QuocHung's Blog

27 thg 1, 2010

Mêkong: Cuộc sống chẳng còn là dòng sông êm ả

Bài của Thomas Fuller (The New York Times) – in lại trên tuần báo Courrier international ngày 20-01-2010 – PT dịch
Càng ngày càng có thêm nhiều dự án ngăn dòng trên con sông Mêkông. Phát triển kinh tế lại thành ra phương hại đến tương lai ngư dân và cuộc sống muôn thuở dọc đôi bờ sông, tờ New York Times viết.


Những thúng cá, những người dân làng bơi lội tắm táp, một cái chợ bán đủ thứ kiếm được từ rừng sâu: đó là những kỷ niệm ấu thơ của Pornlert Prompanya về con sông Mêkông hoang dã xưa. Bây giờ, người đàn ông 32 tuổi ấy tổ chức những chuyến du lịch dọc con sông Mêkông với bộ mặt hoàn toàn khác: ở Sop Ruak, nơi biên giới với Thái Lan và Myanmar, một sòng bạc mới toanh có mái vòm giát vàng giang tay đón những con bạc cỡ bự từ xe ô tô hòm đen bước xuống.

Dòng sông biến đổi thật nhanh, do kinh tế phát triển, do những nhu cầu về điện của vùng này và nhu cầu vận chuyển hàng hóa. Ngay cả khi con sông này chưa bị ô nhiễm gây hoại thư như vô số con sông châu Á khác, sông Mêkông cũng chẳng còn là dòng chảy êm ả như cách đây nhiều thế kỷ nữa.

Trung Hoa đã xây dựng ba con đập, và con đập thứ tư đang xây sẽ là con đập cao nhất thế giới. Nước Lào có kế hoạch xây trên sông Mêkông và các chi lưu của sông này vô số đập thủy điện – bẩy mươi dự án cả thẩy, trong đó bẩy dự án đã hoàn thành – và các nhà cầm quyền ở đây đã tuyên bố nước Lào thành “cục pin của châu Á”. Sau hết, Nước Campuchia có kế hoạch xây hai con đập. Giấc mơ của các n hà thực dân Pháp dùng con sống như cửa ngõ bước vào đất Tầu đã được thực hiện từng phần: sau khi các kỹ sư Tầu dùng thuốc nổ phá cả loạt thác ghềnh vào đầu những năm 2000, tình hình thương mại theo đường sông giữa Trung Hoa và Thái Lan đã tăng lên gần 50%. Các nhà sinh thái lo ngại rằng những dự án này sẽ tiêu diệt các nguồn thu nhập của cư dân sống nhờ vào sông Mêkông đã nhiều thế kỷ nay. Những phương diện bị phê phán nhiều hơn cả của các con đập này là vấn đề tác đông của chúng tới những đàn cá di cư và việc trồng lúa ở vùng đồng bằng Việt Nam, nơi tập trung hơn một nửa năng lực trồng trọt của nước này. Thật vậy, nền nông nghiệp vùng đồng bằng sông Mêkông vốn được hưởng lợi từ phù sa con sông đầy chất dinh dưỡng nay đã bị các con đập của người Tầu giữ lại. Theo tính toán của các chuyên gia, các con đập sẽ chặn đứng một tỷ lệ phù sa lớn hơn nữa cùng với vô số giống cá, điều đó gây tai họa cho hoạt động nuôi trồng thủy sản, và Ủy ban sông Mêkông, một cơ quan tư vấn do các chính phủ Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam thành lập năm 1995, đã ước tính lên đến 2 tỷ đô-la.

Theo một công trình nghiên cứu tiến hành năm 2006, trong hàng trăm giống cá sống trên con sông này, thì 87% là cá di cư.

“Những con đập đặt ra những vấn đề vô cùng lớn đối với sáu chục triệu dân sống trong lưu vực sông Mêkông”, Milton Osborne, nghiên cứu viên được mời tới Viện nghiên cứu chính trị quốc tế Lowy ở Sydney, đồng thời là tác giả nhiều công trình về sông Mêkông. “Con người ở đây bị gắn chặt vào với con sông này.” Theo một số nhà phân tích, việc gia tăng mạnh mẽ các con đập trên sông Mêkông có thể gây ra xung đột mang tầm quốc tế. Có những phong trào công dân Thái tỏ ra bất bình trước vẻ dửng dưng của Trung Hoa trước những hệ quả do các công trình của họ gây ra cho người dân sống dưới hạ lưu con sông này.

Cả Trung Hoa lẫn Myanmar – hai quốc gia nằm cao trên thượng lưu con sông – đều không phải là thành viên của Ủy ban sông Mêkông, điều này khiến họ không bị buộc phải hỏi ý kiến các nước khác đối với những vấn đề chẳng hạn như việc xây đập và phân chia nguồn nước. Thế nhưng, giờ đây, chuyện các con đập vẫn không thành mối quan tâm mang tính chất quốc gia của bất kỳ nước nào có con sông này chảy qua. Không thấy xảy ra ở những nước này bất kỳ phong trào phản đối lớn nào, và đối với rất nhiều con người trong vùng, thậm chí lại còn coi việc xây cất đó là biểu hiện của sự tiến bộ. Sự phát triển của sông Mêkông cũng là biểu hiện của một châu Á mới, cuối cùng đã thoát khỏi những xung đột ý thức hệ làm tê liệt họ. Theo Pornlert Prompanya, dẫu sao thì cái ngôi làng thời thơ ấu của ông nay đã trở thành chốn đô thị đón du khách trong những khách sạn và nhà hàng sang trọng, các mặt tiêu cực của vấn đề xem ra vẫn lớn hơn những mặt tích cực. Ông nói rằng con sông bây giờ hành xử bất ưng khó đoán trước được, câu con cá cũng khó và tắm thì chẳng có gì thú vị nữa, bởi vì dòng sông “quá bẩn và quá ô nhiễm”. “Xưa kia, mực nước sông thay đổi theo mùa”, ông nói thêm. “Bây giờ đây, mực nước này tùy thuộc vào việc Trung Hoa cần dùng của nó bao nhiêu nước.”

Tham khảo
Sông Mêkông chạy qua Đông Nam châu Á với chiều dài khoảng 4 900 kilomet. Nó bắt nguồn từ đỉnh Himalaya rồi chảy xuống miền Nam Trung Hoa, Myanmar, Tháï Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam trước khi đổ ra mạn Nam của biển Đông. Kể từ khi Trung Quốc xây con đập đầu tiên, rất nhiều chủng loại sinh vật như cá heo và cá heo sông Mêkông đang trên đường tuyệt diệt, mực nước thì bị hạ thấp, con cá câu lên đều nhỏ và ít hơn rất nhiều. Ở nhiều chỗ, dòng chảy quá mạnh, do phá ghềnh thác, phá các bãi cát và mở rộng các khúc sông hẹp. Campuchia là quốc gia lệ thuộc hơn cả vào dòng chảy và các trận lụt của con sông này: người ta e ngại có thể xảy ra nạn đói vì thế. Tất cả các thành phố lớn của Lào đều nằm bên sông, và thành phố lớn quan trọng của Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh, đã bị đe dọa vì dòng chảy sông Mêkông không đủ mạnh và còn bị ô nhiễm nữa.

22 thg 1, 2010

Một mã số cá nhân, tại sao không?

Người dân chưa hết xôn xao do bị hư hao quyền lợi từ cú đổi 50 triệu thẻ BHYT theo luật mới thì 17 triệu chủ thẻ ATM của một ngân hàng lại phải bỏ việc xếp hàng chờ… đổi thẻ do sợ trùng mã BIN.


Gần hơn là chuyện ba triệu chủ thuê bao di động trả trước bị trùng dữ liệu CMND, hộ chiếu hết vía vì tuyên bố “cắt liên lạc” và “chuyển công an điều tra”. Trước đó là việc hàng triệu người lao động lo lắng mất 10% thu nhập do chưa được cấp mã số thuế cá nhân, rồi bảy triệu tài xế ô-tô bàn tán về chuyện đổi giấy phép lái xe…

Không chuyên gia hành chính nào có thể khẳng định sắp tới sẽ chấm dứt cảnh cả xã hội xếp hàng làm thủ tục như vậy, bởi thực tế trước nay là tất cả các ngành (nhất là công an) đang phải ban hành các quy định về quản lý căn cứ trên khá nhiều dữ liệu khả biến!

Trong một xã hội phát triển, các dữ liệu về nơi ở, nơi làm việc, nơi đóng bảo hiểm, nơi thanh toán… luôn biến động. Nếu các công cụ quản lý được thiết kế theo nó thì dĩ nhiên sự lạc hậu, chồng chéo, sai lệnh… luôn diễn ra dẫn tới việc chuyển đổi không bao giờ ngừng lại.

Các nước phát triển có giải pháp khá đơn giản. Mỗi con người ngay từ khi sinh ra đã được cấp một MÃ SỐ CÁ NHÂN, bao gồm những dữ liệu bất biến, như người cha, người mẹ, nơi sinh, nhóm máu… Mã số này được các ngành liên quan sử dụng làm căn cứ để thiết kế các công cụ quản lý cho mình, như quản lý thuế, mở tài khoản, cấp bằng lái xe, mở sổ an sinh xã hội, làm hộ chiếu v.v…

Ở Việt Nam chưa có một ngành nào đảm nhiệm việc cấp mã số cá nhân như thế. Chính vì không có một mã chuẩn, nhưng do nhu cầu thực tế, các ngành vẫn cần công cụ quản lý nên mạnh ai nấy cấp dẫn tới hiện tượng các công cụ này thay đổi liên tục như trên. Thậm chí, ngay cách thức quản lý nhân khẩu của ngành công an cũng bộc lộ hạn chế khi một con người có thể có nhiều số CMND (do chuyển vùng), nhiều số hộ chiếu (do hết hạn) dẫn tới lúng túng cho các ngành khác khi lấy các số liệu này làm chuẩn.

Bất cập này đã bị phát hiện, song bế tắc về giải pháp khi ngành này không thừa nhận cơ sở dữ liệu của ngành kia, dẫn tới hiện tượng ví tiền của người dân giờ đây chứa đầy các loại thẻ mà giao dịch thì vẫn bất cập!

Mẫu giấy khai sinh mà Bộ Tư pháp đang quản lý, tại sao không đánh số sê-ri như tiền và coi con số đó là CHUẨN đối với một con người để mà từ đó có một sự khởi đầu?

Bút Lông Site

Tập đoàn kinh tế và chợ làng

Câu chuyện mấy doanh nghiệp viễn thông “mặc cả” với EVN về giá thuê cột điện tưởng chỉ là “việc riêng” của mấy doanh nghiệp (DN) nhà nước với nhau, nay nó bỗng thành chuyện của công chúng khi VNPT và Viettel bắt tay nhau đòi trồng cột.


Do điều kiện lịch sử mà lâu nay EVN độc quyền tuyệt đối trong việc trồng và cho thuê cột điện trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Chính vì thế khi EVN tăng giá treo cáp lên nhiều lần thì không chỉ VNPT, Viettel… mà nhiều đơn vị “có dây” khác đồng loạt kêu cứu. Bộ Công thương, Bộ Thông tin & Truyền thông đã phải “xắn tay áo” cùng giải quyết nhưng không xong, bởi tranh chấp kinh tế thì khó mà dùng được áp lực hành chính.

Người dân chỉ thắc mắc, giá cao hay thấp thì đều là “nhà nước”, túi này bỏ sang túi kia thôi, sao cứ “cãi nhau” hoài? Nhưng sự thực không thế, EVN ngợp trước doanh thu tới gần 80.000 tỷ đồng (lãi tới cả chục nghìn tỷ đồng) của VNPT và Viettel nên lý sự sao lại “tiếc” vài trăm tỷ “chia sẻ” chi phí trồng và bảo dưỡng cột… Bộ Tài chính, Bộ Thông tin & truyền thông bối rối vì văn bản liên quan (chính sách hiệp thương giá, Luật Viễn thông) đề cập đến vấn đề này cái thì đang soạn thảo, cái thì chưa có hiệu lực.

Thế là trong lúc chờ, mới đây VNPT và Viettel đã bàn bạc đến việc… trồng cột xài chung, bởi cuộc mặc cả với EVN khó đến hồi kết.

To chuyện rồi!

Người Hà Nội, TP HCM và các đô thị khác làm sao chịu nổi nếu trên đường phố vốn đã chật hẹp lại mọc thêm những hàng cột mới. Hơn nữa, chi phí trồng và duy tu cột, nếu không bổ vào đầu người dùng dịch vụ viễn thông thì hạch toán vào đâu?

Cả nước có vài tập đoàn kinh tế nhà nước, nhưng số này nắm trong tay hầu hết các nguồn lực mạnh nhất như ngân sách, tín dụng ưu đãi, đất đai, máy móc thiết bị, tài nguyên khoáng sản… và nhất là thương quyền kinh doanh tuyệt đối. Dĩ nhiên, khi hưởng những lợi thế bất khả xâm phạm đó, người dân đòi hỏi các đơn vị kinh tế này phải có nghĩa vụ tương xứng trở lại đối với xã hội, chứ không thể hơi tý cãi cọ nhau như hàng tôm, hàng cá tranh chỗ chốn chợ làng!

Phong cách đó ra “biển lớn” thế nào đây?

Chính phủ từng yêu cầu các tập đoàn bán ngoại tệ cho ngân hàng vì lợi ích chung. Nếu chuyện thuê cột mặc cả không xong, vì lợi ích chung, hoàn toàn có thể sử dụng lại cách thức này.

Cách đó không xong nữa thì tại sao không tước toàn bộ số cột điện EVN đang quản lý, giao cho một đơn vị độc lập tổ chức chào thầu công khai mà EVN hay VNPT, Viettel sẽ chỉ là người đi thuê?

Blog BútLông

14 thg 1, 2010

Loạt ảnh ở Phú Lâm, đám giỗ BA

Ngày thứ bảy, 09/01/2010 đám giỗ BA, từ Long Xuyên về Phú Lâm với vợ chồng Trúc, chụp vài tấm ảnh kỷ niệm gửi lên đây:


XIN NHẤN VÀO ĐÂY XEM SHOW TRÌNH DIỄN (Hơi bị lâu)
Hoặc là nhấn chuột vào ảnh dưới để xem toàn Album :
Photobucket

Chùm ảnh du lịch Huế năm 2008

Chùm ảnh du lịch Huế năm 2008.

Nhấn vào ảnh dưới để xem toàn album :
Photobucket

Chùm ảnh Trúc Quân năm 2008


Nhấn vào ảnh dưới để xem toàn Album Trúc Quân:

Photobucket

Sông Mêkông có nguy cơ bị tác hại thêm từ các đập nước do Lào và Campuchia dự trù xây dựng ở hạ nguồn

Nếu Lào và Cam Bốt xúc tiến việc xây dựng đập Don Sahong và Sambor ở hạ nguồn, nguồn cá trong dòng Mêkong có nguy cơ cạn kiệt. Cộng thêm với tác hại đến từ các công trình thủy điện của Trung Quốc trên thượng nguồn và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tương lai con sông Cửu Long trở nên thật u ám.

Vốn đã phải gánh chịu hệ quả từ các đập chắn do Trung Quốc dựng lên trên thượng nguồn, dòng Mêkông còn có nguy cơ bị tác hại thêm nếu Lào và Cam Bốt xúc tiến các công trình xây dựng hai đập thủy điện mới dưới hạ nguồn với sự giúp đỡ cũng của Trung Quốc. Cộng thêm với ảnh hưởng đã được dự báo của hiện tượng biến đổi khí hậu, tương lai con sông lớn nhất Đông Nam Á quả là không mấy tươi sáng.

