QuocHung's Blog

18 thg 8, 2009

TTO: Kẹt cứng các cửa ngõ TP.HCM - Kỳ 2: Nhích từng tí ở cửa ngõ miền Tây

Hơn một tháng qua, trên quốc lộ 1A, đoạn từ xã Mỹ Lệ (Long An) đến bến xe miền Tây (TP.HCM) và ngược lại, mỗi ngày có hàng chục ngàn chuyến xe tải, xe khách, container... nối đuôi nhau nhích “từng centimet” vượt qua đoạn đường này.

Chiều 12-8, chúng tôi đi thực tế trên đoạn đường này theo chiều từ Long An lên TP.HCM và ngược lại, xe hơi đủ các loại nối khít đuôi nhau rồi ùn lại ngã tư Quán Chuối, nơi giao nhau giữa quốc lộ 1A với đường Bùi Thanh Khiết và Tân Quý Tây (huyện Bình Chánh, TP.HCM). Tài xế xe tải Minh Hoàng, chỉ tay vào một rừng xe đang bí rị, bức xúc: “Mỗi ngày kẹt hai cữ, sáng - chiều đều đều, cuối tuần thì khỏi nói, xe lớn xe nhỏ nối đuôi nhau chết đứng, không thể nhúc nhích”.

Nỗi lòng tài xế

Tài xế Hoàng cũng như các tài xế khác ngồi gà gật ngủ chờ qua giờ kẹt xe ở ngã tư Quán Chuối. Gần một giờ mà xe của anh mới bò được chừng 500m. Tài xế Hoàng vò đầu: “Tui vận chuyển trái cây từ Cao Lãnh lên Sài Gòn, gặp kẹt xe như thế này là tiêu”.

Theo anh Hoàng, tình trạng ách tắc giao thông chủ yếu vào buổi sáng (từ 7g-9g) và buổi chiều tối (từ 17g-20g). Nguyên nhân do công trình thi công thuộc dự án cải tạo hệ thống thoát nước, đường và vỉa hè đang dựng rào chắn khiến đoạn quốc lộ 1A này bị thắt cổ chai. “Kẹt xe, trễ hẹn giao hàng, trái cây lại bị héo nên mấy chuyến rồi tôi phải bù đến vài triệu đồng cho chủ thuê chở hàng” - anh Hoàng buồn rầu nói.

Kế xe anh Hoàng, Minh Tân - tài xế xe tải của một công ty TNHH ở An Giang - than thở: “Tôi mới nhận lái thử việc, vậy mà chở me chua và bông gòn sấy vào TP.HCM bị trễ liên tục. Sáng nay tôi rút kinh nghiệm đi trước vài giờ nhưng cũng vướng kẹt xe. Kiểu này tháng sau tôi bị đuổi việc là cái chắc!”.

Ở chiều từ hướng TP ra, hàng dài xe cũng nối đuôi nhau kẹt cứng. Anh Võ Huy Tâm, tài xế xe chất lượng cao chuyên chở du khách nước ngoài, bức xúc: “Tôi hành nghề đã hơn chục năm, chưa bao giờ thấy tình trạng kẹt xe ngán ngẩm như thời gian gần đây”.

Anh Tâm kể cách đây gần tháng có nhóm du khách Hàn Quốc yêu cầu anh chạy để có mặt tại Mỹ Tho (Tiền Giang) đúng 10g30. Anh cho xe chạy sớm, nhưng do kẹt xe nên để vượt qua đoạn đường từ ngã tư Quán Chuối đến chợ Bình Chánh (chỉ khoảng 1km) phải mất hơn hai giờ. Hôm đó xe tới được Mỹ Tho đã gần 13g, mặt mày các du khách sù sụ bực tức.

Chiều 6-8, tuyến quốc lộ 1A, đoạn chợ Bình Chánh - Vườn Chuối - ngã tư Hoàng Đạo Thúy diễn ra kẹt xe từ 17g30-19g30. Có ít nhất bốn xe cứu thương di chuyển từ hướng miền Tây lên bị kẹt cứng. Vợ chồng anh Thanh Hùng - chủ tiệm cơm tại C5/3, ấp 3, xã Tân Túc, huyện Bình Chánh - kể: “Tuần trước có một xe cứu thương mắc kẹt nhiều giờ liền. Tài xế đành lấn sang lề trái, chạy ngược chiều trước sự ngơ ngác của nhiều người qua lại”. Còn anh Thiện, chủ quán phở Quỳnh (C4/26A, xã Tân Túc, huyện Bình Chánh), cho biết thường xuyên chứng kiến xe của lực lượng cảnh sát giao thông đi làm nhiệm vụ nhưng đành bất lực vì bị kẹt cứng giữa một rừng xe lớn nhỏ.

Dân than

Cô giáo Lê Thị Thu (quê Gò Đen, Long An) mỗi ngày đều phải vào TP.HCM để dạy học ở Trường trung cấp nghề Vạn Tường (Q.10) than vãn: “Ngày nào tôi cũng phải điên đầu “bò” qua đoạn đường này. Khi thoát được đám bùng nhùng kẹt xe thì áo quần đã lấm lem bùn đất hết trơn. Chắc từ tuần sau tôi phải thuê hoặc ở nhờ nhà người thân tại TP thôi”.

Anh Tài - một người chạy xe ôm lâu năm ở đoạn đường này - chỉ tay về phía đoàn xe đang bị kẹt giải thích: “Trước làm đường, dựng rào chắn ở bên trái thì kẹt xe hướng TP.HCM ra. Giờ dựng rào chắn ở bên phải, làn xe vào TP.HCM bị ứ đọng”. Nhiều xe tải đã tìm cách “mở lối thoát”, rẽ vô các đường ngắn vòng qua Chợ Đệm và thoát ra đường Bùi Thanh Khiết, khiến nơi đây trở nên lầy lội.

Anh Thiện kể lể: “Ế ẩm lắm! Mấy tháng nay tôi phải bấm bụng chi trả tiền nong cho hơn chục nhân viên, trong khi doanh thu giảm đến 70%. Một loạt quán xá, cửa tiệm bị hàng rào công trình chắn lối như thế, buôn bán sao được”. Cô Hôm (nhà số C9/13, quốc lộ 1A) nói trước đây buổi sáng bán bún, trưa bán cơm, vợ chồng sống không đến nỗi, nhưng cả tháng qua cô đành đóng cửa quán. Hiện nay thu nhập của cả gia đình chỉ trông chờ vào tủ thuốc lá bán cho công nhân thi công đào đường.

Công trình trên quốc lộ 1A đoạn cửa ngõ TP ở khu vực huyện Bình Chánh không chỉ gây ách tắc giao thông mà còn làm nhiều người sống “bám” khúc lề đường bị cắt thu nhập. “Đường với sá, không biết bao giờ mới xong để cho dân nhờ...” - một người dân than thở.

Theo TTO

Sắp hoàn thành công trình lắp đặt cống


Ông Võ Hoàng Việt Tuấn, phó giám đốc Khu Quản lý giao thông đô thị số 4, cho biết công trình thi công lắp đặt cống thoát nước trên quốc lộ 1A đoạn từ huyện Bình Chánh đến giáp ranh tỉnh Long An có tổng chiều dài khoảng 12km.

Đến nay, gói thầu số 1 và số 4 đã hoàn thành 95-100%, gồm lắp đặt cống thoát nước và làm vỉa hè. Riêng gói thầu số 2 và số 3 đang thi công phía bên trái tuyến đường dài 4km, dự kiến hoàn thành vào tháng 10-2009.

Khi công trình lắp đặt cống hoàn thành thì kẹt xe ở đoạn Bình Chánh - Long An sẽ giảm nhiều. Tuy nhiên, ông Tuấn cũng nói ngân sách mới cấp cho công trình 40 tỉ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án là 150 tỉ đồng. Hiện các nhà thầu đang thiếu vốn trầm trọng, nếu không được ngân sách cấp vốn tiếp có khả năng tiến độ công trình chậm so với kế hoạch.

N.Ẩn

TTO = Kẹt cứng các cửa ngõ Sài Gòn - Kỳ 1: Xa lộ siêu ùn tắt

Xa lộ Hà Nội - một trong những cửa ngõ vào TP.HCM quan trọng nhất - đang trở thành nỗi ám ảnh với cánh tài xế và nhiều người đi đường. Tất cả đều ngán ngẩm nạn kẹt xe hàng giờ đồng hồ, người và xe ken đặc, chen nhau nhích từng chút trong cảnh khói xe đen ngòm nhả mùi nồng nặc, ngột ngạt.

1. “Có nhà mà không được về nhà. Có vợ mà không được về với vợ. Thiệt không ai khổ như đời tài xế. Tụi tui phải ăn ngủ trên xe, chờ hàng về chạy cho lẹ chứ kẹt xe là ăn cám” - Nguyễn Ngọc Sơn, một tài xế trẻ chạy xe container vào cảng Cát Lái, than thở. Nhà ở đường Kha Vạn Cân (Q.Thủ Đức) nhưng suốt một tuần nay Sơn vẫn chưa được về nhà. Anh vừa cưới vợ một tháng. “Kẹt từ Cát Lái kẹt ra, kẹt từ ngã tư RMK kẹt... về nhà” - Sơn tếu táo nói.

