm ổn định, Ba được Ba Khôi giới thiệu cùng làm việc dưới tàu Thanh Hương.


Ông Ngoại

Mỗi chiều, Má hoặc Mẹ đưa tôi ra cầu đúc đón những chuyến tàu từ Nam Vang xuôi về. Ngoài Ba và Ba Khôi còn có những ông Tây bồng bế và nựng nịu sau khi dúi vào tay tôi những thanh socolat mà tôi ưa thích. Ngoài việc theo tàu lên, xuống, Ba còn mua hàng vải từ Nam Vang về để Má bán lại cho các sạp vải trong nhà lồng chợ. Lúc ấy, vải ú và vải săn đầm (giống vải ú nhưng canh chỉ to hơn có một mặt láng, mặc nhẹ và mát) đen bán rất chạy, ngoài ra ai còn đặt những mặt hàng khác cũng vẫn được. Đó là những mặt hàng trốn thuế, nhờ có Ba Khôi nên việc vận chuyển hàng về trót lọt. Ở Tân Châu, Má lo việc bán hàng và ghi sổ sách (kế toán). Cuộc sống êm đềm trôi, mọi điều tưởng chừng quá tốt đẹp được một quảng thời gian thì tai hoạ ập đến, tàu Thanh Hương bị chụp.

Lúc Ba Khôi bị bắt dẫn đi mất tích, tại Tân Châu, cả nhà gồm Ông Ngoại, Mẹ, Ba, Má và luôn cả tôi bị dẫn đến trụ sở của Tây, đặt tại thành Ban Tống, để lấy lời khai rồi bị tạm giam vì họ cho là Ba Khôi theo Việt Minh, tổ chức đánh tàu. Họ buộc gia đình phải kêu gọi Ba Khôi ra đầu thú, nếu không cả gia đình sẽ phải ở tù. Lúc ấy, tôi còn nhỏ chỉ ba hay bốn tuổi nên được tha. Họ cho Má bồng tôi ra ngoài, nhờ thế Má chạy, cậy nhờ nhiều người đến can thiệp. Được tin, những người quen biết Ông Ngoại có chức quyền cao cùng đến xin bảo lãnh. Những người dân trong chợ Tân Châu, cả người Hoa lẫn người Việt, không biết làm gì hơn là họ thắp nhang cầu nguyện Phật Trời cho cả gia đình Ông Ngoại tai qua nạn khỏi. Như một bóng đen trùm phủ cả gia đình lúc ấy. Chính ông Ban Xì (trưởng ban đại diện Hoa kiều quận Tân Châu) là bạn của Ông Ngoại không ngần ngại đem cả tính mạng và tài sản ra để bảo lãnh Ông. Nhờ vậy là cả nhà được tại ngoại nhưng bị quản thúc tại gia. Mãi sau nầy khi bọn Tây điều tra biết được Ba Khôi bị Việt Minh giết vì tội theo Tây đến bấy giờ cả nhà mới được xem như là trắng án.

Má và con gái
Trong lúc lâm cảnh nguy nan như thế, mới thấy rõ được tình cảm của bạn bè,của người dân Tân Châu dành cho Ông Ngoại. Xin được nghiêng mình trân trọng hàm ơn trước nghĩa tình sâu đậm đó của Người Tân Châu với cả gia đình tôi.

Tân Châu 26-4-2010
VÂN KHANH

21 thg 4, 2010

CHUYỆN VỀ BA MÁ TÔI

Năm 1945, sau đám cưới, Ba Má tôi về Châu Đốc ở với Nội, một thời gian sau lại về Phú Lâm cùng Ông Bà Ngoại.
Mỗi sáng, cha vợ và chàng rể ngồi uống trà bàn chuyện râm rang bằng tiếng Tàu, Ông Ngoại rất thương Ba vì Ba là người được Ông chọn lựa theo ý nguyện. Mỗi chuyến ghe chài chở lúa xuống Saigon bán, Ông đều cho Ba đi cùng. Thâm tâm Ông là muốn cho Ba theo nghề buôn nông sản, nhưng Ba không mặn mà lắm, bởi Ba không thích những chuyến đi dài ngày trên sông nước. Ba cho rằng sống dưới ghe tù túng, khó chịu làm sao ấy! Không như những ngày sống với Nội, Ba chỉ đọc sách, chơi bóng rổ hay cờ tướng.