Trên đây là phân tích của giáo sư Úc Milton Osborne, trong một bài viết mang tựa đề : Sông Mêkông bị đe dọa (The Mekong River Under Threat), đăng trên tập san trên mạng Japan Focus ngày 11/01/2010. Bài viết này trích từ một công trình nghiên cứu của giáo sư Osborne được Viện Nghiên Cứu Úc Lowy institute công bố cuối năm 2009.

Trung Quốc là thủ phạm đầu tiên gây tác hại cho sông Mêkông

Cho đến đầu thập niên 1980, dòng Mêkông chảy từ Trung Quốc, Miến Điện, qua Thái Lan, Lào, Cam Bốt rồi xuống Việt Nam vẫn không thay đổi gì nhiều so với hơn một thế kỷ trước đó, khi bản đồ con sông được người Pháp hình thành. Thế nhưng, từ những năm 1980, đặc tính của con sông ngày càng bị thay đổi, dưới tác động đồng thời của hai vế trong chương trình ''phát triển'' mà Bắc Kinh tiến hành.

Trước hết là chủ trương phá ghềnh thác, nạo vét lòng sông để khai thông tuyến đường thủy đi từ Vân Nam (miền Nam Trung Quốc), xuống đến tận cảng sông Chiang Seen (miền Bắc Thái Lan). Hiện nay tuyến lưu thông này đã đi vào hoạt động, nhưng đến giờ này, theo giáo sư Osborne, ảnh hưởng của việc mở tuyến đường đường thủy này còn ở mức hạn chế.

Tác hại to lớn hơn đối với sông Mêkông tuy nhiên lại đến từ chương trình thứ hai của Bắc Kinh : xây dựng một loạt đập thủy điện ở vùng Vân Nam, trên thượng nguồn dòng sông. Tính đến đầu năm 2010 này, đã có ba con đập đi vào hoạt động và hai con đập cực lớn khác đang thi công, dự trù hoàn tất vào năm 2012 và 2017. Chưa hết, kế hoạch này còn bao gồm ít nhất hai đập thuỷ điện khác, và cho đến năm 2030, một hệ thống 7 con đập "bậc thềm" có thể xuất hiện tại vùng Vân Nam.

Theo giáo sư Osborne, không cần chờ đến năm 2030, với 5 con đập hiện hữu cũng như sắp hoàn thành, Trung Quốc sẽ có thể điều hoà dòng chảy con sông, giảm bớt lưu lượng nước vào mùa mưa hay nâng cao mức nước vào mùa khô.

Vấn đề là Bắc Kinh không hề tham khảo ý kiến các quốc gia hạ nguồn khi tiến hành xây đập. Cho dù hiện nay tác hại của các con đập đã hoạt động còn giới hạn, nhưng theo giáo sư Osborne, chỉ nội trong một chục năm tới đây, tình hình sẽ biến đổi theo chiều hướng xấu đi với việc toàn bộ năm con đập của Trung Quốc đi vào hoạt động.

Và cái giá phải trả cho môi trường sẽ còn tăng lên gấp bội nếu một số đập thủy điện khác ở hạ nguồn sông Mêkông được xây dựng.

Tác hại từ các con đập của Trung Quốc

Theo thẩm định của giáo sư Osborne, hệ thống các con đập bậc thềm của Trung Quốc trên thượng nguồn rốt cuộc sẽ tác hại nghiêm trọng đến hoạt động của sông Mêkông một khi các con đập này được dùng để kiểm soát lưu lượng của dòng nước.

- Thủy lưu dòng sông sẽ bị thay đổi khiến cho mùa nước lũ hàng năm không còn đến đúng vào thời điểm như trước, tác hại đến tập quán sinh sản và di cư của các loài tôm cá.

- Lượng phù sa đổ xuống vùng đồng bằng ở hạ lưu con sông cũng bị chận lại. 50% phù sa của sông Mêkông đến từ Trung Quốc. Theo các chuyên gia, phù sa cho đóng một vai trò quan trọng trong ngành sản xuất nông nghiệp tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long chẳng hạn. Phù sa cũng tác động đến sự di cư của loài cá.

- Phù sa bớt đi cũng làm gia tăng hiện tượng sói mòn hay sạt lở đất ở hai bên bờ sông.

Đối với giáo sư Milton Osborne, tác hại từ các con đập Trung Quốc đã đáng ngại rồi, nhưng ảnh hưởng của các đập nước trên dòng chảy chính của sông Mekong dưới hạ nguồn còn tai hại hơn rất nhiều.

Dù không chưa có có động tĩnh gì chắc chắn, nhưng trong vòng ba năm gần đây, các bên liên can đã ký biên bản ghi nhớ dự trù xây dựng khoảng 11 đập thủy điện : 7 ở Lào, 2 ở giữa Lào và Thái Lan, và 2 ở Cam Bốt.

Các con đập ở hạ nguồn sẽ triệt hạ nguồn cá nuôi dân

Các dự án này được các tập đoàn tư nhân và nhất là các công ty dựa vào Nhà nước Trung Quốc sẵn sàng tài trợ. Tình trạng bưng bít thông tin tại Lào và Cam Bốt khiến cho không ai có thể biết được là đập nào sẽ được xây dựng trước. Tuy nhiên công luận hiện đang rất quan ngại trước khả năng hai con đập được xây dựng : Don Sahong ở Nam Lào và Sambor ở Đông Bắc Cam Bốt. Lý do khiến mọi người lo ngại là một khi được hoàn thành, hai con đập này có thể ngăn chặn luồng di cư của cá vốn là nguồn cung cấp lương thực quan trọng cho dân Lào và Cam Bốt.

Đối với giáo sư Osborne, các con đập trên thượng nguồn có thể sẽ không tác hại nặng nề lên nguồn cá. Ngược lại, các công trình ở hạ nguồn, đặc biệt ở Don Sahong và Sambor thì sẽ ảnh hưởng rất lớn. Giơi chuyên gia hiện nay đều nhất trí cho rằng nếu hai con đập kể trên được xây dựng, thì đường di cư của cá sẽ bị ngăn chặn hoàn toàn mà không có phương cách nào giải quyết ổn thỏa được.

Tất cả các biện pháp dự trù cho đến nay để giúp cho cá vượt qua đập chắn như làm bậc thang, làm giỏ kéo lên hay đào kênh thay thế đều không thích hợp đối với chủng loại cá sinh trưởng trong dòng Mêkông, cũng như lượng sinh khối to lớn gắn liền với chu kỳ di cư của các loài cá đó.

Tại đập Pak Mun nằm trên một phụ lưu của sông Mekong ở Thái Lan, vào thập niên 1990, người ta đã thử sử dụng phương thức làm bậc thang cho cá vượt, nhưng thử nghiệm này đã thất bại.

Tại sao chính quyền Lào và Cam Bốt lại nghĩ đến việc xây dưng các con đập nói trên, bất chấp tác hại khôn kể đối với nguồn lương thực cho cư dân của họ ? Theo giáo sư Osborne, câu trả lời khá phức tạp và phải kết hợp nhiều yếu tố như sự thiếu hiểu biết của một số cấp chính quyền, thái độ sẵn sàng bác bỏ những thông tin hiện hữu, viện cớ rằng các nguồn tin này có thể không chính xác, hoặc là quan điểm cho là nghề cá đã "lỗi thời", trong lúc thuỷ điện là "hiện đại".

Trong trường hợp Cam Bốt, và đặc biệt là trường hợp đập Sambor, sự kiện một tập đoàn Trung Quốc muốn xây dựng công trình này có lẽ giải thích được vì sao thủ tướng Hun Sen sẵn sàng bật đèn xanh cho đề án. Ông Hun Sen không muốn làm phật lòng Trung Quốc, nước viện trợ hàng đầu cho Cam Bốt đồng thời là ''người bạn đáng tin cậy nhất'' của Phnom Penh.

Còn tại Lào, cũng theo giáo sư Osborne, việc đề xuất xây đập Don Sahong đa phần gắn với các lợi ích của gia tộc Siphandone đầy quyền thế tại nước này, mà khu vực miền Nam gần như là lãnh địa của họ.

Trong số các địa điểm được chọn để xây đập thuỷ điện, có lẽ Don Sahong là nơi được nghiên cứu kỹ luỡng nhất trên bình diện nghề cá. Vì thế có thể nói không sợ sai lầm là đề án này nếu được xúc tiến, sẽ tàn phá hệ thống di cư hàng năm của các loài cá, vừa ngược dòng, vừa xuôi dòng.

Tác hại từ đập nước cộng hưởng với tác động của biến đổi khí hậu

Theo giáo sư Osborne, các mối lo ngại về tác hại đến từ các đập thủy điện tại Trung Quốc hay dưới hạ nguồn sông Mêkông lại càng gia tăng khi người ta xét đến hiện tượng biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng nặng nề lên các quốc gia thuộc vùng lưu vực. Các công trình nghiên cứu đều gợi lên các thách thức về mặt sinh thái đối với dòng Mêkông.

Cho đến gần đây, mối lo ngại tập trung trên hiện tượng sông băng trên đỉnh Himalaya tan nhanh, ảnh hưởng đến lưu lượng dòng Mêkông bắt nguồn từ đấy. Thế nhưng, một số nghiên cứu gần đây đã chú tâm đến một mối đe dọa gần gũi hơn : hiện tượng nước biển dâng lên, nhất là khi những mảng lớn của Đông bằng sông Cửu Long tại Việt Nam bị nguy cơ ngập lụt.

Đến nay, chưa ai có thể xác định rõ là mối đe dọa do nước biển dâng sẽ tắc động như thế nào đến các yếu tố khác bắt nguồn từ biến đổi khí hậu, như sự kiện mưa lũ ngày càng nhiều tạo ra ngập lụt trong mùa mưa chẳng hạn. Thế nhưng, các công trình nghiên cứu đang cho thấy khả năng lượng mưa gia tăng, khiến cho lũ lụt xẩy ra ngày càng nhiều trong tương lai, có thể là từ nay đến năm 2030.

24 thg 12, 2009

Nhiếp ảnh Việt ngày càng cũ mòn

Nhìn vào các cuộc thi ảnh trong nước với sự bảo trợ của Hội NSNAVN thấy rõ ràng sự đi xuống của chất lượng ảnh. Sự sáng tạo có thể nói là “dậm chân tại chỗ” . Các chủ đề, đề tài gần như không thay đổi cho dù đã nhiều năm trôi qua: Việt Nam, đất nước, con người.

Hội nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam (NSNAVN)-Vietnam Asociation of Photographic Artists (VAPA), chính thức thành lập tháng 12/1965. Ngày 8-9/12/1965, Đại hội lần thứ I Hội NSNAVN được tổ chức tại Hà Nội với 71 thành viên sáng lập. Ngày 22-24/12/2009, Đại hội nhiệm kỳ thứ 7 Hội NSNAVN được tổ chức tại Hà Nội với trên 500 đại biểu thay mặt cho hơn 800 NSNA trong toàn quốc.

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam - Anh là ai?

Hội NSNAV ban đầu là Đoàn nhiếp ảnh thuộc Hội Văn nghệ VN được thành lập ở chiến khu Việt Bắc thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ngày 15/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành sắc lệnh 147-SL, thành lập "Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh VN”. Đây chính là đánh dấu sự có mặt của những người làm nghề nhiếp ảnh, trong đó có những NSNAVN bước vào đời sống văn hóa nghệ thuật, góp phần vào công cuộc kháng chiến và kiến quốc của đất nước.

Sau Hiệp định Geneve năm 1954, các NSNAVN từ nhiều nguồn đã chung tay đoàn kết phục vụ sự nghiệp chung của đất nước, xây dựng XHCN ở Miền Bắc và cùng đồng bào Miền Nam đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.

Tháng 2/1957, đại hội Văn nghệ toàn quốc họp tại Hà Nội, Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật VN ra đời, trong đó có nhiếp ảnh, lúc đó là “Ban liên lạc NSNAVN”. Và với nhiều hoạt động tích cực đóng góp cho nền nghệ thuật nhiếp ảnh VN, họ đã khẳng định được sự có mặt và vị trí đối với nền văn hóa nghệ thuật VN. Tháng 12/1965, Hội NSNAVN được thành lập.

Hình minh họa. Tên ảnh: Don Quảng Ngãi (tác giả: Nguyễn Văn Đảnh).
Nguồn ảnh: suutamvagioithieu.com

Kể từ đó, qua 6 kỳ đại hội vào nhiều thời điểm khác nhau trong diễn trình lịch sử của đất nước, các NSNAVN đã đồng hành cùng nhân dân và dân tộc. Thời kỳ chiến tranh, NSNAVN cũng là chiến sĩ, không chỉ làm tốt nhiệm vụ người nghệ sĩ-chiến sĩ với tổ quốc mà còn góp phần chuyển những thông điệp lên án chiến tranh phi nghĩa, khơi gợi tinh thần yêu chuộng hòa bình của bạn bè 5 châu 4 biển ủng hộ cuộc kháng chiến giành độc lập và tự do, thống nhất VN.

Thời kỳ hòa bình, họ cũng đã góp phần làm đẹp, làm phong phú thêm cuộc sống tinh thần của xã hội, hơn nữa còn góp phần đưa hình ảnh VN ra với bạn bè quốc tế giới thiệu những vẻ đẹp của đất nước, con người, văn hóa VN… Những giải thưởng ảnh trong nước và quốc tế mà NSNAVN đọat được khó đếm hết. Đó cũng là minh chứng cho sự trưởng thành và vị trí của NSNAVN trong đời sống văn hóa nghệ thuật.

Nhưng không thể tự ru ngủ thỏa mãn hay quá tự tin vào những gì mà NSNAVN đạt được qua các giải thưởng, nhất là từ năm 2005 - nhiệm kỳ 6 của Hội NSNAVN đến nay, để nói rằng nghệ thuật nhiếp ảnh VN đang sánh vai với các quốc gia phát triển khác.

Nhìn vào các cuộc thi ảnh trong nước với sự bảo trợ của Hội NSNAVN thấy rõ ràng sự đi xuống của chất lượng ảnh. Sự sáng tạo có thể nói là “dậm chân tại chỗ” . Các chủ đề, đề tài gần như không hề thay đổi cho dù đã nhiều năm trôi qua: Việt Nam, đất nước, con người.

Ảnh đoạt giải vẫn cứ nhà máy, cánh đồng, bà già, người dân tộc, ruộng bậc thang, những cảnh đẹp thiên nhiên bất di bất dịch…. Chỉ khác là ảnh ngày càng được photoshop kỹ càng, nhìn bắt mắt hơn, nhưng giả tạo và vô lý cũng nhiều hơn... Quan trọng nhất là ảnh đoạt giải ít được ai nhớ.

Nhìn vào các giải thưởng quốc tế, thì hầu như các NSNAVN chỉ loanh quanh với các cuộc thi do FIAP- Liên đòan nhiếp ảnh nghệ thuật quốc tế, hay PSA- Hội Nhiếp ảnh Mỹ bảo trợ. Và ảnh mang đi thi, phần lớn là sự lặp lại, ít ảnh mới, cho nên nếu nhìn vào số lượng giải thưởng thì nhiều nhưng số ảnh thì không bao nhiêu - 1 ảnh có thể đạt vài chục giải thưởng ảnh do FIAP bảo trợ.