Theo nhiều tài xế, kẹt xe trên xa lộ Hà Nội chủ yếu do đường hẹp, có nhiều đoạn nút cổ chai, trong khi lưu lượng xe qua lại rất lớn (lượng xe container vào cảng Cát Lái lên tới 12.000-13.000 chiếc mỗi ngày). Những điểm kẹt xe kinh hoàng là ngã tư RMK và ngã ba Cát Lái. Một tuần kẹt 4-5 ngày, từ thứ tư đến thứ bảy. Đó là thời điểm hàng về và hàng xuất rất nhiều. “Giờ giấc kẹt xe vô chừng lắm, tùy vào thời điểm tàu vào ăn hàng ở cảng Cát Lái. Nhưng thường là kẹt tầm 11g-12g trưa, 4g-6g chiều và từ 10g đêm, khi xe container vào TP. Mấy bữa trước, tui đi từ ngã tư RMK qua cầu Rạch Chiếc chỉ mấy chục mét nhưng “bò” hơn một giờ” - anh Ngô Văn Tín, lái xe container ở bãi gần ngã tư Bình Thái, cho biết.

Theo cánh tài xế, trước đây nếu một ngày xe container chạy được 5-6 chuyến (mỗi chuyến được trả 100.000 đồng) thì bây giờ họ chỉ chạy được 1-2 chuyến. Thu nhập giảm tới 2/3. Đó là chưa kể vô số nỗi khổ khác xảy ra xung quanh câu chuyện kẹt xe. Tài xế xe tải Nguyễn Thông tức tối kể: “Tui mới mua chiếc điện thoại 1,7 triệu đồng, xài chưa được một tuần, hôm bữa kẹt xe 3-4 giờ, mệt quá ngủ quên, bọn trộm cắp ở ngã ba Tân Vạn leo lên cabin cuỗm mất. Nhiều người sáng nhận lương chưa kịp đưa cho vợ thì tối kẹt xe, ngủ quên bị dân đạo chích lấy hết”.

2 Gần 11g, xa lộ Hà Nội, đoạn ngã tư Thủ Đức, ken đặc xe container và các loại xe tải, xe khách, xe du lịch. Rất nhiều ôtô và xe máy luồn lách đổ dồn vào những con đường nhỏ hai bên. Các đường nhỏ như đường số 2, đường Đoàn Hữu Trưng, đường số 8... (P.An Phú, Q.2) đều bị hư hỏng nặng, ổ gà lồi lõm, vũng sình lầy lội. Cô Phan Thị Mây - một người dân ở đường Đoàn Hữu Trưng - cho biết: “Ngoài xa lộ kẹt thì trong này xe to xe nhỏ kéo nhau vào chạy, băm nát cả đường. Chúng tôi rất khổ sở khi phải sống chung với tiếng xe chạy ầm ầm, khói bụi mịt mù cả ngày lẫn đêm”.

Người dân trên đường Nguyễn Xiển (xã Quyết Thắng, Dĩ An, Bình Dương) cũng phải sống chung với kẹt xe bằng cách làm cửa kính và đóng cửa suốt ngày đêm. “Cứ tầm 8g-12g là kẹt xe từ ngoài ngã ba Tân Vạn, vậy là xe cộ đổ vào đây, khiến cả con đường này cũng kẹt cứng. Khói bụi, ồn ào, xe chạy loạn xạ, tai nạn liên tục xảy ra. Bây giờ con đường này không còn là đường Nguyễn Xiển nữa mà là đường “liểng xiểng” mất rồi” - ông Bùi Duy Độ, một người dân ở đây, than thở.

Các vị trí khoanh vòng trên hình là những điểm “siêu ùn tắc” trên xa lộ Hà Nội - Đồ họa: NHƯ KHANH

3 Bảng phân công lịch trực của Đội cảnh sát giao thông Rạch Chiếc luôn dày đặc với các ca trực 24/24 giờ. Mỗi người phải đảm nhiệm hai ca trực, gồm một ca ngày và một ca đêm. Ngã ba Cát Lái là chốt nóng nhất về tình trạng kẹt xe nên những ca trực ở đây đầy gian nan.

Gần nửa đêm, đại úy Lê Văn Chung (Đội cảnh sát giao thông Rạch Chiếc) và thượng sĩ Nguyễn Thành Danh (thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn cảnh sát cơ động đóng quân tại Thủ Đức) vẫn toát mồ hôi hột chạy tới chạy lui trong đám khói bụi dày đặc để gỡ lối thoát cho dòng xe đang ùn lại. “Suốt 16 năm làm ở đây, tôi chưa thấy lúc nào căng thẳng như thời gian gần đây. Kẹt xe cả mấy tiếng đồng hồ, có khi kẹt luôn cả ngày, có những ca trực suốt bốn giờ anh em không được ngồi nghỉ một giây” - đại úy Lê Văn Chung vừa nói vừa ho sù sụ trong khói bụi.

Trung tá Phạm Văn Tuyến, đội phó Đội cảnh sát giao thông Rạch Chiếc, nói: “20 năm làm nghề cảnh sát giao thông tới giờ tôi mới thấy cảnh kẹt xe lâu tới mức tài xế phải tắt máy xe ngủ hàng loạt. Hết kẹt thì họ đã ngủ say. Anh em cảnh sát giao thông phải chạy xe dọc đường, đập cửa cabin gọi từng tài xế dậy”.

4 Gần 17g. Giao thông ở vòng xoay ngã ba Vũng Tàu như bị chặn đứng lại
. Bóng những chiếc áo vàng như bị nuốt chửng giữa cơ man xe và người. “Con gái tui đi làm trên Sài Gòn, mỗi lần đi làm về là bị kẹt từ cầu Sài Gòn tới tận nhà. Nhà tui ở gần cầu Đồng Nai nhưng do kẹt dữ quá, thay vì chỉ cần chạy qua cầu Đồng Nai rồi ôm theo vòng xuyến chạy ngược lại về hướng cầu chút xíu là tới nhà thì mấy ổng (cảnh sát giao thông) không cho mà bắt phải chạy thẳng lên cả trăm mét, có khi chạy tuốt lên ngã tư bồn nước, ngã tư Tam Hiệp mấy cây số mới chạy vòng lại về nhà” - ông Đinh Văn Kính, một người dân ở ngã ba Vũng Tàu, phàn nàn.

“Kẹt xe thì chỉ có cánh xe ôm là ngon lành thôi. Còn mấy ông taxi mỗi lần kẹt xe là đói mốc meo. Chạy xe ôm có 2km mà tới 20.000 đồng người ta vẫn đi ào ào, trong khi taxi có 8.000 đồng/km thì hổng ai thèm rớ. Cũng vì kẹt xe mà thằng Tú chạy taxi ở đây hai lần “được” làm... ông đỡ đẻ đó.

Đang chở bà bầu tới Bệnh viện Từ Dũ thì bị kẹt xe gần hai giờ. Nó toát cả mồ hôi khi người phụ nữ chuyển dạ trên xe, gào khóc quá chừng. Lần đầu tiên đỡ đẻ, nó lính quýnh mãi mới đưa đứa nhỏ ra rồi chạy tới Bệnh viện Từ Dũ cắt rốn” - anh Tài, một tài xế taxi ở ngã tư Thủ Đức, kể.

17 thg 8, 2009

Vợ - Bồ và Tiền

Chỉ có tiền mới hiểu
Bồ thương ta nhường nào,
Chỉ có vợ mới biết
Tiền lương ta là bao.

Những ngày chưa kịp khao,
Bồ dạt dào thương nhớ.
Những lần lương bị hao,
Lòng vợ đau - rạn vỡ.

Nếu từ giã tiền rồi,
Bồ cũng bay theo gió.
Nếu phải cách xa lương
Vợ chỉ còn bão tố.

Dương Trung Quốc : Thiên nhiên nước ta giàu hay nghèo?

Đã một thời, học trò trên ghế nhà trường nghêu ngao lời giảng của thầy: "Nước ta rừng vàng, biển bạc, nhân dân cần cù". Rồi lại một thời người ta phê phán rằng dạy học trò như vậy là không đúng mà phải học nước Nhật Bản luôn dạy cho trẻ biết rằng nước mình nghèo để nuôi và giữ lấy cái chí phấn đấu và cái đức tiết kiệm.

Thú thực đến nay tôi cũng không biết tài nguyên là nước ta giàu hay nghèo. Nhưng điều chắc chắn là thiên nhiên nước ta không nghèo. Tây đánh rồi chiếm nước ta trước tiên vì thấy cái mỏ than ở bên bờ biển gần cảng nước sâu, từ đó có thể thâm nhâp vào vùng Tây Nam Trung Quốc và 2 vựa thóc ở hai đầu quốc gia cùng cả một dải bờ phơi lưng ra biển cả, ngay kề con đường hảng hải quốc tế mà một thời được ví là "con đường tơ lụa xanh".