Do vậy, để tìm lại chút sở thích cũ ngày nào, thỉnh thoảng Ba đưa Má về Châu Đốc để thăm Ông Bà Nội. Việc đi về giữa Phú Lâm - Châu đốc của Ba Má thường xuyên hơn.

Lần đó, cũng về Phú Lâm, Ba chở Má bằng xe đạp vỏ đặc. Loại xe nầy không có ruột xe, chỉ có vỏ xe, vỏ là một vòng cao su đặc cứng lắp vào niềng xe. Chạy lâu, lực ma sát xuống đường làm vỏ xe nóng lên, giản ra rất dễ tụt khỏi niềng. Khi đó, phải chờ cho vỏ xe nguội, khi nguội nó co lại, lắp chặt vào niềng rồi đi tiếp. Vào thời ấy, xe nầy rất quý hiếm. Lại gặp lúc Nhật đảo chính Pháp. Những cây to ở hai bên đường bị đốn xuống để ngăn chặn không cho xe cộ lưu thông. Trên đường có nhiều chốt kiểm soát. Nhờ có lá cờ nhỏ, cờ Trung Hoa Dân Quốc là phe Đồng minh, Ba mang theo bên mình nên mới được cho qua. Lá cờ nầy có hình ngôi sao trắng mười hai cánh trên nền màu xanh dương. Từ Châu Đốc về Phú Lâm khoảng 32km, mà đi từ sáng sớm đến trưa muộn Ba Má mới tới nhà. Lúc ấy, Má mang thai tôi gần ba tháng mà phải ngồi trên đòn dông xe đạp đi xa đến vậy. Chắc trong bụng Má, tôi cũng rêm mình với chiếc xe đạp quí hiếm một thời ấy!

Ba và các con
Má kể lại: Nhà Ngoại là nơi tôi được sinh ra. Ba đi ghe với Ông Ngoại, đêm đó, khi về đến nhà thì tôi đã mở mắt chào đời. Mẹ ẳm tôi đến bên Ba và nói: Con mầy nè Tệt. Ba mắc cở quay đi, lúc đó Ba còn quá nhỏ mới 21 tuổi. Phải mấy ngày sau, Ba mới hết bở ngở, trìu mến ẳm bồng tôi. Tất cả việc chăm sóc Má con tôi đều do một tay Bà Ngoại. Một hôm, Ngoại bận đi xóm, Má và Mẹ lần đầu tiên tắm cho tôi. Hai chị em ”khiên” tôi để vào thau nước, rồi lôi kéo thế nào mà làm mông tôi xây xướt bị nhiễm trùng (hồi đó gọi là làm độc) mãi lâu sau mới lành và để lại vết sẹo to. Khi tôi sinh đứa con đầu lòng, cả Ngoại, cả Má, cả Mẹ ai cũng nhắc lại chuyện ”khiên” tắm tôi ngày xưa rồi bật cười xoà.

Một đêm, Ba nằm mơ thấy một người đàn bà đứng tuổi đến đuổi Ba đi và nói: Đây không phải nhà của mày, mày phải mau mau đi khỏi nơi đây. Ba cải lại: Đây là nhà ông già vợ tôi, tôi không đi đâu cả. Bà lại xua đuổi thêm một lần nữa. Xong, bà trèo lên cây ổi trồng ở trước sân nhà Ngoại, bẻ 2trái liệng vào người Ba. Hốt hoảng, Ba choàng tỉnh và rất lo sợ, cứ mong trời mau sáng.Ba nghĩ, chắc Ông Ngoại cậy quyền thế chiếm đoạt đất đai của người khác nên họ mới xua đuổi Ba. Đến khi biết đất do Ông Bà Ngoại mua lại, hiện mộ của bà chủ đất vẫn còn ở sau nhà. Cơn ác mộng đêm qua vẫn còn ám ảnh nên Ba xin Ông Ngoại về Châu Đốc.