Còn như ở các cuộc thi của những tập đoàn về nghệ thuật nhiếp ảnh, các bảo tàng nghệ thuật danh tiếng quốc tế… bảo trợ thì chỉ thường thấy có NSNA quốc tịch ngoại gốc Việt –Việt kiều tham gia, gần đây nhất có một vài NSNAVN đã bắt đầu tiếp cận, đạt giải thưởng, nhưng chưa đạt được thành tích cao như mong muốn.

Nếu như trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Mỹ, những NSNAVN đã tạo dựng được vị trí của nhiếp ảnh VN đối với thế giới, thì sau 35 năm hòa bình, vị trí của nhiếp ảnh VN thật sự vẫn chưa phải là một điểm được chú ý trong bản đồ nghệ thuật nhiếp ảnh thế giới. Vì nếu tính những tác phẩm ảnh được lưu trong các bảo tàng nghệ thuật quốc tế danh tiếng, hay những bức ảnh mà cả thế giới phải sững sờ, run rẩy hay ám ảnh…- một trong tiêu chí đánh giá sự thành công và phát triển của nghệ thuật nhiếp ảnh, thì quả thật VN còn vắng mặt.

Phải chăng NSNAVN, cho dù đã được trang bị về kỹ thuật không thua gì các NSNA quốc tế, nhưng chưa đủ khả năng, hay tầm để tiếp cận với nghệ thuật nhiếp ảnh thế giới, khi mà họ có nhiều dòng, nhiều thể lọai, nhiều phong cách, nhiều ý tưởng phong phú… để sáng tạo và thể hiện thành tác phẩm nghệ thuật?

Hay NSNAVN không đủ dũng cảm để thay đổi những gì đã có, đã đạt được, mà những điều đó như là con đường có sẵn, không dám mở một con đường mới vì sợ mất danh tiếng? Hay đây là một trong những tồn tại đáng báo động của NSNAVN, họ đã cùn, mòn, lập lại vô hồn những thứ có sẵn, sự sáng tạo bế tắc?

Chưa kể có nhiều NSNAVN sáng tạo nghệ thuật không cần thực tế cuộc sống, có khi chỉ cần trong phòng và một máy vi tính với phần mềm photoshop, thậm chí chỉ cần “một cái khay” như của một NSNAVN vừa được FIAP phong tước cao nhất.

Đổi mới để có chất lượng

“Đổi mới & hội nhập” là tiêu chí chung của rất nhiều ngành, Hội NSNAVN cũng không thể khác được, nếu như muốn có một nhiệm kỳ mới hoạt động thật sự hiệu quả cả về chất lượng nghệ thuật và ảnh hưởng xã hội từ tác phẩm nhiếp ảnh nghệ thuật.

Bầu được ban lãnh đạo mới lấy tiêu chuẩn chính trị, liêm chính, chí công vô tư, có trình độ quản lý, trình độ chuyên môn tốt, có uy tín và khả năng đoàn kết, tập họp hội viên, có số lượng và cơ cấu thích hợp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Hội trong những năm tới. Thực hiện tốt việc chuyển giao thế hệ lãnh đạo hội - Mục đích, yêu cầu & phương châm đại hội (- Nguồn vapa.org.vn)

Phải chăng đây sẽ là một nhiệm kỳ với một ban lãnh đạo Hội NSNAVN trẻ hóa? Liệu họ có được sự đồng thuận, gắn kết, uy tín để lãnh đạo Hội nhiệm kỳ mới đổi mới thật sự? Đây là câu hỏi mà cũng là hy vọng.

"Nhiệm vụ trung tâm là tiếp tục phấn đấu tạo ra nhiều tác phẩm nhiếp ảnh có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, giàu tính nhân văn, tiếp thu truyền thống dân tộc vá tinh hoa văn hóa nhân loại, đóng góp tích cực vào việc xây dựng một nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người mới VN;

Thực hiện tốt phương châm lấy tác phẩm nhiếp ảnh tốt, hoạt động nhiếp ảnh lành mạnh đẩy lùi những họat động văn hóa, văn nghệ tiêu cực đồi trụy, phi nhân tính, đẩy mạnh sáng tác, nghiên cứu lý luận phê bình, quảng bá tác phẩm nhiếp ảnh tới công chúng trong nước và nước ngoài…"- Mục đích, yêu cầu và phương châm đại hội -(Nguồn vapa.org.vn)

Nhìn vào nhiệm vụ và mục tiêu này, vẫn chưa thấy có gì khác biệt với sự chung chung, lặp lại như các nhiệm kỳ trước trong hoạt động nghệ thuật.

Mong rằng kết thúc đại hội sẽ có những tín hiệu vui cho các NSNAVN trong họat động sáng tạo nghệ thuật.
Tác giả: Hoài Hương
http://tuanvietnam.net/2009-12-23-nhiep-anh-viet-ngay-cang-cu-mon

11 thg 12, 2009

Anh chụp cuối năm 2009









16 thg 11, 2009

Chùm ảnh ở đầm sen


Nhấn vào ảnh dưới đây để xem toàn Album :

Photobucket

9 thg 9, 2009

Chuyện nhỏ nhưng ý nghĩa không nhỏ về MAIL

Hôm nọ một đồng nghiệp người Úc với điệu bộ hớt hải đến hỏi tôi: “Này, ông có biết là giáo sư N mới bị mất việc không?” Tôi cũng ngạc nhiên khi nghe “hung tin”, bởi vì giáo sư N (với thâm niên công tác tại một trường đại học lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh hơn 30 năm qua) vẫn liên lạc và trao đổi với tôi khá thường xuyên, nếu anh mất việc hay nghỉ hưu thì chắc chắn anh ấy báo cho tôi biết.

Tôi tò mò hỏi vị đồng nghiệp rằng làm sao ông biết, thì ông cầm bản in email của giáo sư N gửi cho ông và nói: “Đây này, ông ấy gửi thư cho tôi qua địa chỉ yahoo, chứ không qua địa chỉ của trường nữa!” Tôi hiểu ra câu chuyện. Thấy ngại phải giải thích đầu đuôi câu chuyện mà tôi cho rằng chẳng hay ho gì, nên chỉ nói ngắn gọn rằng giáo sư N vẫn còn làm việc và có lẽ vì một lí do nào đó nên phải sử dụng địa chỉ email công cộng.

Cái “lí do gì đó” là điều mà anh N đã từng phàn nàn bấy lâu nay về hệ thống internet của trường đại học không đáng tin cậy, quá chập chờn. Đã nhiều lần, anh không thể nhận email từ đồng nghiệp nước ngoài gửi đến chỉ vì hệ thống internet của trường bị chết hay có sự cố. Có khi là những email có nhiều thông tin chuyên môn quan trọng. Do đó, anh N quyết định sử dụng địa chỉ email từ yahoo, và điều này đã gây ra không ít hiểu lầm ở đồng nghiệp và bè bạn nước ngoài.

Ở các nước Âu Mĩ hay ngay cả các nước trong vùng như Thái Lan, Mã Lai và Singapore, các giáo sư và nhân viên làm việc trong đại học, các cơ quan chính phủ, các doanh nghiệp chính thức, v.v… đều được cung cấp địa chỉ email chính thức. Chỉ cần nhìn vào địa chỉ email của người gửi, người nhận có thể biết được cơ quan người đó đang công tác ở đâu, và nếu cần, có thể tìm hiểu chức vụ của người gửi. Chẳng hạn như chỉ nhìn vào email với địa chỉ peter.smith@unsw.edu.au (chỉ là ví dụ), người ta có thể biết người gửi là Peter Smith đang công tác tại cơ quan có địa chỉ internet là www.unsw.edu.au và nếu truy nhập vào website này sẽ thấy đây là trường Đại học New South Wales (Sydney, Úc). Nếu cần tìm hiểu chức vụ của người gửi, chỉ cần truy nhập website www.unsw.edu.au và nhấn nút “search” (tìm) thì có thể biết thêm Peter Smith đang làm việc tại khoa nào, chức vụ gì, và lĩnh vực chuyên môn là gì.

Tuy nhiên, các website lớn như yahoo.com, hotmail.com (của tập đoàn Microsoft), gmail.com (của Google), v.v… cũng cung cấp những hộp thư điện thử miễn phí, nhưng kèm theo vài điều kiện mang tính pháp lí tương đối nhỏ. Vì là những nơi công cộng, cho nên bất cứ ai cũng có thể đăng kí cho mình một hộp thư và có thể lấy bất cứ tên gì trong địa chỉ email, kể cả những cái tên quái gở. Trong thực tế, không ít người có đến hàng chục địa chỉ email công cộng để sử dụng cho các mục tiêu [có khi bất chính] khác nhau. Do đó, nhìn địa chỉ của người gửi như petersmith@yahoo.com hay peter_smith@hotmai.com thì không thể biết người gửi có thật sự là Peter Smith hay không, và không biết tư cách của người gửi ra sao. Nếu ông Nguyễn Vạn Phú của Thời báo Kinh tế Sài Gòn liên lạc với cộng tác viên nước ngoài qua hộp thư yahoo thì chắc chắn người nhận sẽ phải rất dè dặt không biết đây là ông Nguyễn Vạn Phú nào.

Địa chỉ email chính thức do đó là một “biểu tượng” về uy tín và địa vị của người gửi. Dù biết rằng nhận xét đó có lẽ nói hơi quá lời, nhưng đó là một thực tế. Thử tưởng tượng nếu tổng thống Bush sử dụng địa chỉ email từ yahoo hay hotmail mà không từ whitehouse.gov thì người ta sẽ nghĩ sao. Nếu một luật sư liên lạc với khách hàng mà sử dụng địa chỉ email từ các địa chỉ công cộng thì chắc chắn chẳng thân chủ nào dám làm ăn với văn phòng luật sư đó. Nếu một tập đoàn đòi đầu từ 30 tỉ USD mà không có đến một website chính thức thì nói ai nghe.

Người viết bài này là thành viên của một số tập san y học ở Mĩ, và biết rằng chính sách của tập san là nếu tác giả gửi bài từ các địa chỉ công cộng thì sẽ được yêu cầu gửi thêm bằng đường bưu điện để có thể xác nhận chắc chắn danh tính của người gửi. Thành ra, không ngạc nhiên chút nào khi một giáo sư mà liên lạc với đồng nghiệp nước ngoài qua địa chỉ email công cộng như yahoo.com hay hotmail.com thì người nhận cũng dè dặt không biết có phải thật sự là đồng nghiệp mình hay là ai đó giả mạo thư.

Một điều đáng buồn là rất nhiều email mà tôi nhận được từ bạn bè và đồng nghiệp từ Việt Nam là xuất phát từ các địa chỉ công cộng. Những người sử dụng địa chỉ công cộng không chỉ giới hạn trong sinh viên, học sinh, mà còn là những hiệu trưởng và phó hiệu trưởng đại học, giáo sư đại học, vụ trưởng và thứ trưởng các bộ (kể cả các bộ được xem là “tứ trụ” của quốc gia), v.v… Cầm một tấm danh thiếp của một quan chức với đủ thứ học vị, học hàm, và li ti những chức vụ quan trọng, nhưng kèm theo địa chỉ email công cộng, tôi cảm thấy lúng túng. Nếu tôi giới thiệu một quan chức với người nước ngoài với một địa chỉ email như thế, họ sẽ nghĩ gì? Chắc chắn họ sẽ ngạc nhiên. Một đại học lớn mà không có website chính thức để hiệu trưởng phải sử dụng “email chùa”! Một bộ giáo dục hay bộ ngoại giao đại diện một quốc gia mà chẳng lẽ không có một website để các quan chức cao cấp phải sử dụng địa chỉ email công cộng ư? Chuyện khó tin quá!

Thật ra, các đại học và bộ ở nước ta đều có website. Nhưng có website là một chuyện, sử dụng website cho việc gì là một chuyện khác. Một website hữu dụng phải là một trung tâm thông tin và trung tâm cung cấp dịch vụ thông tin. Lấy ví vụ các đại học bên Mĩ, Âu châu hay Úc, website của họ không chỉ cung cấp thông tin về chương trình đào tạo, thành tựu nghiên cứu khoa học, mà còn là một thư viện điện tử, một trung tâm cung cấp dịch vụ internet cho các giáo sư và nhân viên của trường, kể cả dịch vụ cơ bản nhất là email.

Nhưng thấy gì qua các website của các đại học và bộ ở nước ta? Có thể nói ngay rằng phần lớn (không phải tất cả) các website hình như lập ra cho có, chứ không mang chức năng cung cấp thông tin thiết thực về hoạt động của cơ quan. Thật ra, rất nhiều website cung cấp những thông tin mà đồng nghiệp nước ngoài không muốn đọc (như cơ cấu tổ chức của khoa, ban, ngành), nhưng những thông tin họ cần biết thì lại không có trong các website (như thông tin về công trình nghiên cứu, bài giảng, và chương trình đào tạo)! Thậm chí, có website chỉ có thể mô tả là website chết, vì không có cập nhật hóa. Lại có nhiều website tuy mang tiếng là cơ quan thông tin chính thức của bộ hay trường đại học, nhưng lại được thiết kế thiếu tính nghiêm túc, mà tràn đầy với nhiều hình ảnh màu mè, những hoạt cảnh nhảy nhót, cứ như là những website của các công ti thương mại hay các website do học sinh tiểu học thiết kế!

Hệ quả là các quan chức, kể cả quan chức cao cấp, không sử dụng email từ website của cơ quan mình. Một website của một trường đại học hay bộ mà không cung cấp cho cán bộ, nhân viên của mình một địa chỉ email chính thức thì chỉ có thể nói là vô dụng, là một sự bôi bác cho trình độ công nghệ thông tin nước nhà.

Internet và email đã và đang trở thành một phương tiện liên lạc cực kì hữu hiệu và càng ngày làm cho cộng đồng thế giới thu nhỏ lại hơn và gần với nhau hơn. Nước ta đang trên đường hội nhập quốc tế, và các quan chức nước ta là những người đại diện cho quốc gia Việt Nam cần phải được trang bị với những phương tiện liên lạc cơ bản như email, nhưng phải là địa chỉ email chính thức từ các website Việt Nam. Email là chuyện quá nhỏ, nhưng ý nghĩa của nó không nhỏ chút nào, nhất là đối với các đối tác nước ngoài, bởi vì nó phản ảnh một phần bộ mặt và sỉ diện quốc gia.
Posted by Nguyễn Văn Tuấn

Học giả Nguyễn Hiến Lê

Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) sinh tại Hà Nội, nguyên quán ở Quảng Oai, Sơn Tây (Hà Tây). Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Công chánh (1934), được điều vào Nam Bộ công tác. ở đây ông đã viết văn và nghiên cứu văn hoá. Là tác giả và dịch giả của 122 tác phẩm, 250 bài báo và 23 đề tựu cho công trình các bạn bè, Nguyễn Hiến Lê là một tấm gương lao động miệt mài và có khoa học trong lĩnh vực truyền bá văn hoá.

Cuối năm 1999, một con đường nhỏ, dài khoảng 340 mét, rộng 12 mét, nằm ở phường 13, quận Tân Bình, đã vinh dự được mang tên Nguyễn Hiến Lê, một nhà văn hóa.