- Cái mỏ than ấy khai thác đến nay vẫn chưa hết, sắp hết thì lại phát hiện cả một vùng than khổng lồ nằm ngay dưới lòng đồng bằng Bắc Bộ rộng lớn. Còn hai vựa lúa thì cuối thế kỷ XIX đã xuất khẩu gạo; còn đến nửa cuối thể kỷ XX chỉ cần biết "cởi trói" khỏi cách làm ăn tập thể thiếu dân chủ và khoa học của thời "cải tạo xã hội chủ nghĩa" là đã đứng vào "top" các nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

Từ cái cây cà-phê do mấy cố đạo mang từ phương xa đến trồng ngoài vườn để có thức uống theo tập quán, Tây đã nhận thấy cái chất đất màu mỡ để mở mang đồn điền, nhất là sau khi đặt chân được lên vùng đất đỏ badan Tây Nguyên, để giờ đây hội nhập với kinh tế thế giới Việt Nam đã là Á quân của thị trường sản xuất hạt cà-phê. Với một số loài cây công nghiệp khác như cao-su, tiêu, điều... không ai dám bảo rằng đất nước ta cằn cỗi.

Rồi chiến tranh vừa kết thúc, nền kinh tế bị tàn phá nặng nề cần khôi phục thì cũng là lúc, nhờ phúc ấm của tổ tiên, đất nước Việt Nam lại khơi được nguồn dầu khí từ ngoài thềm lục địa, hút lên bồi bổ suốt mấy chục năm qua mà mỗi năm cứ đọc báo cáo về nguồn thu cho ngân sách mới giật mình tự hỏi rằng nếu nước mình không có dầu khí thì lấy gì mà sống, vì cho đến nay nó vẫn chiếm một tỉ trọng rất cao.

Rồi đất đai, vẫn là những thửa đất ấy, công sức biết bao đời ông cha ta khai phá và gìn giữ giỏi giang đến mức "chỉ có thêm không có bớt" từ mạn trung du phía Bắc mở cõi đến tận đồng bằng cực nam của Tổ quốc. Giờ đây chỉ cần chuyển đổi công năng và quyền sử dụng nó đã trở thành vàng thành bạc theo đúng nghĩa đen của giá trị. Thử hỏi, đến nay có ai làm giàu, từ quan đến dân mà không dính đất cát, có địa phương nào không giàu lên nhờ dự án liên quan đến đất?

Và nếu xem du lịch là một thế mạnh thì Việt Nam hoàn toàn tự tin mà nói rằng thiên nhiên của ta rất đẹp, giàu tiềm năng... Thiên hạ khen là điều có thật. Tôi đã gặp mấy nhà đầu tư giàu có Trung Đông sang ta với ý tưởng làm một thành phố quốc tế tiêu cả trăm tỉ đô. Họ bảo, nước chúng tôi dầu sắp cạn rồi, vốn liếng nhiều nhưng phải tính đến sự chuyển đổi sang nghề làm đô thị sinh thái cho tương lai.

Trên đất nước họ, giữa sa mạc họ xây cao ốc, giữa biển cả họ đắp đảo xây cả khu đô thị sang trọng. Hỏi rằng sang Việt Nam có gì đặc sắc, họ cầm cái compa đặt tại một điểm ở miền Trung quay một vòng mà rằng: thấy chưa cái vị trí của Việt Nam, và chỉ vào cả dải bờ biển mà nói rằng khó kiếm đâu vùng biển đẹp và còn "hoang dã" (hiểu là chưa được đầu tư bài bản) như ở Việt Nam này...

Rồi nữa, người ta chứng minh là sắp tới, ta sẽ thành cường quốc sản xuất nhôm với những mỏ bôxít phủ khắp cao nguyên Trung phần. Những mỏ kim loại còn ủ trong đất, các mỏ đá quý đang phát lộ. Đọc trên báo chí thấy các nhà khoa học nước ngoài nói và hỏi các đồng nghiệp ở trong nước đều trả lời, rằng nước ta đa dạng sinh học vào bậc nhất thiên hạ. Bom đạn, chất độc da cam, nạn phá rừng, săn bắt động vật hoang dã trầm trọng như vậy mà vẫn còn được đánh giá như vậy.

Lên Tam Đảo, thấy người nước ngoài vác vợt, dăng đèn bắt côn trùng về làm tiêu bản, hỏi ra thì họ bảo đấy là cái kho của nhiều loài quý hiếm... Rồi một thời phát hiện sao la, nhiều loại động vật hiếm hoi còn sót lại trên thế giới còn len lủi trong thâm sơn cùng cốc nước ta. Tôi quen một nhà sinh học nổi tiếng, ông và đồng nghiệp lập quỹ gen của các loài vi sinh vật nói rằng riêng cái lĩnh vực này thì ta dám nhận là giàu có. Chỉ có điều muốn phát hiện để công bố phải hợp tác với các bạn Nhật. Hỏi vì sao, thì được trả lời rằng có bạn làm đồng tác giả thì việc công bố mới có tiếng vang.

Rồi các khu sinh thái, sinh quyển, đa dạng sinh học ở Việt Nam được quốc tế công nhận. Ngay vịnh Hạ Long không chỉ trở thành Di sản nhân loại vì cảnh đẹp mà còn nhân đôi nhờ tính độc đáo về địa chất, địa mạo, vân vân và vân vân... Đấy là chưa kể đến biển cả còn biết bao nhiêu điều chưa biết đến...

Thế thì không thể coi thên nhiên nước ta là nghèo. Chỉ có điều dân ta ngày nay có còn cần cù không thì phải bàn. Đúng là trong truyền thống nếu dân ta không cần cù thì làm sao có cái cơ đồ mà ngày nay chúng ta đang thừa kế. Nhưng còn phải kể đến ngày xưa có ông Lê Quý Đôn, đọc sách rồi đi khắp thiên hạ ghi chép tài nguyên của đất nước, có ông Tuệ Tĩnh và Hải Thượng đi tìm cây thuốc chép lại cho đời sau, có các Chúa Nguyễn sai người vượt biển cả ra đảo xa ghi chép và nhặt nhạnh đến cả các đồ vớt lên từ những con tàu đắm để quan sát, kiểm kê những nguồn lợi có thể thu về cho vương triều và cho cả tương lai... Trong thời đại kinh tế tri thức này dường như sự cần cù là chưa đủ.

Thời các cụ chỉ có cách ghi chép và truyền khẩu để ngày nay ta còn những "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi. "Nam dược thần hiệu" của Tuệ Tĩnh, "Vân Đài loại ngữ", "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn hay địa chí của quốc sử quán các đời v.v...

Thời Tây qua, họ hiện đại hơn và để có thể khai thác căn bản hơn, họ lập những bảo tàng liên quan đến thiên nhiên, tài nguyên của thuộc địa. Từ rất sớm họ đã lập những bộ sưu tập rồi trở thành Bảo tàng Địa chất ở Hà Nội (từ cuối thế kỷ XIX); Bảo tàng Tài nguyên biển, Hải dương học ở Nha Trang (từ nửa đầu thế kỷ XX); rồi khởi động bộ sưu tập tiêu bản các loại thú, loài cây trong khuôn viên Đại học Đông Dương...

Còn với công chúng, thì một trong những công trình được quan tâm sớm nhất trong thiết chế quy hoạch đô thị lớn là các vườn bách thảo, bách thú ở Hà Nội và Sài Gòn. Ví như, vườn Bách thảo (Thảo Cầm Viên) ở Sài Gòn được lập từ năm 1863, chỉ 1 năm sau khi Pháp chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ và năm 1877 bộ sách "Thảo mộc địa phương chí Nam Kỳ" (Flore Forestière de la Cochinchine) đã ra mắt tập đầu.

Điều đáng nói, là nước ta từ khi độc lập, thống nhất rồi đổi mới cũng đã có vài chục năm hoà bình và phát triển mà đất nước ta, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội chúng ta vẫn chưa làm thêm một cái gì đáng kể mang lại cho người dân những công cụ để nhận biết về tiềm năng tự nhiên của đất nước. Cả 2 thành phố với lãnh thổ và dân cư lớn lên gấp nhiều lần, đến nay vẫn chưa có được những vườn bách thảo hay bách thú tương xứng, trong khi không gian của nó không những bị thu hẹp mà ngày càng nghèo nàn về bộ sưu tập. Các bảo tàng về địa chất hay hải dương học mà người Pháp để lại vẫn được duy trì nhưng về căn bản vẫn chưa tương xứng với những gì ta đáng có.

Mới đây, tiếp cận với bộ hồ sơ về việc xây "Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam" càng thấy cám cảnh. Các nhà lãnh đạo từ thời Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã quan tâm, từ năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định... nhưng đến nay qua 4 lần thay đổi, dự án Bảo tàng vẫn chưa... cắm được đất.

Từ Xuân Đỉnh rồi chuyển qua Mỹ Đình rồi Đại Mỗ (Từ Liêm) đến cuối năm 2008 đẩy lên gần ngã ba Hoà Lạc-Tân Mai. Những tưởng đã "an cư" thì lại được biết đất này chính quyền đã cấp dự án cho doanh nghiệp xây khu đô thị... Thế là Bảo tàng Thiên nhiên vẫn còn nằm trên giấy. Cái câu hỏi mông lung: Thiên nhiên nước ta giàu hay nghèo dường như người dân vẫn vô phương hiểu được...