Má và con gái lớn
Qua ngày hôm sau, sáng sớm thức dậy, tôi cứ khóc mãi, dỗ thế nào cũng không nín. Má ẳm tôi ra trước đường, tôi cứ ngoẹo người, đưa tay chỉ về phía dưới. Thế là Má ẳm tôi đi xuống nhà Ông Năm ( Chỉnh ) chơi và tôi cũng thôi không khóc nữa. Được một lúc, bỗng nghe tiếng máy bay vần vũ trên đầu. Ông Năm thúc hối mọi người xuống trăn sê (hầm trú ẩn). Má cũng ẳm tôi chui vào. Ầm! Ầm! Hai tiếng nổ làm rung chuyển cả hầm tối, ai cũng nghĩ bom bỏ ở gần đâu đây. Tiếng máy bay xa dần rồi im hẳn. Mọi người lục tục lên khỏi hầm. Má vừa ra đường thì thấy người ta từ phía trên chạy đổ xuống, báo tin nhà Ngoại bị đánh bom. Má bồng tôi chạy miết về nhà. Một cảnh tượng hãi hùng trước mắt:nhà sập tan tành, chẳng biết Ông Bà Ngoại ra sao. Hoảng loạn Má lao vào, vừa lúc người ta khiên Bà Ngoại ra, trên đầu bê bết máu. Ngoại được đưa xuống Chợ Vàm, được y tá là Cậu Tư Bốn, bạn thân của Ba Khôi, tận tình chăm sóc. Vết thương không nặng nên mọi người cũng yên tâm. Ông Ngoại đi Tân Châu nửa đường nghe tin vội vã quay về. Ơn Trời, cả nhà mọi người đều bình yên. Một quả bom rơi xuống cạnh cây ổi để lại một hố to. Một quả rơi ngay phòng Ba Má, nếu không về Châu Đốc chắc Ba không còn vì Ba thường ngủ dậy rất trưa. Thế là Ba đã chết hụt một lần ! Và nếu tôi không khóc đòi đi, chuyện gì sẽ xãy ra nào ai biết . . .
Hàng năm, đến ngày Thanh minh Ba đều nhắc nhở đắp mộ, cúng kiến bà chủ đất để tỏ lòng biết ơn người cứu tử.