Ông sinh ngày thứ Hai, 08-01-1912, tuy nhiên giấy khai sinh ghi muộn hơn ba tháng. Theo âm lịch, ông sinh ngày 20 - 11, nhằm năm Tân Hợi, tháng Tân Sửu, ngày Quý Mùi, giờ Tân Dậu. Nghiên cứu khoa tử vi, ông nhận xét rằng người nào tuổi về phần can trúng nhằm bốn chữ Canh, Tân, Mậu, Kỷ thường có nỗi khổ riêng ẩn giấu nơi lòng. Phải chăng ông đã nghiệm từ chính đời mình? và ông miệt mài viết văn, làm sách có lẽ cũng để cho phần nào vơi đi nỗi niềm ấy?

Ông chào đời tại nhà số 4, ngõ Phất Lộc, Hà Nội, cái ngõ đã đi vào bộ tranh Phố Phái bất hủ của danh họa Bùi Xuân Phái, và Nguyễn Hiến Lê, con người đã cất tiếng khóc chào đời ở khu phố cổ đó, cũng đã đi vào thế giới vĩnh hằng của những danh nhân bất hủ.

Sinh ở ngõ Phất Lộc nên ông lấy hiệu Lộc Đình, và bác Ba của ông chỉ gọi ông bằng hiệu Lộc Đình. Người bác này hiệu Phương Khê, lấy theo tên làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây, cũng là quê nội, nơi ngôi mộ cụ tổ sáu đời của Nguyễn Hiến Lê đã kết theo kiểu "bút gối sau đầu". Các thầy địa lý bảo vì vậy con cháu tuy học giỏi nhưng thi cử lận đận. Hư thực thế nào chẳng biết, có điều ông nội Nguyễn Hiến Lê chỉ đỗ Tú tài.

Ông Tú có bốn con trai. Con thứ hai tên Cổn, hiệu Đạo Quýnh, học giỏi, không đi thi, làm hương sư dạy học trong làng. Cũng học giỏi mà ghét thi cử còn có người con cả, tên Nhuận, hiệu Tùng Hương, không chịu lấy vợ, gia nhập phong trào Đông kinh Nghĩa thục, rồi trốn qua Trung Quốc theo nhà cách mạng Phan Bội Châu, bặt luôn tin tức. Con thứ ba tên Côn, hiệu Phương Khê, văn chương thi phú giỏi, nhưng rớt một khóa thi Hương thì bỏ luôn, gia nhập Đông kinh Nghĩa thục, cưới vợ là cô Năm, con gái nhà cách mạng Lương Văn Can, thủ trưởng Nghĩa thục.

Khi Nghĩa thục bị thực dân Pháp đàn áp ở Hà Nội, ông Phương Khê thoát vào Nam. Sau này viết về Đông kinh Nghĩa thục (1956) Nguyễn Hiến Lê đã không giấu tình cảm của ông đối với hai người bác đáng kính.

Thân phụ Nguyễn Hiến Lê là con út, tên Bí, hiệu Đặc Như, có chút tính nghệ sĩ, ham chơi, học kém hơn các anh, dạy con rất nghiêm khắc. Nguyễn Hiến Lê là trưởng nam, sau ông còn một em trai, hai em gái. Trước ngày Nguyễn Hiến Lê chào đời, ông Đặc Như nằm mộng, thấy cụ già râu tóc bạc phơ, chống gậy đến trao cho quả lê, vì thế đặt tên con là Hiến Lê (hiến tặng quả lê). Mẹ Nguyễn Hiến Lê tên Sâm, sớm mồ côi cha, mẹ bà làm lược nuôi con. Bà Sâm không biết chữ, rất đảm đang, biết dạy con. Bà và người anh chồng (ông Phương Khê) đã sớm ảnh hưởng rất nhiều đối với sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê sau này.

Nguyễn Hiến Lê lên mười thì cha mất sớm, ba mươi bốn tuổi. Nguyễn Hiến Lê đang học lớp Dự bị (Préparatoire) trường Yên Phụ, sức học trung bình. Cảnh nhà khó khăn, mẹ ông đầu tắt mặt tối buôn bán trái cây ở chợ Đồng Xuân, Hà Nội, nhẫn nại nuôi bốn con nhỏ dại và mẹ già. Trên tạp chí Mai số 29, ngày 10-9-1961, Nguyễn Hiến Lê không giấu giếm cái nghèo của mẹ con ông: "Tôi sinh trong một gia đình nghèo, thường bị họ hàng khinh rẻ, ức hiếp, lắm lúc chúng tôi tủi nhục đến rớt nước mắt."(1)

Thiếu người kèm cặp, Nguyễn Hiến Lê lêu lổng, Ở lại hai năm rưỡi ở lớp Dự bị mới lên nổi lớp Sơ đẳng. Từ lớp Nhì (cours Moyen) bắt đầu chăm học, rồi đứng đầu lớp Nhất (cours Supérieur). Cậu học trò giỏi đó đã vượt qua những ngày đói lạnh ấu thơ như thế nào? Trên tạp chí Mai, số 39, ngày 10-02-1962, Nguyễn Hiến Lê tâm sự: "Tôi đã qua cái cảnh, buổi sáng rét căm căm, gió bấc thổi lồng lộng, bận có hai cái áo mỏng, đi mua một củ khoai lang một trinh hoặc một khúc khoai mì một xu rồi đi chân đất dưới mưa phùn để tới trường cách nhà trên hai cây số, ngồi học ba bốn giờ rồi lại đi bộ về nhà. Có lúc đói quá, lạnh quá, không nghe được lời giảng của thầy nữa. Giá hồi đó tôi có thêm một xu mỗi ngày để ăn và vài ba tháng có thêm được vài hào để mua sách ..."(2).

Năm 1925, Nguyễn Hiến Lê thi vô trường Bưởi (Collège du Protectorat), nhưng rớt; năm sau đậu. Học tới đệ Tứ niên, thường nhất lớp. ở trường Bưởi, ông được học với các bậc thầy tên tuổi đáng kính như: Dương Quảng Hàm, tác giả Việt Nam Văn học Sử yếu, Việt Nam Thi văn Hợp tuyển; Thẩm Quỳnh, dịch giả Kinh Thư; Nguyễn Gia Tường, anh của danh họa Nguyễn Gia Trí... Lần lượt, Nguyễn Hiến Lê thi đậu Cao đẳng Tiểu học (Diplôme d'Etudes primaires supérieures franco indigène); thi vào trường Cao đẳng Công chánh đậu thủ khoa, được học nội trú và hàng tháng lãnh sáu đồng rưỡi học bổng. Thi tốt nghiệp tháng 6-1934, đậu hạng sáu. Tháng 10, được bổ vào làm việc trong Nam. Sau này, khoảng tháng 02-1944 (tháng Giêng Giáp Thân), ông có trở ra Bắc thi vô ngạch kỹ sư công chánh, nhưng không đậu. Sở Thủy lợi ở Long Xuyên giao ông công tác đo mực nước ở miền Tây.

Làm xong việc, ông còn rất nhiều thì giờ rảnh. Không biết làm chi cho hết ngày, ông phải tìm đủ mọi sách để đọc, chép nhật ký, viết hồi ký cho đỡ nhớ quê nhà miền Bắc xa xôi. Ông kể: "Cầm bút lúc nào là tâm hồn tôi rung động nhè nhẹ lúc ấy, như được nghe một bản nhạc êm đềm, bản nhạc của cố hương và dĩ vãng. "Viết hồi ký để ôn lại cái vui đã qua thì viết nhật ký để ghi lại cái vui hiện tại (...). "Tôi cứ nhớ đâu chép đó, viết bừa đi, chẳng cần bố cục, cũng chẳng sửa, viết có khi quên giờ giấc, và đặt cây bút xuống, nhìn lên bờ thì làng xóm đã lờ mờ sau làn sương mỏng."(3).

Đọc sách và viết say mê như vậy vẫn dư thời gian, ông xoay ra tự học chữ Hán. Lúc nhỏ ông được cha dạy vỡ lòng một ít, chừng năm rưỡi. Hè 1928, ông vừa học xong năm thứ Nhất trường Bưởi, được mẹ đưa về quê nội ở Phương Khê học chữ Hán với bác Hai. Ông học hai kỳ hè, mỗi kỳ khoảng hai tháng, mỗi ngày được bác kèm cho chừng một giờ.

Cuối đời, khi đã nổi danh là dịch giả uy tín, trong số trên một trăm hai mươi đầu sách, có trên hai mươi công trình giá trị viết riêng về văn, triết, sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê không khỏi chạnh lòng nghĩ nhớ đến bà mẹ quê mùa mù chữ của mình: "Ngay năm đầu tôi học trường Bưởi, mẹ tôi đã có một quyết định, khiến đời tôi sau này theo một hướng mà chính người và các bác tôi không ai có thể ngờ được. Ngày nay càng nghĩ lại tôi càng thấy cái công lớn của người và càng không hiểu đã có gì xui khiến cho người nảy ra quyết định đó."(4).

Tốt nghiệp Cao đẳng Công chánh (tháng 6-1934), trong suốt năm tháng chờ được bổ nhiệm công tác, ông tự học chữ Hán chứ không về làng Phương Khê nữa vì bác Hai đã qua đời: "Mỗi ngày, buổi chiều, tôi lại Thư viện Trung ương ở đường Trường Thi, mượn bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh mới xuất bản hai năm trước (1932) rồi bắt đầu từ chữ A, tìm những từ và từ ngữ nào mà tôi đoán là thường dùng mà chưa biết thì tôi chép lại trong một tập vở, mỗi ngày chép độ ba bốn chục từ; tôi lại mượn cuốn Grammaire Chinoise của Cordier cũng chép lại những điều quan trọng. Tôi ở thư viện từ ba đến năm, sáu giờ chiều. Tối hôm đó và sáng hôm sau, tôi học hết những trang ghi đó; rồi chiều lại ra thư viện chép bài học sau. Mỗi tuần tôi nghỉ một ngày để ôn lại những bài trong tuần..."(5).

Sau ba tháng, học được chừng ba ngàn từ, ông mượn được bộ Tam Quốc chí in thạch bản, có lời bình của Kim Thánh Thán. Vì đã biết cốt chuyện rồi, ông đọc không quá khó, lúc đầu chậm, sau quen, và rất thích lời bình của Kim. Đọc vừa xong Tam Quốc chí ông nhận được giấy bổ vào Nam công tác.

Năm 1937 (hay 1938?), ông về Sài Gòn làm việc. Mỗi ngày rảnh được buổi tối và mỗi tuần rảnh được cả ngày Chủ nhật. Không biết nhậu, ghét đánh bài, chẳng thích đánh cờ, học đàn vài tháng thì bỏ, không ưa tụ tập bạn bè tán gẫu; làm sao cho qua hết giờ nhàn rỗi? Chỉ còn cách tự học và đọc sách mà thôi. Ông luôn luôn đọc sách với cây viết chì. Chỗ nào hay ông đánh dấu + ở lề; chỗ dở đánh dấu –. Các ý quan trọng thì ghi tóm tắt kèm với số trang; mà ghi ngay ở các trang bỏ trắng ở đầu hay cuối sách (page de garde), giống như làm index hay mục lục chi tiết cho riêng ông tham khảo khi cần.

Sau 1945 , ông bỏ luôn nghề công chức, về làng Tân Thạnh, ở khoảng giữa Hồng Ngự và Cao Lãnh, học đông y và chữ Hán với bác Ba Phương Khê (tháng 10-1945). Năm 1950, nể lời bạn đã ba lần khẩn khoản mời, ông ra dạy học tại trường trung học công lập Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, dạy đủ các môn từ khoa học tới sinh ngữ. Lúc này ông bắt đầu viết sách. Tổ tiên ông hai bên nội ngoại đều không ai viết văn. Bản thân ông lúc đầu lại vào ngành kỹ thuật. Trước năm 1950 ông không có ý định viết sách, không tính tới chuyện sống hoàn toàn bằng nghề văn. Tác phẩm đầu tiên được xuất bản là Tổ chức công việc theo khoa học.

Dạy ba niên khóa, ông xin thôi và đơn được chấp thuận (tháng 9-1953). Sau này về Sài Gòn, được một số trường mời đến dạy, ông cương quyết từ chối, vì muốn dành hết thời giờ cho việc tự học, biên khảo, dịch thuật, nghiên cứu... Không làm nhà giáo trên bục giảng, ông vẫn là nhà giáo dục có tâm huyết và lương tri. Một số sách do ông soạn hoặc dịch đã hướng dẫn nhiều người trên đường học vấn, như: Bí quyết thi đậu các bằng cấp trung học; Kim chỉ nam của học sinh; Luyện văn; Muốn giỏi toán hình học phẳng; Muốn giỏi toán hình học không gian; Muốn giỏi toán đại số; Tự học một nhu cầu thời đại, v.v...

Nặng lòng với giáo dục, năm 1962 ông viết loạt năm bài Cải tổ nền giáo dục Việt Nam.

Năm 1972, ba bài Nguy cơ xuất não bàn biện pháp giữ nhân tài du học nước ngoài về. Tất cả đều đăng tạp chí Bách khoa. Năm 1961 trên Bách khoa, và năm 1966 trên Tin văn, ông kịch liệt đả kích Bộ Giáo dục và Viện Đại học Sài Gòn không chịu dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ ở đại học. Ngoài ra, ông còn hàng trăm đề tài giáo dục khác mà từ đầu những năm 50 cho tới 1975, đã đăng các báo: Bách khoa; Đại học; Giáo dục phổ thông; Mai; Tân văn; Tin văn; Văn; Văn hóa nguyệt san, v.v...

Nguyễn Hiến Lê dịch nhiều thể loại sách, nghiên cứu, khoa học, văn chương... tiếng Pháp, tiếng Anh, và đặc biệt là chữ Hán. Bản dịch tiếng Pháp đầu tay của ông là Huấn luyện tình cảm (của P. Félix Thomas); bản dịch tiếng Anh đầu tay là Đắc nhân tâm (của Dale Carnegie). Yêu mến và sành tiếng Việt, giỏi cả Hán, Pháp, Anh, ở cương vị một người dịch, ông quan niệm: "... tôi nghĩ rằng văn thơ cũng như nhạc, dịch một bài văn, một bài thơ, cũng như diễn một bản nhạc, cũng là làm công việc sáng tạo mặc dầu dịch rất sát không thêm bớt. Dịch giả – nếu có tài – cũng là một nghệ sĩ, và mỗi bản dịch cũng là một nghệ phẩm. Không một bản dịch nào đúng hẳn với nguyên tác; bản dịch nào cũng mang ít nhiều cá tính, tài năng của người dịch, tinh thần của ngôn ngữ người dịch, cũng để lộ tâm tư của người dịch, cái không khí của thời đại người dịch."(6).

Đầu năm 1971, tính theo tuổi ta thì ông sắp vào cái ngưỡng mà Đỗ Phủ gọi là cổ lai hi. Nhà thơ Bàng Bá Lân hỏi xem ông đã định gác bút nghỉ viết chưa. Thư ông trả lời: "Viết đều đều trên hai chục năm rồi, tôi muốn nghỉ lắm chứ, nhưng còn chiến tranh thì không thể nghỉ được (...) Còn chiến tranh thì làm sao vui được? Chẳng những việc nước không yên mà việc nhà của chúng ta cũng không yên, không thể quyết định một chút gì trong tương lai cả, ngay đến đời sống của mình cũng không có gì bảo đảm. Sở dĩ tôi phải cặm cụi viết một phần lớn là để tạm quên những ưu tư đó đi"(7).