Theo LĐCT (DƯƠNG TRUNG QUỐC)

15 thg 8, 2009

Trung Quốc xây dựng một loạt đập thủy điện trên sông Mekong sẽ là mối đe dọa lớn cho tương lai của Đông Nam Á

Liên hợp quốc đã đưa ra cảnh báo, việc Trung Quốc xây dựng một loạt đập thủy điện trên sông Mekong sẽ là mối đe dọa lớn cho tương lai của Đông Nam Á. Xin giới thiệu những đánh giá của Tiến sĩ Tyson R. Roberts đăng trên Internationalrivers:
Trung Quốc có ý định phát triển thuỷ điện trên sông Mekong (nước này gọi là sông Lan Thương) tại Vân Nam cũng như làm một tuyến đường thuỷ chính nối Vân Nam tới Biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Hoa Nam) với khoảng cánh khoảng 2.500km.


(Tyson R. Roberts (Tiến sĩ, Đại học Stanford 1968) nghiên cứu ngư học tại lưu vực sông Mekong từ năm 1970 và chuyên làm việc trong lĩnh vực đánh giá tác động với môi trường của những dự án thuỷ điện ở Mekong. Ông đã giành nhiều giải thưởng trong lĩnh vực nghiên cứu ngư học tại vùng nhiệt đới châu Á).


Phần I- Thuỷ điện Lan Thương, nắn dòng Mekong : Nguy cơ báo trước

Kế hoạch đó đặt ra những vấn đề chưa từng thấy về môi trường và xã hội với các nước thuộc hạ nguồn sông Mekong như Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Sự suy giảm sinh thái trầm trọng với sông Mekong từ dự án là điều được biết trước. Và dĩ nhiên, những ảnh hưởng ấy sẽ không chỉ giới hạn với dòng sông này. Các nước vùng hạ nguồn sẽ buộc phải thực hiện những nỗ lực to lớn và kiệt sức nhưng không có hiệu quả để tự bảo vệ họ và tránh tác động với ngành nông nghiệp, nghề cá cũng như sinh kế.

Campuchia và Việt Nam, hai nước xa nhất ở hạ nguồn sẽ không còn hưởng lợi ích từ Mekong, đồng thời phải trải qua ảnh hưởng tiêu cực tồi tệ nhất từ dự án trên, đặc biệt là Biển Hồ của Campuchia cũng như vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.
Bản thân Trung Quốc cũng sẽ không tránh khỏi tác động bất lợi từ dự án trên. Quan ngại đặc biệt là vấn đề trầm tích của các hồ chứa thuộc đập thuỷ điện Lan Thương; lở đất xảy ra sẽ thường xuyên hơn, lớn hơn cũng như nhiều hậu quả khác mà các đập và hồ chứa gây ra.

Tuổi thọ thực tế của các đập thuỷ điện trên dòng Lan Thương dường như sẽ chỉ là vài chục năm thay vì một trăm năm như các nhà đề xuất dự án dự báo và mong muốn.

Nguy cơ thấy rõ
Theo các nhóm môi trường và chuyên gia, do các đập nước xây dựng ở những hẻm núi dốc đứng tại Vân Nam, Trung Quốc nhằm sản xuất điện cho nước này, mực nước ở sông Mekong đang tăng và giảm tới 1m/giờ, xáo trộn môi trường sống của cá, xói mòn bờ sông, cuốn trôi trầm tích và dinh dưỡng khi nó chảy về phía Nam.

Ian Campbell, quan chức môi trường cấp cao tại Văn phòng Ủy ban sông Mekong (MRC) tại Vientiane (Lào) nói: ’’Các đập nước của Trung Quốc là thủ phạm gây ra hầu hết mọi thứ. Tuy nhiên, không có nghiên cứu khoa học, mức độ tác động vẫn hoàn toàn có tính chất suy đoán".

Dự án cung cấp điện “các đập thủy điện Lan Thương” do Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đưa ra sẽ cho phép điều chỉnh lưu lượng nước vùng hạ du và cuối cùng là phát triển toàn bộ sông Mekong cho vận chuyển đường thuỷ.

Lợi ích của dự án thuỷ điện - đường thuỷ với các nước vùng hạ nguồn đòi hỏi việc khảo sát, xem xét thận trọng.

Người dân địa phương và các nước vùng hạ du phản đối dự án đập thuỷ điện - tuyến đường thuỷ ngày một gia tăng khi những thị trấn ven sông ở Myanmar, Lào, Thái Lan đã là nơi sớm nhất đã nếm trải những tác động tiêu cực rõ ràng từ việc xây hệ thống đập vùng thượng nguồn Mekong.

Khả năng những nước vùng hạ du sẽ buộc phải dành phần lớn trong các quỹ phát triển cũng như nhiều nguồn lực khác để giảm thiểu tác động bất lợi từ dự án.
Ảnh hưởng tiêu cực về môi trường và xã hội là quan ngại lớn nhất. Sáu hoặc bảy đập thuỷ điện, với độ cao từ 110-300 mét xây dựng trên dòng chính của sông Mekong (sông Lan Thương) ở tỉnh Vân Nam sẽ sản xuất điện vào năm 2020. Những đập này sẽ là mối đe doạ với sinh kế, tài sản, cuộc sống của mọi người dân các nước vùng hạ du. Với diện tích và sức chứa khổng lồ của các hồ chứa, hai đập cao nhất (254 và 300 mét) đặc biệt mang lại nguy cơ lớn nhất.

Hiệu ứng “domino” (tác động lôi kéo) của chúng gây nguy hiểm cho toàn bộ hệ thống. Chưa kể việc chặt cây, đốt rừng làm nông nghiệp, xây dựng đường sá sẽ làm gia tăng tỉ lệ xói mòn của các hẻm núi dốc đứng mà sông chảy qua phía trên các đập. Động đất thường xuyên và ngày một lớn, lở đất, cùng hàng loạt nguy cơ nghiêm trọng với đập Lan Thương, có lẽ cũng gia tăng.

Lở đất
Nguy cơ này được công nhận là phổ biến nhất.
Đập Tiểu Loan cao 300 mét với hồ chứa dài 169km dự kiến hoàn thành và bắt đầu chứa nước vào năm 2010. Đập Nuozhadu cao 254 mét (hồ chứa nước dài 226km) dự kiến hoàn thành sớm nhất vào năm 2017. Ước tính mỗi hồ tại đập cần ít nhất 10 năm để chứa đủ lượng nước cao 248m và 205m tương ứng.

Hiện tại, hệ sinh thái Mekong trong điều kiện tương đối “lành mạnh”. Xây dựng hệ thống đập ở dòng chảy chính vùng thượng nguồn Lan Thương cũng như mạng lưới đường thuỷ sẽ làm tổn thất về mặt môi trường, làm giảm giá trị nghiêm trọng của sinh thái học.

Việc tách trầm tích thượng nguồn và các chất dinh dưỡng trong các hồ chứa cũng như “điều khiển” dòng chảy trên cơ sở kiểm soát lượng nước thoát ra từ các đập thuỷ điện sẽ gây ra những tác động tiêu cực chính. Thuỷ năng tự nhiên của dòng sông bị giảm đi, xả nước không đúng quy luật liên quan tới phát điện cũng như những thay đổi tổng thể khác sẽ có hại tới quá trình đơn giản hoá sinh thái học, sụt giảm giá trị sinh thái sông Mekong.

Tác động môi trường sẽ không riêng lẻ mà là tổng thể, tích luỹ. Tổn thất to lớn về mặt sinh học chỉ là một trong những hậu quả nghiêm trọng được dự báo. Sẽ không chỉ là việc mất đi một số loài sinh vật đặc biệt, mà còn là những hậu quả bất lợi với con người cũng như thực trạng sụt giảm về số lượng rất nhiều loài cá di trú vốn đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp đánh bắt cá ở sông Mekong.

Thuỷ năng tự nhiên là thuộc tính cốt lõi của sông. Hiệu suất, sức khoẻ và sự duy trì của một con sông cũng như các thuộc tính đặc biệt của môi trường sống ven sông như vùng thác ghềnh, cửa sông, châu thổ đều liên quan trực tiếp tới thuỷ năng tự nhiên. Nó vận chuyển trầm tích và chất dinh dưỡng hạ nguồn, cung cấp nước và phù sa cho những đồng bằng châu thổ lớn, bổ sung nước ngầm và nâng cao năng suất, sự màu mỡ của đất.

Trong khi các tác động tiêu cực sẽ xảy ra với tất cả các nước có sông Mekong bao gồm cả Trung Quốc, thì hậu quả tồi tệ nhất sẽ là những quốc gia vùng hạ nguồn cách xa nhất với khu vực thượng nguồn: Campuchia và Việt Nam - nước hưởng lợi ít nhất và chịu tổn thất nhiều nhất.

Tác động tiêu cực từ sự thay đổi sông Mekong của Trung Quốc bao gồm ảnh hưởng với nghề cá, nông nghiệp, chất lượng nước, sức khoẻ và lâm nghiệp. Những thành phố, trung tâm cư dân lớn ở bên bờ Mekong tại Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam sẽ là “tâm điểm” của nhiều tác động về mặt vật lý học như xói mòn, lũ lụt bởi hệ thống đập thuỷ điện Lan Thương.