Tân Châu 20-4-2010
VÂN KHANH


20 thg 4, 2010

Học ở Long Xuyên



Hè năm 1969, học hết lớp đệ tam (lớp 10) thì trường Công lập Tân Châu không mở tiếp lớp đệ nhị (lớp 11) nên học trò trường Công lập phải chuyển qua Trường Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc. Cậu chuyển qua đó học, tuy có nhà cô Tư, cô Út, Chú, bác, bà Nội … nhưng cậu thích ở cùng chung với nhà bà con bên mẹ Mỹ, nằm ở bờ kinh Ông Cò, đâu đít với cầu tiêu máy (Mỹ tên ở nhà là Võ, con chú 9 Văn, cháu nội ông Ký Đại. Năm 1971, Võ rớt tú tài 2 nên đăng vào khóa 4/1971 Thủ Đức cùng với Phong. Còn nhớ tên anh em của nó là:  Võ, Thủy, Tùng, Nghĩa, Dũng, Bình, Nga, …).  
Học được hơn 1 tháng thì nghe tin ở Long Xuyên mở trường công mới tên Chưởng Binh Lễ, đang nhận các học sinh vào, bà Ngoại mới cùng với bác năm Kìa (ba của Hồ Công Phú) lo giấy tờ cho cậu, Võ và Phú chuyển xuống nhập học trường Chưởng Binh Lễ Long Xuyên luôn. Lúc đó, Tân Châu có cậu, Võ, Phú, Phong (con thầy Phu), Tấn (con thầy Truyện ở xóm Quận), bé Sang (con ông 10 Nhã), … vô học đầu tiên lớp đệ nhị trường Chưởng Binh Lễ năm 1969. Mấy tháng đầu ở Long Xuyên cậu ở trọ chung phòng với Phú, sau đó chuyển đến nhà bà ba nhà đèn và ở đó suốt 2 năm học đến đậu tú tài 2 (hè năm 1971) thì lên Sài Gòn học tiếp. 
Hồi đó, chuyện ngoại giao, giấy tờ này nọ đều một tay bà Ngoại, kể cả lần đầu dẫn cậu xuống Long Xuyên trọ học cũng bà Ngoại dẫn đi. Nhờ đó, khi 6 Mai xuống Long Xuyên học sư phạm cũng đỡ lo vì có cậu đi trước, quen nước, quen cái rồi (sau này 7 Hoa cũng xuống học sư phạm Long Xuyên). 
Còn nhớ, khi 6 Mai thực tập ra trường phải vô dạy ở Phum, Sóc trong Xà Tón (huyện Tri Tôn bây giờ), lần đầu cậu phải đi cùng má Sáu vô đó, dưới chân mấy ngọn núi, nhiều người Miên và cũng rất sợ phe CM đóng trong vùng núi (giờ không nhớ là xã nào? Lương Phi hay Tức Dụp gì đó . . ).
Trước đó mấy năm, cũng bà Ngoại dẫn cậu vô vùng Bảy Núi đó để bà Thầy làm bùa cho cái răng con chó mực đeo vào cổ của cậu tránh tai nạn xe cộ. Vì bà Thầy coi số mệnh của bà Ngoại, nói Ngoại có 2 thằng con trai mà thằng nhỏ sẽ bị tại nạn giao thông, phải sên bùa vô răng con chó mực đeo mới tránh khỏi. Về xe máy, năm 1966 ông Ngoại đã mua chiếc Honda 66 là chiếc thứ nhì ở Tân Châu (chiếc kia của chú Dung bán vải). Năm sau 1967 Ngoại bán và dẫn cậu với Xiêng (con ông Chênh lò tương) đi lên Sài Gòn mua 2 chiếc Honda 67 (SS50E) mới trong thùng, chở cậu chạy từ Sài Gòn về Tân Châu, xe này còn đến bây giờ. 
Nói về té xe, đụng xe hồi nhỏ thì cậu với cậu tư bị nhiều lắm không nhớ hết. Như năm 1970, khi chạy xe qua Châu Đốc xem kết quả thi Tú Tài 1 cậu đã đụng người ta bị thương làm Ngoại phải tốn tiền thuốc men cho họ, năm đó kết quả cậu đậu Bình thứ còn cậu tư bị rớt. 
5 Nguyên

17 thg 4, 2010

MẸ VÀ MÁ (Tiếp theo)

Ảnh Mẹ chụp năm 2008

Mẹ tôi lúc ấy, là một thiếu nữ con nhà gia thế lại xinh đẹp có tiếng trong làng.Nhiều gia đình danh giá ngấp nghé xin cưới Mẹ, nhưng đều là người Việt Nam nên Ông Ngoại không bằng lòng. Ông quan niệm người Tàu chỉ gả cho người Tàu thôi.
Thế rồi Mẹ gặp Ba Khôi (Dượng Hai) là một người Việt trí thức, theo Tây học, nhà ở cùng xã, tận ngoài cây số 20, cách nhà Ngoại 5 cây số. Gia đình Ba Khôi khá giả, đông anh chị em, bao nhiêu lần cậy nhờ mai mối đến xin cưới Mẹ là bấy nhiêu lần bị Ông Ngoại khước từ. Bà Ngoại và họ hàng thuyết phục thế nào Ông Ngoại cũng không xiêu lòng. Không thể làm gì khác được. Mẹ đành nghe theo tiếng gọi con tim.