Đối với Nguyễn Hiến Lê, ngoài ý chí miệt mài học để viết và viết không mệt mỏi để học, thì độc giả là quan trọng, kỳ dư danh vọng hay thế quyền không hề có chỗ trong tâm tưởng. Chính quyền Sài Gòn, Ngô Đình Diệm rồi Nguyễn Văn Thiệu, ba lần mời ông làm giám khảo cuộc thi văn chương toàn quốc, mời vào ủy ban Dịch thuật, và ủy ban Điển chế Văn tự của Bộ Văn hóa, vào Hội đồng Giáo dục Toàn quốc, ông đều nhất quyết từ khước. Năm 1973, Phủ Quốc vụ khanh Đặc trách Văn hóa (Sài Gòn) muốn trao tặng ông Giải Tuyên dương Sự nghiệp Văn chương - Học thuật - Mỹ thuật, ông cũng từ chối. Mãi mãi ông vẫn giữ đúng vị trí một nhà giáo dục, một nhà văn hóa độc lập, thanh cao, tự trọng.

Ông thổ lộ: "Soạn sách, tôi chỉ nhắm mục đích: tự học và giúp người khác tự học. Tôi nghĩ đến cái lợi của độc giả trước hết, chẳng hề tự cho mình có "sứ mạng" gì cả, mà cũng không hề mong được nổi tiếng (...). Có thích vấn đề nào thì tôi mới viết. Thấy vui trong khi viết, bấy nhiêu đủ cho tôi rồi."(8).


Ông viết và dịch đủ loại: giáo dục, quản trị, kinh tế, chính trị, sách học làm người, ngữ học, văn học và lịch sử thế giới, tiểu truyện danh nhân, du ký, hồi ký, bình văn điểm sách... Chẳng riêng những sách và bài báo chuyên khảo về tiếng Việt, đọc văn ông, người ta cảm thấy toát ra lòng yêu mến tiếng Việt thiết tha, và sự trân trọng chăm chút để gìn giữ và phát huy tính nhuần nhụy, trong sáng của tiếng Việt.

Có lẽ bên cạnh những thể loại đa dạng thì quan trọng hơn hết vẫn là Trung Quốc học (văn chương, lịch sử, triết học). Đây là lĩnh vực mà Nguyễn Hiến Lê có nhiều đóng góp ý nghĩa cho nền tảng nghiên cứu Trung Quốc học ở Việt Nam qua hai mươi hai công trình tiêu biểu như sau: Chiến quốc sách; Cổ văn Trung Quốc; Đại cương triết học Trung Quốc; Đại cương văn học sử Trung Quốc; Hàn Phi Tử; Kinh Dịch: đạo của người quân tử; Khổng Tử; Lão Tử Đạo đức kinh; Lịch sử văn minh Trung Quốc; Liệt Tử và Dương Tử; Luận ngữ; Mạnh Tử; Mặc học; Nhà giáo họ Khổng; Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa; Nho giáo: một triết lý chính trị; Sử ký Tư Mã Thiên; Sử Trung Quốc; Tô Đông Pha; Trang Tử Nam Hoa kinh; Tuân Tử; Văn học Trung Quốc hiện đại.

Cho tới năm 1975, ông xuất bản được một trăm tác phẩm. Từ 1975 tới ngày mất, hoàn thành thêm hai mươi hai công trình nữa. Viết khoảng hai trăm năm mươi bài báo, mà khoảng một nửa trong số đó vẫn chưa gom lại in thành sách. Đề tựa cho hai mươi ba tác phẩm về biên khảo, thơ, tùy bút... mà hầu như bài tựa nào cũng được khen là tài tình. Mười chín người vinh dự được ông đề tựa tác phẩm là: Bàng Bá Lân, Châu Hải Kỳ, Cung Duy Độ, Đỗ Hồng Ngọc, Đông Hồ, Đông Xuyên (3 lần), Hoàng Xuân Việt, Huy Lực, Huỳnh Phan, Lam Giang, Nguyễn Đình Tư, Nguyễn Huy Khánh, Nguyễn Hữu Ngư (tức Nguyễn Ngu ý), Nguyễn Hữu Phiếm (2 lần), Nguyễn Văn Hầu, Phạm Phú Hoài Mai, Toan ánh, Trần Thúc Linh (2 lần), Võ Phiến.

Dường như thần thoại kể rằng, xưa kia có một loài linh điểu, khi sắp giã từ thế gian này, những tiếng hót sau cùng của chim lại là tiếng hót ngọt nhất, hay nhất mà chim dồn hết tinh huyết và thần lực ra thi thố, để tận hiến cuộc đời lần cuối. Những tác phẩm cuối đời của Nguyễn Hiến Lê có lẽ chẳng khác gì tiếng chim linh thần thoại lãng mạn ấy. Thực vậy, trong mười năm sau cùng (1975-1984), sức khoẻ ông càng cạn kiệt vì tuổi tác và tật bệnh, thì ngược lại, sách ông viết càng sâu sắc, càng phong phú và giá trị hơn.

Và rồi ông bệnh, mất ngày 22-12-1984 tại Sài Gòn, hỏa táng tại Thủ Đức. Đến nay, hai mươi hai bản thảo để lại đã in gần hết! Những sách đã in trước 1975 vẫn tiếp tục in lại đều đặn. Một năm có khi hai hay ba nhan đề cũ và mới cùng được ấn hành. Nguyễn Hiến Lê có cái vinh dự được là tác gia của ba thế hệ: thế hệ những người đồng tuổi ông; thế hệ con cái những người đó, kể cả lớp học trò cũ của ông; và thế hệ trẻ hôm nay đang cắp sách ở trung học, đại học, hay vừa rời ghế giảng đường, tập tễnh bước chân vào chốn trường đời.

Xưa nay không hiếm những tác giả mà người đọc chỉ nên đứng xa xa để chime ngưỡng, vì họ sống không đúng như họ viết. Đức Lão Tử dạy: Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri (Người biết chẳng nói, người nói chẳng biết). Trộm nghĩ, với Nguyễn Hiến Lê, câu ấy có thể sửa lại là: Tri giả năng ngôn, ngôn giả năng hành (Người biết hay nói, người nói hay làm). Ngày xưa, đức Khổng Tử có lần than phiền: "Trước kia, nghe ai nói, ta tin rằng đức hạnh của họ hợp với lời của họ. Ngày nay thì ta đâm ngờ, phải quan sát xem hành động của họ có đúng với lời họ nói không." (Luận ngữ, Công Dã Tràng, 9). Với Nguyễn Hiến Lê, đức Khổng thánh, bậc Vạn thế Sư biểu, có thể không cần phải giữ thái độ thận trọng, dè dặt xét nét như vậy.


Quả thực, ai có dịp gần gũi ông nhiều, đọc sách của ông, cũng đều thừa nhận rằng Nguyễn Hiến Lê biết sao thì nói đúng, viết đúng như đã biết, và cũng làm đúng, sống đúng như chính ông đã nói đã viết.

Khoảng trước năm 1945, nhân khi đọc xong một vài bản thảo của ông, bác Ba Phương Khê tặng ông câu đối:

Học bản tu thân, thân tức quốc;

Nhân năng bạt tục, tục nhi tiên.

(Học gốc ở tu thân, thân mình là nước;

Người tư cách bạt tục, tuy tục mà tiên.)

Bản thân Nguyễn Hiến Lê vào khoảng năm 1946 hay 1947 cũng làm câu đối:

Trị ái thư, loạn ái thư, thư trung hữu hữu;

Bần dĩ đạo, phú dĩ đạo, đạo ngoại không không.

(Trị yêu sách, loạn yêu sách, trong sách chi chi cũng có;

Nghèo giữ đạo, giàu giữ đạo, ngoài đạo thảy thảy đều không.)

Cả hai câu đối đó, ngẫm cho cùng, đều phản ánh rất đúng cốt cách nho phong, chí hướng bạt tục, cuộc đời giản dị, và sự nghiệp văn hóa không nhỏ của Nguyễn Hiến Lê đối với dân tộc Việt Nam. Suốt cuộc đời cầm bút trong sang như viên ngọc không chút tì vết, Nguyễn Hiến Lê chưa một lần tự gán cho bản thân bốn chữ "Văn dĩ tải đạo", nhưng đến nay những ai đọc ông có lẽ đều tâm phục và ngưỡng kính cảm nhận rằng con người ấy quả thực đã hiến trọn đời mình để chở chuyên đạo lý.

Đời ông bảy mươi ba năm, từ ấu thơ cho đến khi quay lưng đi vào cõi vĩnh hằng, đã kinh qua biết bao nỗi thăng trầm bi tráng của lịch sử một đất nước chiến tranh ly loạn triền miên. Nhưng ông đã tự chọn cho mình một con đường tu thân, tu đức, trau giồi học vấn không ngừng. Ông miệt mài đem trí tuệ mẫn tiệp, sức học uyên bác, lương tri và tâm huyết... để bằng nghị lực phi thường lướt qua những bệnh tật đeo đẳng tấm thân mảnh khảnh, và đã lặng lẽ nuốt nỗi khổ riêng vào tận đáy lòng, để cho những dòng chữ lời văn của ông mãi mãi chỉ tinh tuyền là hương thơm vị ngọt và vẻ mỹ miều của một tình yêu quê hương đằm thắm và một lòng nhân ái kín đáo./.
Lê Anh Dũng
http://tuanvannguyen.blogspot.com/2008/07/hc-gi-nguyn-hin-l.html

27 thg 8, 2009

Sưu tầm về HÔN

Trăng cao quá & Hôn má

Không biết độc giả cảm giác thế nào khi hôn lần đầu? Blog HM làm chuyện đó toát mồ hôi vì không biết bắt đầu…từ đâu. Chuyện tưởng đơn giản, nhưng đi sâu vào “chuyên môn” thấy khó ra trò. Ở đây không bàn về cái hôn tình tứ trong công viên, nhà nghỉ mà chuyện hôn má…xã giao.


Blog HM đi nhiều nên thấy cần viết một entry về cheek kissing. Xem bạn bè Latin hôn má nhau mình rất thèm, làm sao học được cái “chút chút” tưởng chừng đơn giản này.



Viết thế thôi, Blog HM không biết làm thế nào và vô cùng kỵ chuyện ôm hôn. Bây giờ đang cúm lợn H1N1, càng nên tránh, kể cả bắt tay. Cúi gập lưng chào như anh Nhật lùn hóa hay, thà đau cột sống còn hơn vào nằm khoa Nhiệt đới của Bệnh viện Bạch Mai. Tuy thế, khi cần xã giao thì mình cũng nên biết bắt đầu như thế nào.

Vài tuần trước, VTV đưa tin một vị lãnh đạo của ta đón khách từ Bắc Âu tới. Không hiểu hai người đã quen nhau từ trước hay chỉ là phép xã giao thông thường mà chủ ta ôm chầm lấy bà Bộ trưởng, hôn rối rít lên mặt khách. Không hiểu bà có ngượng không, nhưng khán giả màn ảnh nhỏ tủi thay cho lễ tân “lúa nước”.

Dân Việt Nam rất thạo xe ôm, bia ôm, karaoke ôm, internet ôm, café ôm, gặt lúa ôm, nhưng không biết về ngoại giao…ôm. Nói chung, khoản hôn hít, dân ta rất kém, dù trong bóng tối hay công viên, từ trẻ đến già chả kém bất kỳ một tài tử điện ảnh Pháp, Ý hay Mỹ nào.

Anh bạn kể, lần đầu tiên được một bạn nữ Brasil đưa má hôn. Thay vì đưa môi gần vào má, nhưng không chạm hẳn vào da thịt và “chụt gió” một cái, bố nhà ta cứ đưa cả đôi môi ướt đẫm nước…bọt lên bất kể chỗ nào với được trên mặt khách, hai tay ôm lấy eo bạn nữ, ghì chặt bộ ngực đồ sộ của nàng vào người mình, cho rằng như thế mới tình cảm.

Sau này bị góp ý, anh ngượng chín người. Bây giờ, dù đi tây tầu rất nhiều, mỗi lần ai đó chìa má hôn, anh rụng rời hết cả chân tay, hồn vía lên mây và lại hôn…bừa bãi.

Hôn má là thói quen của dân Latin, Nam Âu, Địa Trung Hải, Cận Đông. Dân Mỹ, Canada, Á hay Bắc Âu thì không thích kiểu chào thân ái này. Dân Bắc Âu xem VTV sẽ rất lạ, tại sao vị nhà ta cứ ôm chầm lấy bà Bộ Trưởng nước họ, trong khi dân Anam nhà mình, nam nữ thụ thụ bất thân.

Hỏi cách hôn má và ôm thân mật thế nào ư, xin các bạn đọc entry này và góp ý. Ai có cao kiến gì, xin ghi vào để chia sẻ tri thức…“hôn”.

“Giao thiệp” kiểu này đại loại, hai đối tượng (nam-nữ, nữ-nữ, nhưng nam-nam thì không nên, họ tưởng gay), chìa má chạm vào nhau, hoặc một bên dùng môi chạm nhẹ vào má đối tác, “chút” nhẹ một cái, đừng to quá, họ lại tưởng mình muốn…làm tình.

Động tác hôn đó có thể nhắc lại vài lần, nhưng không thể chùn chụt mãi được. Hôn má đi kèm theo ôm cũng có, và đôi khi cũng không cần…ôm. Nếu phải ôm thì nhè nhẹ thôi, đừng ôm chầm lấy người ta như vị lãnh đạo nọ kéo bà Bộ trưởng nước người vào lòng. Mạnh nhẹ, ngắn dài, tùy thuộc vào sự thân quen, cung bậc văn hóa, từng vùng, từng quốc gia.

Dân Mỹ trong thành phố mới hôn nhau, về quê thì đừng cố ôm mà ăn tát. Đàn ông, đàn bà hôn má nhau chỉ khi thân quen.

Dân Latin không quen nhau cũng có thể chìa má cho bạn. Với Argentina, Uruguay, hai đàn ông có thể hôn má nhau để chào hỏi. Gặp dân Colombia thì chớ nên, vì cánh đàn ông vùng đó chỉ thích chìa tay.

Sang Ba Lan quí tộc rất mệt. Giơ tay bắt thì phụ nữ lại úp mu bàn tay, ý nói, xin ông hãy cúi xuống hôn đi (proszę pana, całować ręku). Đặt môi thế nào để tránh khi hôn xong, quí bà vội quay đi tìm giấy lau tay vì bạn đã…nhổ bọt vào đó.

Trai làng ra thành phố, cái gì cũng lạ lẫm, từ nhà cao tầng đến thang máy rồi nhà vệ sinh có bệ ngồi. Thấy bồn rửa mặt thì cứ cãi lấy được, đó là chỗ đi tiểu, vì ngang tầm của các bố ấy kéo…khóa quần. Trong lavabo thấy vũng nước đọng lại cho là chỗ giặt khăn tay để rửa mặt.

Dân ta hội nhập quốc tế cũng giống trai làng ra tỉnh với nhiều khái niệm hay giá trị bị đảo lộn. Kinh tế vi mô rồi vĩ mô dễ bị loạn, toàn cầu hóa cứ tưởng ngon xơi. Đầu tư nước ngoài sang nịnh vài câu “các bạn sắp thành rồng, hổ” nghe sướng tai, bán cả tài nguyên, sông hồ với giá rẻ như cho.

Đôi lúc nhầm lẫn, có giá trị nhân loại đáng học thì bỏ qua, cái người ta quên rồi thì mình cứ ra sức tìm hiểu, chẳng qua vì thiếu thông tin sau lũy tre làng.