Tạo ra một tuyến đường thuỷ thích hợp ở sông Mekong sẽ liên quan tới việc di dời đá ngầm, các bãi cát cửa sông, đảo và nhiều thay đổi to lớn khác của lòng sông cũng như dòng chảy. Việc bảo trì tuyến đường yêu cầu liên tục nạo vét sông trên diện rộng.

Ảnh hưởng riêng từ tuyến đường thuỷ với khu vực hạ nguồn là suy giảm trầm trọng môi trường sống của các loài cá cũng như chất lượng nước. Giao thông đường thuỷ tấp nập chắc chắn để lại hậu quả ô nhiễm với cộng đồng ven sông cũng như năng suất mùa màng gieo trồng, cá và các sinh vật khác sinh sống tại sông Mekong.
Khơi dòng Mekong nhằm tối đa hoá khả năng vận chuyển đường thuỷ - mục đích rõ ràng của người Trung Quốc - sẽ làm giảm khả năng cản dòng của toàn bộ dòng chảy chính sông Mekong khu vực dưới Vân Nam. Nước sẽ chảy nhanh hơn ra biển, gây mất khả năng trữ nước. Hậu quả là khiến lượng nước thoát đi trong dòng chính của Mekong lớn hơn bao giờ hết, trong cả mùa khô lẫn mùa mưa.

Nguy cơ lụt lội gia tăng (kể cả lũ quét), hạn hán thêm trầm trọng. Khả năng trữ nước giảm cũng là nguyên nhân gây ra những thay đổi lớn với hệ sinh thái của sông và giảm năng suất nông nghiệp.

Tỉnh Vân Nam – khu vực xây dựng hệ thống đập trên sông Lan Thương – đã phá rừng diện rộng từ năm 1950. Trung Quốc vẫn nỗ lực bảo vệ lưu vực sông của hệ thống đập Thuỷ điện Lan Thương bằng các đồn điền cây trồng nhưng tới nay, vẫn chưa nhìn thấy thành công. Biến Mekong thành một tuyến đường thuỷ là rất khó khăn vì lòng sông nhiều đá ngầm, kênh rạch nhỏ, vô số thác ghềnh và đảo.

Tạo tuyến đường thuỷ trên phân khúc này sẽ lập tức “phơi bày” rừng cho chặt cây đốn gỗ với quy mô lớn. Những người đốn gỗ không ngại ngần tạo ra thêm nhiều đường sá và tìm tới nhiều nơi khác dọc theo khu vực sông để khai khẩn. Phá rừng trên diện rộng sẽ làm gia tăng tính bất thường của lượng mưa, làm trầm trọng hoá nạn lũ lụt, hạn hán vùng hạ du.

Phần II: Viễn cảnh ảm đạm từ việc nắn dòng Mekong

Trong phần này, Tiến sĩ Tyson R. Roberts tiếp tục đưa ra những tác động tiêu cực từ dự án xây dựng hệ thống đập thuỷ điện trên sông Mekong cũng như kế hoạch nắn dòng sông này phục vụ giao thông đường thuỷ của Trung Quốc.

Lũ lụt trầm trọng
Vào tháng 9 - 10/2000, Campuchia và khu vực châu thổ Mekong của nam Việt Nam trải qua nạn lũ lụt chưa từng có. Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long ở nam Việt Nam.

Khi ấy, tôi đang ở Phnom Penh và thành phố gần như chìm trong nước. Có thể so sánh nạn lụt bấy giờ giống như lũ lụt xảy ra ở Bangladesh và tỉnh Tây Bengal của Ấn Độ. Ở Nam Á, lũ lụt thường do lượng mưa khác thường bởi hiện tượng nóng lên toàn cầu, và sự quản lý tồi trong hệ thống đập thuỷ điện, đập thủy lợi. Ở Campuchia và Việt Nam, lũ lụt chỉ là do sự khác thường của lượng mưa. Đặc biệt, không thấy đề cập tới vai trò của đập Manwan của Trung Quốc. Cho dù trữ lượng nước của đập này không quá lớn, nhưng nó cũng đóng một vai trò theo cách này hay cách khác.

Đập Manwan sẽ ngăn dòng nước lũ (hay ít nhất là giảm bớt lũ lụt vùng hạ lưu)? Hay góp phần khiến mực nước vùng hạ du Mekong trở nên cao hơn vào tháng 9, tháng 10 năm 2000? Khi tôi đưa câu hỏi này ra với các quan chức ở trụ sở của Uỷ ban sông Mekong (MRC) tại Phnom Penh, họ trả lời kể từ khi Trung Quốc không phải là thành viên của MRC, họ không có bất cứ dữ liệu nào.
Tôi vẫn chưa có câu trả lời về đập Manwan và vai trò của nó trong nạn lụt tháng 9, 10/2000.

Các đập thuỷ điện trên sông Lan Thương của Trung Quốc sẽ đảm bảo cho những nước vùng hạ du tránh khỏi lũ lụt? Câu trả lời là “Có”. Hệ thống đập thuỷ điện có thể cung cấp một biện pháp chống lụt, nhưng chỉ phù hợp trong tình huống lũ lụt thông thường.

Mục đích chính của đập thủy điện là giữ nước để phát điện. Trong mùa mưa, nước được giữ lại để đảm bảo công suất phát điện cho mùa khô. Vì thế, khi xảy ra một trận lụt lớn và bất ngờ, các hồ chứa nước quá nhiều nước, có thể phải xả nước để đảm bảo an toàn cho đập và góp phần khiến nạn lụt vùng hạ du thêm trầm trọng. Điều này có lẽ đã xảy ra với đập Manwan trong mùa lụt tháng 9, 10/2000.

Khi một trận lũ lụt xảy ra quá mức dự đoán, ví dụ như kiểu lũ lụt 500 năm mới xảy ra một lần (các kỹ sư thuỷ điện gọi là lũ lụt 500 năm), các đập chứa nước lớn như dự án Tiểu Loan và Nuozhadu là một mối nguy thực sự.

Chúng phải lưu một lượng nước tương đương với 5 năm hoặc nhiều hơn của những mùa lụt “thông thường” để đạt tới mực trữ nước thông thường. Khi mùa lụt lớn hơn dự đoán xảy ra, các đập này sẽ phải xả nước càng sớm càng tốt. Nghĩa là cùng một lúc, mùa lụt vùng hạ du sẽ phải hứng chịu tổng lượng nước lụt của thượng nguồn cộng với lưu lượng nước của vài năm lụt trữ lại phía sau các con đập. Theo đó, hệ thống đập thuỷ điện của Lan Thương sẽ gây ra một thảm hoạ môi trường lớn hơn bao giờ hết.

Các vấn đề trầm tích
Nguy cơ nghiêm trọng nhất ảnh hưởng tới sự bền vững của hệ thống nhà máy thuỷ điện Lan Thương xuất phát từ khả năng chứa nước ngày một suy giảm do những dòng chảy trầm tích vào các hồ chứa. Tất cả những dấu hiệu hiện tại cho thấy, xói mòn đất đang diễn ra với tỉ lệ gia tăng và có lẽ, tỉ lệ vận chuyển trầm tích trong sông là kết quả của việc đánh giá không đúng mức khả năng của các hồ chứa trong việc hấp thụ tải trọng trầm tích (của dòng chảy).

Lan Thương chỉ chiếm khoảng 16% tổng lưu lượng nước của sông Mekong khi nó tới vùng châu thổ, nhưng lại chiếm 50% trong tổng số ước tính tải trọng trầm tích 150-170 triệu tấn/năm. Đó cũng là một phần bởi địa hình dốc đứng vùng thượng nguồn Mekong.
Những ước tính của Trung Quốc trong khả năng vận chuyển trầm tích của sông Lan Thương có lẽ quá thấp. Có một số lý do giải thích như trầm tích Lan Thương phần lớn là đá mạt thô và cát, nó được vận chuyển ở đáy sông thay vì là dạng trầm tích lơ lửng và luôn rất khó để đo đạc, đặc biệt trong điều kiện xảy ra lũ lụt lớn.

Cũng có nguyên nhân góp phần gia tăng tỉ lệ xói mòn là phá rừng, là sự nóng lên toàn cầu khiến băng tan chảy và mưa lớn hơn.

Có nhiều nhân tố góp phần vào việc làm tăng trọng tải trầm tích Lan Thương thường bị bỏ qua. Một trong số đó là những đợt lở đất ngầm, hiện tượng gia tăng lượng mưa cục bộ. Sụt lở nhiều nhất dường như xảy ra ở khu vực gần các đập chứa do tác động “hút nước” liên quan tới phát điện khi nhu cầu sử dụng lên đỉnh điểm.

Gia tăng lượng mưa cục bộ vì sự hiện diện của hồ chứa nước là một vấn đề chính với hai hồ chứa khổng lồ Nuozhadu và Tiểu Loan. Bề mặt nước khổng lồ và điều kiện gió ở các hẻm núi Lan Thương sẽ kết hợp với nhau làm gia tăng lượng mưa cục bộ, cũng vì thế mà gia tăng sự xói mòn.