Thuở ấy, ở Tân Châu có tàu Thanh Hương chở hành khách đi Nam Vang và ngược lại. Ba Khôi là Cò tàu nhưng tàu do người Pháp làm ch?. Cuộc sống của Ba Khôi và Mẹ êm đềm hạnh phúc. Tiếc thay, Mẹ chẳng sinh đứa con nào cho Ba Khôi ! Có khi Mẹ ở Nam Vang, khi ở Tân Châu, lúc về Phú Lâm với Ngoại. Ba Khôi là người có học thức, tế nhị, sâu sắc. Sống gần gủi với gia đình bên vợ, lâu dần, Ông Bà Ngoại cũng rất thương quí. Dạo ấy, ở làng quê, tình hình không được an ninh mấy, nhiều đảng phái nổi lên, không theo phe, đảng nào cũng khó mà sống yên ổn. Ban đêm, ai bị bắt dẫn đi thì ngày hôm đó được lấy làm ngày giổ. Đêm xuống, là nỗi kinh hoàng trùm lên thôn xóm, những thanh niên trai trẻ hoang mang, sợ hải ! Một đêm buồn, tàu Thanh Hương trên đường từ Nam Vang về bị”chụp”. Những người Pháp và Ba Khôi bị bắt đi. Chẳng ai biết đi đâu và bị ai bắt. Từ đó đến gần hai năm sau, mỗi khi có người mang thông tin về Ba Khôi đến là Mẹ gửi nào tiền, nào bạc, nào quần áo, nào thuốc men . . . cho Ba Khôi. Dù biết họ làm tiền, nhưng Mẹ vẫn gửi, gửi với hy vọng biết đâu Ba Khôi còn sống. Ngoại xót lòng khi thấy Mẹ vật vã, khóc than, cậy nhờ người nầy, đến kẻ khác đi dò tìm tin tức một cách vô vọng. Năm ấy, Mẹ mới gần ba mươi tuổi. Rồi thời gian cũng làm Mẹ nguôi ngoai, Mẹ lấy việc chăm sóc 4 chị em tôi làm niềm an ủi. Được hơn bảy năm sau, Mẹ chấp nối với người chồng kếø sinh được 3 trai và một gái út. Hiện Mẹ đang sống với vợ chồng của người con cả, Mẹ còn khoẻ mạnh và minh mẫn ở tuổi chín mươi.

Chuyện về Má, Má tôi không đẹp như Mẹ. Nếu Mẹ sống bằng tình cảm thì Má tôi sống bằng lí trí. Thuở nhỏ,khi đang học ở Tân Châu, Má thường thay Ông Ngoại bảo lãnh những người không có giấy thuế thân. Lớn lên, Má là cánh tay đắc lực của Ông Ngoại. Đến tuổi lập gia đình đã có nhiều nơi đến coi mắt Má.Trong số đó, có người làm ở ty Điền Địa Má chấm người nầy. Nhưng để Ông Ngoại vui lòng, Má đã ưng Ba.

Hình Ba chụp 25/12/2001
Ba là con ông chủ tiệm hút á phiện, một người bạn thân của Ông Ngoại ở Châu Đốc. Ba như một công tử nhà giàu, suốt ngày ăn rồi đi chơi chứ chả làm gì. Năm 1945, miền Bắc bị đói kém hoành hành. Ở Phú Lâm, Ông Ngoại tổ chức đám cưới Má thật linh đình. Ông cho người đi hơn ba mươi mấy cây số, xuống tận Hoà Hảo tìm u du kết hoa, che rạp cưới. Lên Tân Châu mướn máy phát điện chạy suốt ba ngày ba đêm. Sau nầy,khi vợ chồng tôi về Phú Lâm dạy học, nhiều người bà con còn nhắc lại sự rình rang của đám cưới Ma ù. Sau một thời gian ng?n ở quê Nội, Ba Má về lại Phú lâm. Cùng với Ông Ngoại, Ba theo ghe chài chở lúa xuống bán ở Saigon, Chợ Lớn. Mỗi chuyến đi có khi mười ngày đến nửa tháng. Khi Má sinh tôi, loạn lạc trộm cướp nổi lên khắp nơi. Ở làng quê khó sống. Ông Ngoại đưa Ba Má tản cư lên Tân Châu và bảy đứa em của tôi lần lượt mở mắt chào đời tại đây.

Tân Châu 15-4-2010

VÂN KHANH
Nhấn vào đây xem ảnh xưa

Anh 2, chị Vân Khanh, tháng 12/2001

15 thg 4, 2010

BA LẦN CHẠY

1. Lần gần nhất là năm 1975, ngày 30/4/1975, lúc 13 giờ tôi và đực Lớn từ nơi trọ học 28/8A Bùi Chu - Nhà Thờ Huyện Sĩ (nhà bà Ba, quen với ông 5 Chỉnh, ba cậu Nghĩa) chạy về Phú Lâm bằng chiếc Honda 67 SS50E , tối ngũ dọc đường, gặp dượng Hai Tằm (chồng dì Mẫu Đơn), sáng 01/5/1975 chở cả ba người về Phú Lâm. Tối hôm đó, quân địa phương còn kháng cự nên phải cùng Ba, Má và các em chạy lên nhà Ngoại trú ẩn cho an toàn.