Sang nước người gặp bạn, nhớ vài câu ngoại ngữ chào đã khó, học cách bắt tay, ôm vai, hôn hít hóa ra còn khó hơn. Cư dân nền văn minh lúa nước sông Hồng bốn ngàn năm không bảo nhau, dễ rơi vào tình trạng bác lãnh đạo chào khách phương xa làm khán giả VTV toát mồ hôi vì nụ hôn đầu đời.

Chuyện vui về đôi nam nữ ngồi tâm sự, ngắm trăng. Chàng đọc thơ “Trăng hôm nay cao quá” thì nàng phụ họa “Trăng muốn hôn vào má”. Việc gì xảy ra có thể đoán được. Thấy cá cắn câu, chàng đọc tiếp “Trăng hôm nay cao tít” thì bỗng bốp, một cái tát nảy lửa. Hôn không đúng chỗ, đúng lúc dễ bị ăn chưởng.

Trong xã giao, không ai tát bạn cả. Người ta tránh lần sau giơ má cho bạn hôn mới thực sự đau hơn cả cái tát.

Theo Blog HM

24 thg 8, 2009

Đinh Kỳ Thanh : NHỮNG THÀNH PHỐ BẤT LỊCH SỰ NHẤT TRÊN THẾ GIỚI!

Vừa qua báo Hồng Công South China Morning Star Post có đăng bài bình luận về kết quả cuộc điều tra của các phóng viên tạp chí Reader’s Digest (Mỹ) coi thử thành phố nào “lịch sự” nhất trên thế giới. Họ đã tiến hành khoảng 2000 cuộc trắc nghiệm tại nhiều thành phố lớn ở 35 nước khác nhau. Có 3 hình thức “thử” như sau:
_ Thả một tờ giấy xuống đường phố lúc đông người qua lại nhất coi thử có ai “lịch sự” cúi xuống lượm dùm để bỏ vô thùng rác không.
_ Coi thử những người bán hàng có biết cách “lịch sự”ngỏ lời cám ơn các khách hàng khi giao dịch không.
_ Coi thử ở nơi công cộng có nhiều người “lịch sự” biết đỡ dùm cánh cửa tự động cho người đi sau ra vào an toàn không.


Theo suy nghĩ của nhiều người ắt các thành phố lịch sự nhất phải thuộc về các nước có truyền thống văn minh lâu đời ở phương Tây như Anh, Pháp, Đức… Thế nhưng kết quả thật bất ngờ: thành phố được xếp dẫn đầu “lịch sự nhất thế giới” lại là New York của Hoa Kỳ. Tiếp liền sau, là các thành phố Zurich (Thụy Sĩ), rồi Toronto (Canada), xếp hạng 4 là các thành phố Berlin (Đức), Sao Paulo (Brasil) và Zagreb (Croatia). Hạng thứ 7 là các thành phố Auckland (New Zealand) và Warsaw (Ba Lan), hạng 9 là Mexico City, hạng 10 là Stockholm (Thụy Điển), hạng 11 có 3 thành phố là Budapest (Hungary) và Vienna (áo), xếp thứ 15 mới là các thành phố London (Anh), Paris (Pháp), Lisbon (Bồ Đào Nha) và Buenos Aires (Argentina) và Johannesburg (Nam Phi)…

Còn các thành phố bất lịch sự nhất thế giới thì dẫn đầu là Bombay (Ân độ), tiếp đó là Bucarest (Romania). Trong số 11 thành phố tồi tệ nhất thế giới có tới 8 thành phố nổi tiếng ở châu A được coi là những trung tâm thu hút đông đảo khách du lịch như Bangkok, Hongkong, Taipei, Seoul, Singapore và Kuala Lumpur...

Một người dân ở thủ đô của nước Nga là thành phố Mát-xcơ-va nổi tiếng khi được hỏi vì sao bạn không giữ dùm cánh cửa tự động khỏi bật vào người đi sau mình đã thản nhiên trả lời : “Tôi đâu phải là người giữ cửa! Nếu không muốn cánh cửa táng vào mặt thì tốt nhất là hãy bước nhanh chân lên!”. Còn ở London hay Paris ngay trong các siêu thị nổi tiếng nhân viên bán hàng vẫn quên cất tiếng “cám ơn” các Thượng đế của mình và thậm chí còn liệng gói hàng rớt bịch trên quầy ngay trước mặt khách mà chẳng biết một lời xin lỗi.

Được hỏi vì sao người New York lại lịch sự nhiều như vậy, Thị trưởng thành phố này cho rằng: “ Từ sau vụ máy bay của bọn khủng bố lao vào Tòa tháp đôi nổi tiếng của Trung Tâm Thương mại thế giới, gây ra cú sốc kinh hoàng cho dân Hoa Kỳ dường như dân thành phố này biết xích lại gần nhau hơn, trân trọng nhau hơn và biết đối xử với nhau tử tế hơn. Có lẽ chính nhờ sự đối phó với tệ khủng bố, con người càng biết sống lịch sự…”

Không biết nếu tiến hành trắc nghiệm như thế ở các thành phố của ta thì kết quả sẽ như thế nào khi các phóng viên sẽ rơi vào các cảnh phải đi “xe dù”, ăn “cơm tù” trong “quán nhốt” hoặc phải xếp hàng dài trong các quán bán hàng điểm tâm nổi tiếng như “phở quát”, “miến chửi” nổi tiếng từng trừng mắt mắng khách xin thêm tí ớt hay miếng chanh : “xin đ… gì lắm thế!” hoặc “sao lúc nãy không hỏi lấy luôn một lần, bây giờ có bà cũng đ… cho, không ăn thì bước ngay nhé!”

Viết tới dòng này, tôi lại nhớ tới cái giai thoại về nhạc sĩ tài danh nổi tiếng Nguyễn Xuân Khoát sống tại Hà Nội. Lúc cụ nghệ sĩ tóc bạc trắng này đi bộ dưới lòng đường (vì vỉa hè ngưới ta bán hàng và để xe chật cứng không còn chỗ chen chân) thì bị hai thanh niên chạy xe máy quá nhanh hất ngã. Hai thanh niên dừng xe lại không phải để nâng đỡ cụ già mà là để chửi “ thằng già kia mù hay sao mà đi như thế! Có muốn các ông mày cho về chầu cụ tổ sớm không?”. Và thế là cụ nhạc sĩ tài danh này đã lập cập quỳ ngay xuống đất vái dài: “ Thôi cụ già xin vái lậy các ông trẻ, cụ già biết lỗi nhiều lắm ạ!”

Chính người viết này cũng đã từng trót lỡ lời chê một tấm áo sơmi mua tại thương xá Tax ở góc đường Nguyễn Huệ (TP.HCM) là chất liệu vải không tốt và bị cô bán hàng nguýt dài đầy khinh thị : “Này, tiền nào của nấy! Muốn tốt muốn sang thì mua áo Pierre Cardin hay Louis Vouillton hàng hiệu kia kìa! Khéo không lại khóc thét lên vì giá của nó nha!”

Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh của chúng tôi còn biết bao nơi nổi tiếng bán hàng kiểu “chặt chém” và biết bao điểm dịch vụ “trời thần” sao các nhân viên trắc nghiệm của Reader’s Digest không đặt chân tới nhỉ?! Dám các thành phố của chúng tôi cũng chẳng thua kém gì Bombay, Bucarest, Bangkok, Hongkong hoặc Seoul, Taipei hay Singapore và Kuala Lumpur đâu, bởi lẽ dân chúng tôi cũng có tới “bốn ngàn năm văn hiến” chớ bộ!

19 thg 8, 2009

Nhà khoa học - điệp viên Nguyễn Đình Ngọc

- Trong lịch sử trăm năm giành lại nền độc lập và thống nhất đất nước, nhiều nhà khoa học thành đạt đã gác bỏ sự nghiệp, vinh hoa ở xứ người về nước dấn thân vào sự nghiệp lớn lao của dân tộc. Nhà khoa học, nhà tình báo Nguyễn Đình Ngọc cũng là một trường hợp như vậy.

Trong cuộc đời làm báo, tôi có may mắn tiếp xúc với ông, một con người có cuộc đời sôi nổi, phong phú, một thời gian dài hoạt động trong lòng đối phương.

Ngày ấy, trong nhiều cuộc họp báo, hội thảo khoa học tôi đều thấy ông ngồi trên đoàn chủ tịch. Ông dáng nhỏ nhắn, trắng trẻo, có đôi mày đậm xếch ngược của võ tướng thời xưa, chỉ càng làm gương mặt ông toát lên vẻ hiền từ, sáng láng. Bao giờ cũng thấy ông mặc bộ quân phục xanh bạc mầu, đầu đội mũ mềm, đeo cặp kính trắng có cái dây vòng sau gáy, những người quen biết ông đều bảo, ông giản dị đến xuềnh xoàng, đi đâu cũng chỉ vận mỗi bộ cánh như thế.

Đó là Tiến sĩ khoa học, nguyên Giáo sư của nhiều đại học ở Sài Gòn, Cần Thơ… trước và sau năm 1975. Là điệp báo viên ở Sài gòn từ 1966 đến năm 1975, sau 1975 là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Khoa học Viễn thông - Tin học, Bộ Công an, Phó ban chỉ đạo quốc gia về Công nghệ thông tin; Phó chủ tịch Hội Điện tử - Viễn thông; Phó chủ tịch Hội Tin học Việt Nam; thành viên sáng lập Đại học Thăng Long. Ông sinh ngày 13/8/1932, mất ngày 2/5/2006; chào đời và trút hơi thở cuối cùng đều tại Hà Nội.

Tôi nhiều lần chủ ý tiếp cận ông, nhưng vẫn chỉ là những cuộc trao đổi ngắn về nội dung của cuộc hội thảo cụ thể nào đó, ông luôn tỏ ra bận rộn, khiêm nhường. Thế rồi một hôm, có người bạn cho tôi xem công trình nghiên cứu mới của ông, đề tài nhánh của Chương trình cấp nhà nước mang mã số KX.06.

Cái tên của đề tài đã gây sự chú ý, bởi nó nửa khoa học tự nhiên, nửa khoa học xã hội: “Khoa học công nghệ với các giá trị văn hoá”. Tâm điểm hấp dẫn của công trình “hai nửa” này là ở chỗ, từ một công thức thuần tuý lý thuyết trong vật lý hiện đại - Thuyết Tương đối của A. Einstein, tác giả đã vận dụng vào hoàn cảnh nước ta để tìm lời giải chung nhất cho bài toán chính trị - xã hội phức tạp, là muốn thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, từ một nước chậm phát triển trở thành phát triển.

Xin trích một đoạn thú vị nhất của đề tài, mà tin chắc những ai ngoại đạo về toán - lý như tôi vẫn có thể hiểu.

Trong vật lý, biểu thức nổi tiếng của nhà vật lý vĩ đại Albert Einstein, mô tả mối liên hệ giữa khối lượng m của một vật thể với năng lượng E mà vật thể này có thể giải phóng như sau:

E = m x c2 , với c là vận tốc ánh sáng.

Vận dụng vào lĩnh vực chính trị xã hội, nhà khoa học Nguyễn Đình Ngọc mô tả mối liên hệ giữa các “đại lượng” phi vật thể dưới dạng biểu thức tương tự như sau:

Kiến thức = Khối lượng dữ kiện x (Tốc độ xử lý)2

Tri thức = Khối lượng kiến thức x (Tốc độ mô phỏng)2

Quyết thức = Khối lượng kiến thức x (Tốc độ mô phỏng-Dự báo-Lựa chọn)2.

Các biểu thức trên đã cho thấy, kiến thức hay tri thức đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành những quyết thức, hay nói cụ thể hơn là các quyết sách, các chủ trương đường lối… Nhà khoa học Nguyễn Đình Ngọc cho rằng: “Ông cha ta xưa kia đã nói biết thì sống, tức cũng là đề cao vai trò của Quyết thức trong những trường hợp sống còn của dân tộc”.

Có thể mở rộng ra tầm quan trọng của vấn đề dân trí đối với xã hội, với đất nước. Như ông Ngọc đã nhấn mạnh: “Dân trí phải được chú ý ngay từ bây giờ, từ những công dân tí hon bước vào lớp mẫu giáo…”

Sau khi đọc kỹ công trình, tôi viết một bài báo ngắn “Từ Kiến thức đến Quyết thức”. Rồi một hôm, tôi nhận được cú điện thoại ông mời đến gặp tại trụ sở Ban chỉ đạo về công nghệ thông tin. Trong cuộc nói chuyện khá cởi mở, thân tình hôm đó, tôi mới hiểu vì sao ông giác ngộ yêu nước và cách mạng từ rất sớm và trong bất kỳ hoàn cảnh nào ông vẫn kiên trì, liên tục học tập nâng cao hiểu biết.

Ông sinh ra trong một gia đình trí thức ở Hà Nội, có bốn anh em, ông là con cả. Cha ông, bác sĩ Nguyễn Đình Diệp giàu lòng yêu nước, trước năm 1945 đã bị thực dân Pháp bắt tù đày ở nhà tù Sơn La. Bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, bác sĩ Diệp là Quân y xá trưởng tỉnh Phúc Yên.

Cuối năm 1947, trong một trận càn, bác sĩ Diệp cùng cậu bé Ngọc lúc đó mới 15 tuổi bị bắt. Giặc áp giải đến Đáp Cầu, Bắc Ninh thì tách cha con ra và từ đó ông không bao giờ còn được gặp lại cha mình nữa. Lúc chia tay người cha chỉ dặn con mỗi câu: “Con hãy cố học và giúp người khác học, dân mình khổ trước hết vì giặc dốt đấy”.

Nhiều năm sau đó Nguyễn Đình Ngọc luôn trăn trở về lời cha dặn. Đó là điều tâm huyết nhất của cha, một trí thức trải kiếp nô lệ, từng thấy dân mình chìm đắm trong ngu dốt, lạc hậu. Điều này cũng giải thích vì sao, trong công trình nghiên cứu của ông, quyết thức nâng cao dân trí trở thành điểm mấu chốt, được đề cao đến vậy!

Năm 1953, ông được tổ chức đưa ra nước ngoài học tập. Gần 10 năm sống, học tập tại Paris, Pháp, ông đã giành được các bằng cấp, đều thuộc loại xuất sắc, như: kỹ sư khí tượng; kỹ sư viễn thông; kỹ sư đóng tàu; tiến sĩ địa vật lý; tiến sĩ toán học. Về nước tháng 2 năm 1966, ông được chính quyền Sài Gòn bổ nhiệm vào vị trí giáo sư Đại học Khoa học Sài Gòn.

Ít ai ngờ rằng, ông còn nằm trong tổ chức điệp báo ông với bí danh “Diệp Sơn” (ghép tên cha và em trai đã mất).

Mãi đến sau ngày nước nhà thống nhất, cuộc đời hoạt động của nhiều chiến sĩ tình báo mới được hé lộ, họ có những “vỏ bọc” thật khác nhau. Chẳng hạn: nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn là ký giả; nhà tình báo Vũ Bằng là nhà văn; nhà tình báo Đức Phương là nhà buôn…

Với Nguyễn Đình Ngọc, ông chọn nghề giáo sư đại học, song đó không hoàn toàn là “cái vỏ”, ông là nhà khoa học thứ thiệt, có kiến thức uyên thâm, đa dạng, càng có lợi hơn trong thực thi nhiệm vụ điệp viên.

Trong buổi trò chuyện giữa chúng tôi hôm đó, trả lời cho câu hỏi, sao phải học nhiều bằng đến vậy, ông kể một chuyện của năm 1970.