Hãy lấy tình hình lắng đọng trầm tích ở hồ chứa Manwan làm ví dụ. Các nhà khoa học ước tính rằng, mực nước chết với hồ chứa đập Tiểu Loan sẽ là 4.750 triệu mét khối (mcm) trong khi của Manwan là 662 mcm. Như vậy mực nước chết của Tiểu Loan chỉ gấp 7,3 lần của Manwan.

Ước tính Tiểu Loan sẽ có thể hấp thụ trầm tích Lan Thương trong 100 năm là quá phóng đại. Ba mươi năm là ước tính an toàn nhưng xem ra vẫn quá lạc quan.
Manwan rõ ràng đang chịu những nguy cơ của dòng chảy trầm tích quá lớn. Hậu quả đó là:
- Nguy cơ hỏng hóc turbine
- Giảm phát điện trong mùa khô khi khả năng giữ nước của hồ chứa cuối cùng cũng giảm dần
- Rút ngắn tuổi thọ của Manwan
- Gia tăng nguy cơ với đập trong trường hợp xảy ra lũ đột ngột

Trung Quốc có thể nhanh chóng xây dựng đập Tiểu Loan, và rồi họ sẽ “xả hơi” trong vòng hai tới ba thập niên trước khi phải bắt đầu lo lắng về trầm tích lắng đọng trong công trình này.

Khi môi trường tiếp tục suy giảm ở lưu vực Lan Thương, những nguy cơ mới sẽ phát sinh từ hiện tượng lở đất tại vùng núi ngày một lớn hơn. Đó là lý do vì sao tôi đưa ra ước tính tuổi thọ hồ chứa nước của một con đập lớn như Tiểu Loan chỉ là 30 năm so với con số 100 năm mà các nhà đầu tư đề xuất.

Phá rừng
Số phận của các hồ chứa nước được tạo ra từ những đập thuỷ điện trên sông Lan Thương sẽ xác định bằng sự tồn tại của hệ thống rừng tại các hẻm núi và thung lũng của dòng Lan Thương cũng như các thung lũng của một số nhánh sông khác.
Và, viễn cảnh ấy khá ảm đạm.

Phần lớn diện tích rừng của Vân Nam đã bị phát quang. Nhiều khu vực rừng tự nhiên đã bị thay thế bởi những đồn điền độc canh. Ở Xishuangbanna (Sipsongpanna) thuộc phía nam Vân Nam, cây trồng chính là cao su. Để có một đồn điền cao su thì đầu tiên, rừng tự nhiên cần phải được “làm sạch” hoàn toàn. Cây trồng theo hàng và mất vài năm mới tới tuổi thu hoạch.

Khi cây còn nhỏ, độ che phủ rất thấp, khác hẳn với rừng tự nhiên. Mặt đất tại các đồn điền cao su ở Xishuangbanna hoàn toàn trống trải. Ở đây có câu hỏi rằng, một đồn điền cây trồng như vậy liệu có hạn chế được xói mòn đất như rừng tự nhiên mà nó thay thế. Sau nhiều năm khả năng khai thác cao su của cây giảm. Những cây già sẽ lại được cây non thay thế. Mỗi lần như thế, đất đai lại “quang quẻ” trở lại, theo đó, chất lượng và độ ổn định của đất trồng sụt giảm và xu thế xói mòn lại gia tăng.

Phần III: Chiến lược bí mật của Trung Quốc với Mekong
Trong nhiều thập niên, chiến lược của Trung Quốc là thực hiện những dự án về sông Mekong trong im lặng và bí mật. Trung Quốc xây đập Manwan (1986-1993) ở một khu vực xa xôi và không tham vấn bất kể nước nào vùng hạ nguồn.

Trong phần ba, ngoài những tác động tiêu cực từ dự án khai thác thuỷ điện trên sông Mekong của Trung Quốc, Tiến sĩ Tyson R. Roberts còn đưa ra cả những lợi ích "đáng nghi ngờ" mà hệ thống đập thượng nguồn Mekong có thể mang lại.

Ảnh hưởng với cá và nghề cá
Sản lượng đánh bắt cá hàng năm của Mekong ước tính vào khoảng 1 triệu tấn. Khoảng 400.000 tấn (40%) thuộc về Campuchia. Biển Hồ hay Tonle Sap của Campuchia chiếm hơn 100.000 tấn. Cá nước ngọt cung cấp chừng 80% tiêu dùng đạm động vật ở Campuchia.
Vào mùa mưa, dòng chảy Mekong gây ngập lụt lớn ở nhiều vùng đồng bằng châu thổ của Campuchia trong đó có Biển Hồ. Nó cũng tạo ra vô số khu đẻ trứng và bãi nuôi cho hàng trăm loài cá.

Nếu điều chỉnh dòng chảy Mekong sẽ gây ra tác động nghiêm trọng với toàn bộ nghề cá vùng hạ lưu trong đó có các khu vực châu thổ Campuchia nói chung và Biển Hồ nói riêng.

Vùng đồng bằng châu thổ của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng rất lớn. Nghề đánh bắt cá cũng như nghề nuôi cá lồng không tránh khỏi tác động chung.

Ảnh hưởng với nông nghiệp

Rất nhiều vựa lúa vùng hạ du nằm ở các châu thổ. Sản xuất lúa gạo liên quan trực tiếp tới nước, phù sa và chất dinh dưỡng được cung cấp từ những mùa lụt của Mekong.
Một tác động quan trọng khác với nông nghiệp có thể là rất tồi tệ hay thậm chí là dấu chấm hết mà những dự án thuỷ điện vùng thượng lưu Mekong gây ra là mạng lưới trang trại, nông trường bên bờ sông. Tiếng Campuchia gọi là “chamkar”, Thái Lan và Lào gọi là “kaset rim fang menam”, nó liên quan tới các nông trang trên đảo và bên bờ những dòng sông lớn như Mekong và Tonle Sap.

Mùa thu hoạch trên cạn hàng năm bao gồm thuốc lá, ngô, dưa hấu, dưa chuột, bí, mướp đắng, cà chua, khoai tây, hạt tiêu, khoai sọ, củ cải, cà rốt, rau diếp, chuối, cải bắp, đu đủ, mía đường, các loại nấm, thảo dược, hoa. Cây lưu niên có xoài, các cây họ cam quýt…

Những sản phẩm từ trang trại như thuốc lá, ngô và ớt được đưa vào gieo trồng cách đây khoảng 200 năm nhưng những sản phẩm khác có lẽ đã sinh sôi nảy nở ở khu vực trung và hạ lưu vực Mekong hơn 1.000 năm trước. Hàng loạt loại cây này có đóng góp to lớn vào chất lượng cuộc sống địa phương. Trong gieo trồng, các loài cây này đòi hỏi không sử dụng phân hoá học hay thuốc trừ sâu. Diện tích đất sẵn cho gieo trồng phụ thuộc vào lượng nước sông dâng lên và rút xuống trong một năm. Sản phẩm cũng liên quan tới lượng phù sa sông bồi đắp mỗi năm.

Những nông trang sẽ bị ảnh hưởng rất lớn và có lẽ hoàn toàn không còn tồn tại từ bên bờ Mekong nếu dòng chảy của sông bị thay đổi dẫn tới sự khác biệt về mực nước lên xuống cũng như lượng phù sa nghèo hoặc kém chất lượng. Hàng trăm thậm chí hàng nghìn đặc tính cây trồng và gen thực vật có thể mất đi nếu những đập thuỷ điện Lan Thương hoàn thành và sông Mekong được phát triển phục vụ giao thông đường thuỷ.
Những ảnh hưởng khác và sự nghi ngờ về lợi ích.

Trung Quốc vẫn khẳng định các đập thuỷ lợi lớn có thể mang lại lợi ích dài hạn, bất chấp ngày càng có thêm nhiều bằng chứng cho thấy sự đối lập từ tuyên bố ấy. Tất cả các nước đều lo lắng rằng, Trung Quốc sẽ phát triển sông Mekong ở mức độ lớn hơn cho tới khi có những dự án của cá nhân hoặc tổ chức đưa ra các đánh giá về ảnh hưởng môi trường và xã hội một cách hoàn thiện và chân thực nhất.

Những ảnh hưởng xã hội và môi trường không thể chấp nhận được với các quốc gia vùng hạ nguồn sẽ là nền tảng vững chắc khiến những dự án của Trung Quốc có thể bị bác bỏ. Các đánh giá về ảnh hưởng xã hội và môi trường sẽ chỉ phù hợp nếu nó đại diện cho xã hội nông thôn cũng như thành thị và đại diện cho môi trường. Đánh giá do tổ chức thúc đẩy những dự án thực hiện hoặc kiểm soát hiếm khi đáng tin cậy.

Đánh giá kiểu này thường quá phóng đại về mặt kinh tế và những lợi ích khác trong khi phớt lờ hoặc đánh giá không đúng mức về ảnh hưởng xã hội và môi trường.

Kể từ năm 1950, Trung Quốc đã tăng cường nhiều biện pháp nhằm khai thác những khu rừng rộng lớn, khoáng sản và nguồn năng lượng… với quy mô lớn. Dự án cùng lúc xây dựng hệ thống đập thuỷ điện trên dòng Lan Thương và nắn dòng Mekong là một phần của tiến trình này.