Trước đó, lúc 9 giờ sáng 30/4, hai anh em cùng với vợ chồng chị ba Đôi - Sóc đã chạy qua cầu chữ Y, định đi đường vòng về Mỹ Tho, nhưng bị binh lính chặn lại không cho đi qua vùng bị tạm chiếm. Hai xe phải quay lại ai về nhà nấy. Mấy tiếng sau, hay tin quốc lộ về miền tây đã thông rồi , hai thằng mới lấy xe chạy về.

2. Lần gần kế là năm 1969, khi Ba má vừa dọn từ Tân Châu về chợ Tân Phú sinh sống bằng nghề buôn bán. Ở đây Ngoại có hai căn nhà đâu đít vuông góc nhau, một căn nhìn ra lộ (sau này bán sinh tố), một căn nhìn ra nhà lồng chợ, má mở tiệm bán hàng gia dụng, đồ nhôm, đồ mũ, ...


Trước đó, chỉ nhớ Má có bán lãnh Mỹ A, trà và chơi Hụi ở Tân Châu, có lần bị quan thuế vây nhà bắt hàng lậu mà không biết hàng gì ? Chắc là tơ lụa bán qua Campuchia.

Một thời gian Ba có hùn với ông Chên (lò tương) mở một xưởng cơ khí sửa chữa máy hiệu Hữu Thành ở gần rạp hát, ngang nhà bác 6 Sương (sát vách phía trên nhà Mẹ). Sau này thì nghỉ, vì nghe nói xưởng ở gần Quan Thuế ghe tàu không dám ghé sửa chữa.

Mới vừa dọn từ Tân Châu về thì phe CM tổ chức đánh đồn số 16 phía dưới chợ, hai bên bắn nhau túa xua nên dân phải di tản đến nơi an toàn, Má và mấy em qua sông xuống Phú Thuận (cây số 20) tạm trú nhà chú Út Vận là em chồng của Mẹ, Ba không chịu đi mà ở lại nhà nên cậu út Dứt dù nhát nhưng bậm gan ở lại cùng với ba.

Hôm sau hai bên vẫn đánh nhau, Má bên kia sông (chợ Tân Phú) khóc lóc, năng nĩ ba di tản, cuối cùng Ba cũng chịu đi - do tôi và cậu út Dứt đi xuồng qua rước ba.

Xuồng để dưới bến nhà cậu Út Quang, khi lên bờ cùng ba và cậu út Dứt dắt xe Honda 67 SS50E xuống thì ai đó đã lấy mất xuồng rồi. Cả ba đi lần lên đến khỏi nhà Ngoại, mượn đại một chiếc xuồng của ai đó dẫn xe 67 xuống và bơi qua sông, nhờ vậy mà xe 67 còn đến giờ.


Mờ sáng hôm sau, cùng Ba núp bên này sông nhìn qua chợ Tân Phú thấy cháy nhà mình, cháy dài lên đến chái bếp của Ngoại thì tắt. Sau này nghe nói cây dừa bên chái bếp ngã đè dập tắt đám cháy, nên nhà Ngoại không cháy, hay là do ông Ngoại thổi tắt ?.

3. Lần thứ 3, không nhớ rõ vì khi đó còn nhỏ, chỉ có mình tôi với bà Ngoại (hay là có cậu Dứt nữa thì không nhớ). Cũng di tản xuống Phú Thuận, sau đó mấy bà cháu đi tắt đường đồng về nhà, dọc đường có máy bay quần trên đầu nên tôi phải lấy cái áo trắng đội đầu với ý nghĩ trẻ con là thấy màu trắng máy bay sẽ không bỏ bom. Còn nhớ, bà Ngoại khát nước, tôi phải bẻ lá cây gáo, vấn lại múc nước đìa cho Ngoại uống. Khi về nhà Ngoại, việc lấy áo trắng đội đầu thành giai thoại, mấy bà con ở xóm nhà Ngoại hay kể về việc này.

Nguyên