Thấy tướng tá Sài Gòn rộ lên việc tìm hiểu tình hình khí tượng thuỷ văn vùng tây bắc Sài Gòn, cho người đến tham khảo ông với tư cách chuyên gia khí tượng từng tu nghiệp ở nước ngoài, ông đã suy ra, sẽ có một cuộc hành quân lớn với nhiều trực thăng vào khu vực ấy, chủ yếu nhắm tới Tây Ninh và vùng giáp biên giới Campuchia, có cơ quan đầu não của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam. Nhận định, rồi tổng hợp các động thái khác của đối phương, ông chuyển tin đi ngay về căn cứ… Vào năm 1980 trong chuyến công tác với đoàn Quốc hội sang Campu chia, tôi nghe một vị lãnh đạo cao cấp trong đoàn kể lại, vào thời điểm ấy ông cùng nhiều vị Trung ương cục đã thoát hiểm do được điệp báo ta báo trước kịp thời.

Chắc hẳn còn có những tin tức tình báo hệ trọng mà ông không kể hết. Chẳng hạn, cuối tháng 4/1975, do phân tích tình hình thời cuộc kịp thời, chuẩn xác, ông là một trong những người đi đến kết luận: Mỹ sẽ buông tay không can thiệp trở lại. Những nguồn tình báo như vậy đã góp phần giúp lãnh đạo có căn cứ thúc đẩy cuộc tổng tiến công thần tốc vào hang ổ cuối cùng của chế độ Sài Gòn.

Sau ngày giải phóng, ông ra công khai, làm việc trong Bộ Công an, có điều kiện sử dụng khả năng chuyên môn đa dạng của mình cho công tác quản lý và nghiên cứu khoa học… Ông được trở lại với niềm đam mê làm khoa học. Đúng như GS Hoàng Xuân Sính, người có nhiều năm quen biết GS Nguyễn Đình Ngọc từ hồi còn ở bên Pháp, khi ông qua đời đã viết: “Anh làm khoa học như để bõ cơn thèm, vì đã không được toàn tâm toàn ý cho nó do bận làm tình báo một thời gian dài. Anh sinh ra để làm khoa học, đó là ham thích duy nhất của đời anh…”.

Người ta nói, con người, từ cổ chí kim, có ba đam mê: quyền lực, tiền bạc và phụ nữ. Nguyễn Đình Ngọc thoát khỏi cái vòng kim cô đó, nhưng lại mắc phải cái đam mê của các nhà khoa học thực sự, đó là sự say mê khám phá. Chính nhờ niềm đam mê đó nhân loại đã từ bóng đen dốt nát đến với ánh sáng hiểu biết tuyệt vời.

Nhà khoa học yêu nước, nhà tình báo Nguyễn Đình Ngọc may mắn theo đuổi niềm đam mê ấy đến tận những năm tháng cuối đời.

• Phạm Quang Đẩu
http://vietnamnet.vn/khoahoc/2009/08/864161/

Đừng đặt dấu chấm hết cho sông mẹ Mekong

Chúng ta cũng cần sự ủng hộ của quốc tế để bảo vệ sự toàn vẹn sinh thái trên những con sông hoang dã cuối cùng. Hãy bắt đầu từ sông Mekong.
TuanVietNam xin giới thiệu bài viết của nhà báo, nhà tư vấn môi trường Fred Pearce trên tờ Yale Environment 360 về hiểm họa này. Ông là tác giả của nhiều đầu sách viết về môi trường trong đó có cuốn "Khi những dòng sông cạn dòng".


Sông Mekong bao đời nay đã chảy tự do, và là bầu sữa nuôi sống hàng chục triệu người dân Đông Nam Á. Thế nhưng, tổ hợp tám đập thủy điện mà Trung Quốc hiện đang xây dựng trên con sông dài 2800 dặm này sẽ cản trở dòng chảy tự nhiên và đe dọa làm khô kiệt bầu sữa ấy.

Những con tàu của hải quân Mỹ xuôi ngược trên sông giờ đã lùi vào dĩ vãng. Đồng bằng sông Mekong của ngày hôm nay thật yên bình. Vĩnh Long, nơi từng diễn ra những trận đánh ác liệt giữa quân giải phóng và Mỹ, giờ trở thành điểm du lịch lý tưởng. Với những khách du lịch phương Tây tìm đến các vùng xa xôi, hẻo lánh của đồng bằng rộng lớn này, có lẽ thứ nguy hiểm nhất là những chiếc máy ảnh và trận phục kích duy nhất là của những thương lái ở chợ nổi Cần Thơ.
Là một đất nước với nền kinh tế đang hiện đại hóa và phát triển nhanh, Việt Nam cũng như các nước láng giếng uống chung dòng nước Mekong không quên sự no ấm hiện thời một phần chính là nhờ con sông này. Thế nhưng, nghịch lý thay, giữa thời buổi thanh bình và thịnh vượng ấy, một trong những con sông nguyên sơ còn sót lại trên thế giới lại bị đe doạ.

Gần nửa thế kỷ chiến tranh và loạn lạc ở Đông Nam Á đã phủ bụi lên bản kế hoạch xây dựng tổ hợp đập thủy điện khổng lồ, bảo vệ con sông này trước những người kỹ sư xây dựng. Nhưng giờ đây, tất cả đang thay đổi. Hàng chục triệu người dân của khu vực này có lý do để lo sợ về những hậu quả nhãn tiền, bởi chẳng bao lâu nữa họ sẽ phải tận mắt chứng kiến bầu sữa nuôi dưỡng họ bị rút kiệt.

Tháng 10 năm 2008, các kỹ sư Trung Quốc đã hoàn thành xong công trình đập Tiểu Loan ở thượng lưu sông Mekong, thuộc tỉnh phía Nam xa xôi Vân Nam. Với chiều cao 292 m, ngang bằng với tháp Eiffel, hiện Tiểu Loan là con đập cao nhất thế giới. Từ mùa hè năm nay, đập sẽ bắt đầu thực hiện nhiệm vụ chặn đứng dòng lũ lớn đổ về từ dãy núi Himalaya và giữ lại lượng nước từ những cơn mưa lớn và tuyết tan trong hồ chứa dài 105 dặm. Đập sẽ chính thức sản xuất điện vào năm sau và dòng điện sẽ vươn tới tận những thành phố xa xôi như Thượng Hải cách đó 1.200 dặm về phía Đông.

Theo kế hoạch, Trung Quốc sẽ xây dựng tổng cộng tám con đập trên sông Mekong. Nếu đúng như dự kiến, đến năm 2014, các kỹ sư sẽ hoàn thành đập Nọa Trát Độ, con đập có chiều cao khiêm tốn hơn nhưng công suất hồ chứa lại lớn hơn nhiều so với đập Tiểu Loan. Vậy là, số phận của sông Mekong đã được định đoạt: Mekong sẽ trở thành tháp nước và tổ hợp nhà máy thủy điện mới của Trung Quốc.
Tổ hợp tám đập này có khả năng giữ lại một nửa lưu lượng của sông Mekong khi sông rời Trung Quốc và chảy xuôi dòng xuống Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Trong tương lai, những đợt lũ hàng năm sẽ được xả thường xuyên khi các turbine đi vào hoạt động. Khi đó, mực nước trên sông sẽ dâng và hạ theo ý thích bất chợt của các kỹ sư hơn là tự nhiên.
Báo cáo của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc cuối tháng 5 vừa qua đã cảnh báo: tổ hợp tám đập này sẽ đe dọa đến sự sống còn và nguồn tài nguyên thiên nhiên của con sông. Chế độ trị thuỷ mới sẽ làm biến đổi chu kỳ lũ lụt hàng năm và phá hủy những hệ sinh thái đang sống nhờ dòng sông này.

Aviva Imhof, người phụ trách chiến dịch của Mạng lưới sông ngòi quốc tế, cho biết những con đập này sẽ gây thiệt hại nặng nề cho vùng hạ lưu. “Trung Quốc đang hành động thiếu trách nhiệm”, Imhof nhận định. “Hệ thống đập của đất nước này sẽ tàn phá hệ sinh thái của vùng hạ lưu sông Mekong cũng như vùng hồ Tonle Sap. Chúng gióng lên hồi chuông báo tử cho những ngư trường hiện đang nuôi sống hơn 60 triệu người.”
Hầu hết các chuyên gia ở các nước thuộc khu vực hạ lưu đều e dè khi chỉ trích chính sách của Trung Quốc. Tuy nhiên, tháng trước, giáo sư Ngô Đình Tuấn của Đại học Thủy lợi Hà Nội đã rất thẳng thắn khi trao đổi với các phóng viên trong nước: “Nếu Trung Quốc xây đập để sản xuất điện, tác động đầu tiên sẽ là sự sụt giảm đáng kể các tài nguyên nước. Đây là điều rất nguy hại đối với những người dân sống ở khu vực hạ lưu.”

Từ bao đời nay, sông Mekong là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá đối với con người và tự nhiên của khu vực Đông Nam Á. Tầm quan trọng của nó có thể sánh ngang với những khu rừng nhiệt đới Amazon. Con sông dài 2800 dặm này là ngư trường lớn thứ hai trên đất liền của thế giới, và là trụ cột chính của nền kinh tế khu vực trong hàng ngàn năm nay. Nó giúp người Campuchia, một trong những dân tộc nghèo nhất, trở thành những người có nguồn thực phẩm dồi dào nhất trên thế giới. Đây là kết quả trực tiếp của những cơn lũ mùa hè. Cụ thể, nó bắt nguồn từ một trong những đặc trưng của lũ sông Mekong - tạo ra dòng chảy ngược trên nhánh sông Tonle Sap.
Mặc dù chỉ là một phụ lưu ở Campuchia, nhưng Tonle Sap được coi là trái tim của cả hệ thống sông Mekong với nhiệm vụ điều hòa lưu lượng. Tuy nhiên, theo Mukand Babel, tác giả bản báo cáo của Liên hợp quốc và là thành viên Viện Công nghệ Châu Á ở Bangkok, Thái Lan, đây lại là một trong những điểm yếu nhất của hệ thống sông Mekong. Các con đập của Trung Quốc có thể nắm quyền kiểm soát trái tim này.

Suốt bảy tháng trong năm, sông Tonle Sap chảy từ một hồ nước ở miền trung Campuchia và hòa vào dòng sông chính phía trước cung điện hoàng gia ở Phnom Penh. Nhưng từ tháng 6 tới tháng 11, dòng chạy đó lại đổi hướng. Nguyên nhân của hiện tượng này là do những cơn lũ mùa hè làm tăng lưu lượng nước của sông Mekong tới 50 lần.

Lưu lượng nước quá lớn khiến dòng sông chính không thể chứa hết. Vì vậy, lượng nước này chảy ngược khoảng 125 dặm về hồ Tonle Sap rồi tràn ra những khu rừng xung quanh. Vào cao điểm của mùa mưa, dòng chảy ngược này hấp thụ 1/5 lượng nước của sông Mekong, khiến sông nhánh Tonle Sap bé nhỏ bỗng chốc trở thành một trong những dòng sông lớn nhất thế giới.
Trong suốt mùa lũ, những khu rừng ngập nước quanh hồ Tonle Sap trở thành “thiên đường” của ngành thủy sản sông Mekong. Dưới làn nước đầy phù sa len lỏi quanh những gốc cây là hàng tỷ con cá con đang lớn lên từng ngày. Rừng ngập nước Tonle Sap là một trong những hệ sinh thái dồi dào nhất hành tinh. Tháng 11 hàng năm, khi lũ lắng xuống, dòng Tonle Sap lại đổi chiều, chảy ra khỏi hồ và kéo theo hàng đoàn cá. Để kỷ niệm sự kiện này, từ thế kỷ 12, mỗi năm người Campuchia đều tổ chức một lễ hội nước rất lớn ở Phnom Penh. Trong những tháng sau đó, lũ cá sẽ ngược xuôi hàng trăm dặm trên sông Mekong, trở thành nguồn thực phẩm cho hàng trăm triệu người. 2/3 lượng cá trên sông Mekong bắt đầu cuộc đời của chúng từ hồ Tonle Sap.

Sản phẩm độc đáo nhất của ngành thủy sản sông Mekong là loại cá da trơn khổng lồ. Một con cá da trơn trưởng thành có thể dài tới 3 mét và nặng 1/3 tấn. Số lượng cá đang giảm dần, nhưng nhiều con vẫn đang ẩn mình dưới những hố sâu dưới đáy sông (có những hố sâu tới hơn 1 km) và thỉnh thoảng lại xuất hiện trong lưới của những ngư dân trên sông Tonle Sap.
Sự sống kỳ diệu của dòng sông hiển hiện trước những ngôi đền Angkor Wat tôn nghiêm. Angkor Wat, di tích của một nền văn minh rực rỡ cổ xưa cách đây 1000 năm, nằm ở bờ bắc hồ Tonle Sap, bên rìa những khu rừng ngập nước. Chính nghề cá trên sông Mekong đã duy trì nền văn minh này.

Sông Mekong khiến người ta nhớ về những dòng sông “nguyên thủy” ở thời mà hệ thống đập thủy điện còn chưa ra đời. 2/3 những dòng sông ngày nay, bao gồm hầu hết những dòng sông lớn nhất, đều có đập ngăn nước trên dòng chính. Trung Quốc đã xây đập trên những dòng sông lớn của Châu Á khởi nguồn từ Tây Tạng, bao gồm sông Hoàng Hà và sông Dương Tử. Hiện nay hai dòng sông này đã bị đập Tam Hiệp chặn lại.
Khi bị “thuần hóa”, những dòng sông trở nên nghèo nàn hơn về sản vật, nhưng sông Mekong là một ngoại lệ. Không dòng sông nào trên trái đất có dòng chảy linh hoạt như vậy. Về đa dạng sinh học và trữ lượng thủy sản, sông Mekong chỉ đứng sau sông Amazon. Không có dặm bờ sông Mekong nào mà không có người đánh cá. Khoảng 60 triệu người sống nhờ dòng sông này, trong đó có 3/4 dân số Campuchia, nơi - theo nhận định của Oxfam – “ngành thủy sản đóng góp rất lớn cho kinh tế và an ninh lương thực hơn bất cứ quốc gia nào khác”.

Tác động của các đập do Trung Quốc xây sẽ phụ thuộc vào cách vận hành nó. Nhưng theo quan trắc của những nhà thủy văn phương Tây, những con đập này sẽ làm giảm 1/4 lưu lượng nước ở hạ lưu sông Mekong, đủ để làm giảm một nửa lượng nước lũ ở Phnom Penh. Các nhà thủy văn đang tranh cãi liệu việc này có đặt dấu chấm hết cho dòng chảy ngược của Tonle Sap hay không. Tuy nhiên, chắc chắn là nó sẽ làm giảm lượng nước của các khu rừng ngập nước với nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với ngành thủy sản Mekong.

Trung Quốc chặn dòng chảy của sông mà không hề bàn thảo trước với các nước láng giềng. Năm 1995, Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan đã thành lập Ủy ban Sông Mekong như một diễn đàn để bàn luận về tương lai của dòng sông này. Trung Quốc chưa bao giờ tham gia và cũng chưa bao giờ đưa việc xây đập ra để bàn bạc với ủy ban này.
Trung Quốc không phải là “ông lớn” duy nhất của các dòng sông trên thế giới. Hãy hỏi người Iraq về việc xây đập của Thổ Nhĩ Kỳ trên sông Tigris và Euphrates, hay hỏi người Mexico về việc xây đập của Mỹ trên sông Colorado. Chúng ta rất cần pháp luật quốc tế bảo vệ những nước khu vực hạ lưu sông. Đây là điều Liên Hiệp Quốc đã nhất trí một thập kỷ trước nhưng chưa bao giờ thực hiện. Hơn nữa, chúng ta cũng cần sự ủng hộ của quốc tế để bảo vệ sự toàn vẹn sinh thái trên những con sông hoang dã cuối cùng. Hãy bắt đầu từ sông Mekong.