Trung Quốc sẽ không hài lòng cho tới khi toàn bộ dòng chảy Mekong đoạn dưới Vân Nam đổ vào một hệ thống đường thuỷ hỗ trợ cho tàu thuyền hàng hoá đi ra biển cả. Trong nhiều thập niên, chiến lược của Trung Quốc là thực hiện những thiết kế về sông Mekong trong im lặng và bí mật. Trung Quốc xây đập Manwan (1986-1993) ở một khu vực xa xôi và không có sự tham gia của bất kể nước nào vùng hạ nguồn.

Trung Quốc tới nay vẫn không gia nhập Uỷ ban sông Mekong (MRC), và không có bất cứ nỗ lực nào để cung cấp thông tin về những dự án họ khai thác trên sông. Cho tới nay, khi chiến lược Mekong không thể giấu giếm hơn nữa, Trung Quốc lại khai thác sông bằng tốc độ và sự quyết tâm.

Thời gian hạn chế, nỗ lực và việc đóng góp đưa ra các đánh giá ảnh hưởng tới môi trường và xã hội rất không đầy đủ. Những nghiên cứu địa chấn tối thiểu để phát hiện ra các trận động đất có đóng góp lớn tới lở đất, hoặc các đập thuỷ điện lớn cùng hồ chứa nước có thể thúc đẩy hoạt động địa chấn, sẽ đòi hỏi nhiều năm nghiên cứu cùng các thiết bị tiên tiến cùng kỹ năng chuyên môn cao.

Khi các đập đã xây dựng và hồ chứa bắt đầu đầy nước, thì tình hình địa chấn sẽ phải liên tục kiểm tra, theo dõi.

Các thủ tục đối phó với tình trạng khẩn cấp bao gồm hệ thống cảnh báo khẩn cấp hạ nguồn và tiến trình sơ tán sẽ cần được sắp xếp hiệu quả trước khi công trình xây dựng bất kể con đập lớn nào hoàn thành.

Vài lợi tích tiềm năng từ việc điều chỉnh dòng chảy Mekong bởi hệ thống đập và hồ chứa nước trên sông lan Thương của Trung Quốc có thể được tính gồm:
- Lợi ích nổi bật cho vùng hạ nguồn sẽ là Lào, Myanmar và Thái Lan trong việc có được khối lượng nước lớn hơn (đã được điều chỉnh) phục vụ cho việc phát điện ở những dự án “đang chạy giữa dòng” cần phải cân nhắc kỹ hơn. Khả năng kinh tế của toàn bộ bảy dự án đề xuất giữa Pak Beng và Vientiane dường như được gia tăng bởi khả năng sản xuất điện nhiều hơn cung cấp cho thị trường Thái Lan khi nhu cầu dùng điện trong mùa khô lên đỉnh điểm. Pak Beng và các dự án khác ở phía bắc Lào đòi hỏi cần nghiên cứu kỹ hơn, sẽ có thể giành được tỉ lệ cao xứng đáng sau khi Tiểu Loan bắt đầu xả nước.

Tuy nhiên, những điều được cho là lợi ích này vẫn khá mơ hồ. Uỷ ban sông Mekong không còn ủng hộ các dự án trên. Những ảnh hưởng sâu sắc về môi trường liên quan tới đập Pak Mun trên sông Mun của Thái Lan – nhánh sông lớn của Mekong - giờ đây bắt đầu được công nhận.

Một lợi ích mơ hồ khác liên quan đến gia tăng khả năng tưới tiêu cho vùng hạ nguồn. Tăng nước trong các tháng mùa khô sau khi đập Tiểu Loan hoàn thành là một ích lợi với giả định không có sự “rút nước” nào quá lớn ở thượng nguồn.

Phần cuối: Đập 'giết' sông Mekong, trầm tích sẽ 'giết' đập

Các đập thủy điện Lan Thương sẽ giết chết Mekong và rồi trầm tích sẽ làm tiêu tan các đập thủy điện ấy. Những nước hạ nguồn và cả Trung Quốc sẽ phải trả giá đắt cho dự án phát triển “ngông cuồng” và thiếu thận trọng này.

Lợi ích đáng ngờ

Uỷ ban sông Mekong về cơ bản đã xem xét lại quan điểm của mình về hệ thống đập trên dòng chính Mekong. Một trong những sự cân nhắc ấy là dự án “nắn dòng” quy mô lớn. Các dự án nắn dòng vẫn khá phổ biến với giới chính khách Thái Lan khi họ mong muốn nó sẽ hỗ trợ cho các khiếm khuyết từ hệ thống đập ở Thái.

Nhưng đó là suy nghĩ không đúng đắn, và chính khách Thái với quan điểm như vậy thường bị gọi là “khủng long”. Những dự án thuỷ lợi trong mùa khô ở đông bắc Thái Lan thường làm suy thoái chất lượng đất do quá trình kiềm hoá và muối hoá.

Dự án thuỷ điện Nam Theun 2 của Lào cũng đang gây tranh cãi. Nó có thể giết chết cá và nghề cá ở ba lưu vực sông: Nam Theun, Nam Hinboun, và Xe Bang Fai. Kế hoạch tái định cư và trồng rừng phòng hộ là phi hiện thực. Việc dự án sẽ mang lại các lợi ích như các nhà thúc đẩy dự án hứa hẹn là điều đáng ngờ. Nam Theun 2 sẽ để lại những hậu quả và tranh cãi về môi trường, xã hội như đập Pak Moon của Thái Lan.

Xâm nhập mặn ở tiểu vùng Mekong cơ bản là một hiện tượng tự nhiên. Hệ sinh thái cửa sông Mekong dựa trên đặc tính thuỷ triều bao gồm “xâm nhập mặn”. Đời sống thực vật, động vật cửa sông và ven biển đã cùng “hoà hợp” với thuỷ triều, với sự thay đổi độ mặn.

“Gạo hương nhài” - sản phẩm của Thái Lan nổi tiếng trên thị trường quốc tế, đã thích hợp với loại đất trồng độ mặn cao. Những loại cây trồng tương tự rất phổ biến ở tiểu vùng Mekong. Việc tưới tiêu trong tiểu vùng phụ thuộc phần lớn vào thuỷ năng thuỷ triều tận dụng để đưa nước ngọt vào kênh thuỷ lợi và ra các cánh đồng. Do dòng chảy giảm trong mùa mưa và giảm bớt khả năng rửa đất, sự muối hoá và kiềm hoá ở các đồng bằng cửa sông, bao gồm những vựa lúa lớn của tiểu vùng Mekong, sẽ trở nên trầm trọng hơn bởi sự “kiểm soát” của Trung Quốc với dòng chảy Mekong trong mùa mưa, mùa khô.

Lợi ích lớn nhất mà các đập thuỷ điện Lan Thương (Trung Quốc) có thể mang lại cho những quốc gia hạ nguồn, đặc biệt là Campuchia và Việt Nam, có thể là kiểm soát lũ lụt và ngăn chặn hoặc giảm nhẹ khô hạn. Lũ lụt Mekong trở nên thường xuyên và mạnh mẽ hơn trong vài năm gần đây, và xu thế này dường như vẫn tiếp tục. Nguyên nhân chính là do phá rừng và sự ấm nóng toàn cầu.

Về ngắn hạn, các đập thuỷ điện Lan Thương, đặc biệt là hai đập lớn, trên thực tế sẽ cung cấp một biện pháp ngăn chặn lũ lụt nếu nước được giữ lại trong các hồ chứa.
Tuy nhiên, về dài hạn, các đập Tiểu Loan và Nuozhadu có thể gây ra lũ lụt lớn hơn thời điểm trước khi chúng được xây dựng. Mục đích chính của các con đập này là cung cấp điện cho tiến trình công nghiệp hoá của Trung Quốc. Điều này không phù hợp với vai trò ngăn chặn lũ lụt lớn bất thường. Trong một viễn cảnh tồi tệ, các đập thuỷ điện này sẽ gây ra lũ lụt lớn hơn nhiều trước đây.

Gây thêm hạn hán, lũ lụt ở các nước hạ nguồn

Người dân ở tiểu vùng Mekong và đặc biệt là tại các nước hạ nguồn như Campuchia và Việt Nam đặc biệt lo lắng về lũ lụt. Hạn hán thậm chí đe doạ hơn. Về mặt lý thuyết, người dân có thể chuẩn bị và đối phó với lũ lụt tốt hơn là hạn hán. Sự thương vong và tổn thất từ lũ lụt gây chú ý lớn nhưng hạn hán có thể kéo dài hơn, hậu quả tàn phá lớn hơn và thậm chí làm mất khả năng tự cung cấp lương thực cho một quốc gia hay một khu vực.

Hạn hán có lẽ là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới sự huỷ diệt những loài cá nước ngọt trong các lưu vực sông nhiệt đới. Những loài cá rất khác nhau về khả năng tránh được tác động của hạn hán cũng như khả năng chống chọi hạn hán. Trong khi một số loài cư ngụ ở đầm lầy có sức kháng cự cao với khô hạn, thì rất nhiều loài khác không thể sống mà không có dòng chảy liên tục.