Dịch từ Yale Environment 360

18 thg 8, 2009

Để cứu sông Mekong

Trên công luận gần đây cả trong và ngoài nước có nhiều thông tin báo động lo lắng về việc các nước thượng lưu sông Mekong, đặc biệt là Trung Quốc đã và đang xúc tiến việc xây dựng 1 loạt các đập thủy điện sẽ tác động lớn đến các nước ở hạ lưu.

Xây đập thủy điện trên sông

Sông Mekong là một trong mười con sông lớn nhất thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng có chiều dài hơn 4.800 km, diện tích lưu vực 795.000 km2, lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm khoảng 15.000 m3/s và tổng lượng dòng chảy hàng năm 475 tỷ m3 tại châu thổ, chảy qua lãnh thổ của 6 quốc gia là Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.

Click vào để xem hình
.

Đây là nơi sinh sống của trên 65 triệu người và có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế của các nước ven sông. Lưu vực sông Mekongcó tiềm năng thuỷ điện rất lớn và phát triển thuỷ điện ở khu vực này có khả năng sẽ tăng lên đáng kể trong những thập kỷ tới.

Sông Lancang (thượng nguồn Mekong) trên địa phận tỉnh Vân Nam của Trung Quốc có tiềm năng thuỷ điện rất lớn. Quy hoạch bậc thang thuỷ điện trong lưu vực sông Lancang được bắt đầu tiến hành từ những năm 1980, có 25 bậc thang trên dòng chính với tổng công suất lắp máy là 25.870 MW và 120 trạm thuỷ điện trên các dòng nhánh với tổng công suất lắp máy là 2.600 MW.

Hiện nay, có 8 công trình thủy điện chính trên sông Lan Thương đã và đang xây dựng gồm: Đập thủy điện Cống Quả Kiều cao 105 m, theo kế hoạch trữ nước vào tháng 6/2011. Đập thủy điện Tiểu Loan (Xiaowan) cao 292 m, công suất 4.200 MW sẽ đưa vào hoạt động tháng 10/2009. Đây là đập lớn thứ 2 sau đập Tam Hiệp khổng lồ trên sông Dương Tử.

Dưới đó là đập Mãn Loan (Man Wan) cao 132 m, dung tích 920 triệu m3, công suất 1.500 MW hoàn thành 1993.

Đập Đại Triều Sơn (Dachaoshan) cao 118 m, dung tích 940 triệu m3, công suất 1.350 MW hoàn thành cuối năm 2003.

Tiếp đó là đập Cảnh Hồng (Jinghong) cao 108 m, công suất 1.500 MW hoàn thành 2009. Ngoài ra, còn 3 đập khác đang trong quá trình xây dựng là Nọa Trát Độ (Nouzhadu), đập Cảm Lâm và đập Mãnh Tống nằm ở đoạn hạ lưu sông Lan Thương.

Ngoài ra, Lào có kế hoạch nghiên cứu xây dựng 23 đập thủy điện, trong đó có đập Ban Koun công suất lớn nhất khoảng 2000 MW.

Thái Lan ngoài 2 con đập Sakamen 1 và 3, đã có kế hoạch tái khởi động xây dựng các đập trên sông Mekongdự kiến công suất 4.000 MW. Phía Campuchia cũng nghiên cứu 2 đập thủy điện là Sambor và Stung Treng có công suất khoảng 3.600 MW.

Lợi và hại

Có 2 xu thế quan điểm về xây dựng các đập thủy điện trên sông Mekong. Những người ủng hộ cho là con người ngày càng đông, kinh tế ngày càng phát triển, mọi nhu cầu cho con người và cho phát triển kinh tế đều cần nước, do đó phải xây dựng đập thủy điện là loại năng lượng sạch, tái tạo được, đập có tác dụng để trữ nước, phát điện, cắt lũ và điều tiết nước trong mùa khô cho hạ lưu.

Những người phản đối xây đập thủy điện, ngày càng gia tăng, lên án mạnh mẽ đập thủy điện làm ngập đất, rừng, dân cư phải di dời, làm thay đổi chế độ dòng chảy, và môi trường sinh thái. Xét về dòng chảy mùa kiệt, mùa lũ và tổng lượng nước năm lưư vực sông Lancang tính đến biên giới Trung Quốc chiếm khoảng 1/4, 1/5 và 1/6 lần dòng chảy mùa kiệt, mùa lũ và tổng lượng nước năm sông Mekongtại Kratie.

Như vậy việc khai thác sử dụng tiềm năng thuỷ điện lưu vực sông Lancang chắc chắn sẽ có ảnh hưởng đến lượng nước, lượng điện, nông nghiệp, thuỷ sản, giao thông thuỷ và môi trường sinh thái vùng hạ lưu sông Mê Công, nhất là đối với các nước Lào, Thái Lan, Campuchia và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Các đập thủy điện ở Trung Quốc và các hồ chứa ở Thái Lan, Lào và Campuchia sẽ làm chậm tốc độ dòng chảy thiên nhiên của sông, làm bồi lắng một lượng phù sa lớn tại hồ, thay đổi động lực dòng chảy gây sói lở các đoạn sông hạ lưu, đập chắn đường đi cho chu trình sinh sản đồng thời cũng làm thay đổi chế độ phù du, dinh dưỡng sông ảnh hưởng đế chu trình sinh sản và sinh trưởng của các loài cá, tác động đến sinh kế của người dân ven sông.

Xin lưu ý riêng lượng phù sa từ thượng nguồn Trung Quốc chiếm khoảng 40% tổng lượng phù sa của sông Mê Công. ĐBSCL hàng năm người dân vẫn mong lũ về (còn gọi là mùa nước nổi) để khai thác thủy sản, vệ sinh đồng ruộng, lấy phù sa. Chỉ riêng các tỉnh trong vùng ven biên giới Việt Nam-Campuchia, mùa nước nổi hàng năm cũng thu nhập khoảng 4.500 tỷ đồng.

Nhận định về các kế hoạch khai thác sông Mekong của Trung Quốc, Tyson Roberts thuộc Viện Nghiên Cứu Nhiệt Ðới Smithsonian (Mỹ) đã phát biểu: “Xây các đập thủy điện, khai thông thủy lộ, với tàu bè thương mại quá tải sẽ giết chết dòng sông. Các bước khai thác của Trung Quốc sẽ làm suy thoái hệ sinh thái, gây ô nhiễm tệ hại, khiến con sông Mekong đang chết dần, cũng giống như con sông Dương Tử và các con sông lớn khác của Trung Quốc.”

Do những phản đối xây đập ngày càng nhiều, khiến cho các tổ chức quốc tế như ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng phát triển Á Châu (ADB) cũng lo ngại vì xây đập hồ chứa cần rất nhiều tiền mà phần lớn các nước đang phát triển muốn thực hiện, thì phải đi vay.

Một Ủy ban thế giới về Đập có tên là “World Commission on Dams” đã được thành lập năm 1998 để nghiên cứu và đưa ra các đánh giá về tác động tiêu cực của đập và đưa ra các khuyến cáo cần thiết. Sau 4 năm nghiên cứu hàng nghìn đập trên thế giới (có 2 đập ở Việt Nam) ), Ủy ban thế giới về Đập đã đưa ra 7 nguyên tắc chiến lược khi xây dựng đập cần thực hiện là:

(1) Cần có sự chấp nhận của công chúng;
(2) Cần đánh giá toàn diện các phương án khác nhau có thể;
(3) Đánh giá về tác động của các đập hiện có;
(4) Bảo đảm bền vững cho con sông và sinh kế cho người dân;
(5) Công nhận quyền và chia sẻ lợi ích;
(6) Đảm bảo tuân thủ (pháp lý quốc tế, khu vực, quốc gia, quy trình…)
và (7) Sử dụng các sông vì mục đích hòa bình, phát triển và an ninh.

Vùng hạ du sẽ chịu ảnh hưởng lớn

Đất nước ta đang đi vào con đường hội nhập, đòi hỏi phải có chiến lược phát triển chủ động, bền vững, trước mắt cũng như lâu dài. Để phát triển kinh tế - xã hội đúng hướng đòi hỏi phải xây dựng chiến lược phát triển các ngành, các lĩnh vực, trong đó có chiến lược quản lý tài nguyên nước và lưu vực sông.

ĐBSCL chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Sản lượng nông nghiệp của ĐBSCL chiếm trên 50% cả nước, riêng lương thực xuất khẩu 90%, cây ăn trái và thuỷ sản khoảng 70% so với cả nước lại nằm hạ nguồn sông Mekongcho nên mọi tác động ở thượng nguồn như xây đập, lấy nước phát triển nông nghiệp đều ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nước ta.

Lưu vực sông Mekong hiện nay và trong tương lai giữ một vai trò quan trọng không chỉ trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia ven sông mà còn cả trong phát triển hợp tác kinh tế và chính trị trong khu vực. Nhu cầu khai thác và sử dụng tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan trong lưu vực sông Mekong tại các nước ven sông sẽ ngày càng lớn và chắc chắn sẽ tăng đáng kể trong tương lai.

Do đó việc sử dụng công bằng, hợp lý, phát triển bền vững và bảo vệ nguồn tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan đã và đang trở thành một nhu cầu cấp thiết. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước và quản lý tổng hợp lưu vực sông là hướng đi phù hợp với xu thế chung của thế giới hiện nay.

Quản lý tổng hợp tài nguyên nước và quản lý tổng hợp lưu vực sông bao gồm 3 nội dung chính là phát triển (quy hoạch và xây dựng công trình), quản lý (phân bổ, giải quyết tranh chấp, quản lý ô nhiễm...) và bảo vệ (bảo vệ rừng, quản lý phân bón, thuốc trừ sâu, cơ cấu mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp, bảo vệ dải ven bờ...).

Điều đáng lo nhất là các nước hạ lưu không ai nắm được cụ thể quy trình vận hành của các nhà máy thủy điện của Trung Quốc. Theo tôi biết, phía Trung Quốc chỉ có thông báo một số thông tin từ 2 trạm thủy văn về mùa lũ, không có số liệu về mùa khô cho nên muốn tính toán, kiểm tra lại quy trình vận hành là rất khó khăn, nan giản.

Một số nhà khoa học cũng lưu ý để tránh tình trạng cực đoan, các nước cần tăng cường hợp tác, trao đổi thông tin, đối thoại, minh chứng trên luận cứ khách quan và khoa học để làm sao tác động về lợi của các công trình đập thủy điện và đập dâng là lớn nhất và thiệt hại là ít nhất.

Cần thái độ hợp tác rõ ràng

Trong xu thế hội nhập của thế giới, việc khai thác sử dụng nguồn nước sông Mekong là quyền lợi chung của tất cả các nước trong lưu vực. Cần quan tâm, thúc đẩy việc xây dựng cơ sở pháp lý của hợp tác quốc tế trong việc khai thác sử dụng các lưu vực sông quốc tế và quảng bá các nguyên tắc này nhằm thiết lập một hệ thống quốc gia cho các hoạt động khai thác nguồn nước; theo dõi việc sử dụng nguồn nước sông quốc tế trong lãnh thổ Việt Nam cả về số lượng và chất lượng cụ thể là 2 trạm chính ở Tân Châu và Châu Đốc; quảng bá kinh nghiệm của Việt Nam trong các diễn đàn quốc tế nhằm nâng cao uy tín của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề cần thương lượng.

Vấn đề thiết thực nhất là cần cập nhật các thông tin, số liệu cơ bản, tiến hành nghiên cứu tổng hợp đánh giá về tác động của các đập thủy điện và các đập dâng của các nước thượng lưu kể cả của Trung Quốc, Thái Lan, Lào và Campuchia cùng với tác động của biến đổi khí hậu , nước biển dâng ảnh hưởng đến ĐBSCL.

Việc các nước ở thượng lưu sông Mekong tiến hành xây dựng các đập thủy điện để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế là xu thế không thể đảo ngược. Sông Mekong là sông quốc tế nên rất cần có tiếng nói chung của các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học để minh chứng cho các lập luận về nguyên tắc chia sẻ nguồn nước.

Hay nói cách khác con sông Mekong có thể quanh co nhưng thái độ hợp tác của các nước ven sông phải rõ ràng, minh bạch vì quyền lợi chung của cả lưu vực.

Ngoài việc tăng cường hợp tác hoạt động qua khuôn khổ 4 nước hạ du của Ủy hội sông Mekong (MRC) cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành của Việt Nam qua các chương trình hợp tác song phương và đặc biệt là Sáng kiến tiểu vùng Mekongmở rộng (GMS) có đầy đủ cả 6 thành viên Mê Công.

Trong tương lai, thế giới sẽ phải đối phó với cuộc khủng hoảng về nước, không hẳn chỉ vì thiếu lượng nước để dùng, mà còn vì chất lượng nước tồi tệ đến mức không sử dụng được. Ban đầu là con người không thể uống được, kế đến là không thể nuôi trồng thủy sản và tiếp nữa là không thể tưới tiêu.

Câu ta thán nổi tiếng của người phương Tây “Water, water everywhere, not a drop to drink” (Nước, nước ở mọi nơi, nhưng không một giọt uống được) nếu không có các biện pháp đối phó thích hợp thì chẳng bao lâu sẽ trở thành hiện thực ở vùng Châu thổ sông Mêkông!

Nguồn nước sông Mekong ngày càng quý hiếm. Để chủ động trong khai thác nguồn nước sông Mekong một cách vững bền, quan điểm của chúng ta là các chương trình, kế hoạch phải được xây dựng từ Tầm nhìn phát triển của ĐBSCL là "Quản lý thiên tai một cách hiệu quả, sử dụng tài nguyên một cách khôn ngoan, vì một ĐBSCL kinh tế ổn định và thịnh vượng, môi trường đa dạng và bền vững".

Xin mượn lời giáo sư Kader Asmal, Bộ trưởng Giáo dục Nam Phi, Chủ tịch Ủy ban thế giới về đập để kết luận cho bài viết này: "Có lẽ bạn nhìn thấy một công trình bằng bê tông nhẵn nhụi, có hình dạng prabol, dường như nó phát điện-nguồn điện rẻ tiền chạy qua tuốc bin ở dưới đáy. Các kỹ sư tôn thờ nó, các nhà sinh thái nguyền rủa nó, các bộ lạc thổ dân bị mất nền văn hóa vì nó. Ngành đánh cá địa phương đổ xô vào sau khi công trình hoàn thành, nhưng lũ lụt lại giảm bớt. Con đập không làm ô nhiễm không khí và nguồn nước còn cung cấp cho các đô thị lân cận, biến đất cằn thành đất canh tác mầu mỡ, con người và động vật phải di dời, nhưng lợi nhuận kinh tế mang lại thực sự có giá trị. Con đập chính là hiện thân tham vọng của các chính khách, nhưng khi họ tiếp cận các kế hoạch đầy tham vọng trên, những người e sợ dương cao khẩu hiệu như “hãy cứu con sông thân yêu của chúng ta”.
http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/7518/index.aspx
* TS. Tô Văn Trường