Đa số loài cá nước ngọt sống ở những môi trường dòng chảy từ các dòng sông lớn nhất tới con suối nhỏ nhất. Dòng chảy sẽ ngừng lại nếu thiếu nước hoặc hạn hán. Các loài cá ven sông sẽ có sự thích nghi khi đối mặt với hạn hán bằng cách theo dòng chảy ra khỏi khu vực thượng hoặc hạ nguồn. Số khác ẩn sâu vào bãi ngầm hoặc lòng sông nơi chúng ít hoạt động cho tới khi dòng chảy khôi phục trở lại.

Con người sống ở các khu vực dân cư đông đúc với nhiều thành phố lớn có lượng nước bề mặt hoặc lượng mưa phong phú (như Bangladesh, Campuchia và Việt Nam) đặc biệt rất dễ tổn thương với sự đe doạ của lũ lụt cũng như hạn hán.

Đập thuỷ điện Lan Thương của Trung Quốc và lịch trình nắn dòng Mekong thành tuyến đường thuỷ có thể góp phần gây ra hạn hán ở nhiều cách khác nhau. Trong thời gian ba năm trữ đầy hồ chứa tương đối nhỏ (1993-1996), đập Manwan của Trung Quốc là nguyên nhân khiến các dòng chảy mùa khô thấp hơn mức thông thường tại hạ nguồn bắc Thái Lan và Lào từ Chiang Saen. Ảnh hưởng tới giao thông đường thuỷ do dòng chảy giảm thậm chí còn tác động tới cả những tàu thuyền nhỏ trên sông và tác động tới nông nghiệp, nhưng chưa quá lớn.

Trữ đầy các hồ chứa khổng lồ của đập Tiểu Loan và Nuozhadu có thể là nguyên nhân gây ra ảnh hưởng tiêu cực với mùa khô hạ nguồn, tàn phá nông nghiệp, nghề cá và cả cuộc sống con người.

Kết quả rõ ràng khi nước giữ lại trong các hồ chứa lớn là sự bay hơi. Lượng nước bay hơi từ hồ chứa có thể khá lớn. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm diện tích bề mặt hồ chứa, nhiệt độ nước, vận tốc gió, độ ẩm và áp lực không khí. Những thực vật sống ở nước như dạ lan hương nước với tỉ lệ thoát hơi nước cao có thể khiến một lượng lớn bay hơi từ hồ chứa.

Loại thực vật ngoại lai gây hại này giờ đây khá phổ biến ở các vùng trung và thấp trong lưu vực Mekong và tràn vào các hồ chứa cũng như dòng chính Mekong và đồng bằng châu thổ Campuchia gồm cả Tonle Sap.

Kế hoạch điều khiển dòng chảy Mekong của Trung Quốc sẽ làm gia tăng sự xâm nhập của dạ lan hương nước, với hậu quả trực tiếp là nước bay hơi cũng như bị giảm chất lượng. Tạo ra và duy trì một hệ thống đường thuỷ trong dòng chính Mekong cũng sẽ góp phần gia tăng những thảm hoạ bất ngờ như hạn hán, lũ quét.

Khô hạn đặc biệt nghiêm trọng sẽ xảy ra ở những đồng bằng nằm sâu trong nội địa của Campuchia (gồm cả Biển Hồ) và tiểu vùng Mekong tại Việt Nam. Dòng nước lụt Mekong không đủ khả năng tới những khu vực này, hoặc giảm lưu lượng, thời gian tồn tại cũng như quy mô, sẽ góp phần làm hạn hán gia tăng và mở rộng hơn.

Điều đáng lo ngại là số phận của mực nước ngầm. Trong vòng sáu tháng hoặc hơn thế mỗi năm, hầu hết các đồng bằng cửa sông của Campuchia bị khô hạn, rất ít hay không có mưa. Nước trở nên khan hiếm, con người bị ảnh hưởng, và khó tiến hành gieo trồng. Thu hoạch mùa màng phụ thuộc vào nhiều yếu tố may mắn. Trong một năm, nơi này có thể bội thu, nhưng nơi khác lại thất bát do lũ lụt, hoặc hạn hán.

Việc Trung Quốc kiểm soát Mekong và hạn chế lũ lụt ở vùng đồng bằng châu thổ - nơi nông nghiệp và hoạt động nghề cá của Campuchia phụ thuộc, sẽ có hai chọn lựa: lượng mưa giảm không thể lường trước và ảnh hưởng tới mức nước ngầm. Nước ngầm duy trì ở một số khu vực bằng mùa lụt hàng năm của Mekong. Mực nước ngầm sụt giảm sẽ là một tác động tiêu cực khác về lâu dài của đập thuỷ điện cũng như lịch trình nắn dòng Mekong của Trung Quốc với các nước vùng hạ nguồn.

Các nỗ lực giải quyết việc cung cấp nước cho nông nghiệp tại các vùng đồng bằng thấp ở Mekong bằng cách hút nước ngầm tưới đất sẽ không thành công, hoặc không đáng tin cậy. Những khó khăn dự đoán trước bao gồm những vấn đề về kiềm hoá, muối hoá, phí tổn và thảm hoạ lũ lụt phơi bày. Vấn đề nước ngầm nhiễm thạch tín (như ở Bangladesh) có thể nảy sinh.

Đoạn kết
Câu hỏi cuối cùng sẽ là “vấn đề gì lớn nhất?”: Duy trì số lượng, chất lượng cá và sự đa dạng sinh thái, hoặc cung cấp một cuộc sống tốt hơn cho con người (hiện tại và tương lai) ở hai quốc gia vào loại nghèo nhất thế giới là Lào và Campuchia?
Trung Quốc đã đạt được một thoả thuận ngầm với Thái Lan là sẽ cung cấp điện từ dự án thuỷ điện Jinghong. Bản “ghi nhớ về việc phát triển tài nguyên nước ở Vân Nam và xuất khẩu điện” đã được ký giữa Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Thái Lan năm 1993. “Thoả thuận Hợp tác phát triển các dự án thuỷ điện và xuất khẩu điện sang Thái Lan” ra đời tiếp theo vào tháng 2/1994. Chính phủ hai nước đã ký kết “thoả thuận xuất khẩu điện sang Vương quốc Thái Lan từ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa” vào tháng 11/1998.

Trung Quốc cũng giành được sự chấp thuận ngầm từ Myanmar, Lào và Thái Lan để đảm nhận sứ mệnh mở rộng “cải tổ đường thuỷ” trên 300km dòng chính Mekong đoạn chảy qua biên giới giữa Lào và Myanmar.

Tuy nhiên, những tài liệu này không nên hiểu là thoả thuận của các nước vùng hạ nguồn để Trung Quốc tiếp tục chương trình thuỷ điện Lan Thương.

Thái Lan nên xem xét việc thu hồi thoả thuận mua điện Jinghong. Myanmar, Lào và Thái Lan cũng nên cân nhắc khả năng thực thi kế hoạch đường thủy Mekong khi dự án này không có sự thảo luận công khai nào bao gồm cả những đánh giá về ảnh hưởng môi trường và xã hội.

Campuchia và Việt Nam – hai nước vùng hạ nguồn nên phản đối các thiết kế phát triển Mekong của Trung Quốc bằng sự mạnh mẽ nhất có thể.
Về dài hạn, sự phát triển nóng vội, thiếu thận trọng với Mekong của Trung Quốc sẽ bất lợi cho các lợi ích tốt nhất của tất cả quốc gia liên quan. Trung Quốc cũng không thoát khỏi hậu quả tiêu cực từ dự án thuỷ điện và nắn dòng Mekong. Khi cái giá khổng lồ về môi trường và xã hội trở nên rõ ràng, thì mọi trách nhiệm sẽ đổ trực tiếp vào Trung Quốc.

Các kế hoạch thủy điện Lan Thương và nắn dòng Mekong của Trung Quốc sẽ đẩy Mekong vào sự suy giảm về mặt sinh học, ô nhiễm nặng nề, trở thành “dòng sông chết” như Dương Tử và nhiều con sông lớn khác ở Trung Quốc. Những lợi ích dài hạn từ các dự án này là đáng ngờ. Trung Quốc sẽ không thể điều khiển dòng Mekong như từng làm với Dương Tử, như châu Âu với dòng Danube, hay Mỹ với Mississippi.

Thủy điện Lan Thương và hướng Mekong thành một tuyến đường thuỷ sẽ buộc các nước hạ nguồn phải nỗ lực một cách kiệt sức nhằm tự bảo vệ khỏi các tác động môi trường, với những tổn thất về nông nghiệp, nghề cá và sinh kế.

Các đập thủy điện Lan Thương sẽ giết chết Mekong và trầm tích sẽ làm tiêu tan các đập thủy điện ấy. Những nước hạ nguồn và cả Trung Quốc sẽ phải trả giá đắt cho dự án phát triển “ngông cuồng” và thiếu thận trọng này.
• Kỳ Thư VNN (lược dịch)

Đệ nhất bảo tỷ Hoàng đế chi bảo

Chiều ngày 30/8/1945, trên nền Đài Lầu Ngũ Phụng Ngọ Môn, trước mặt hơn 5 vạn dân thành Huế đang sục sôi khí thế cách mạng, vị Hoàng đế cuối cùng là Bảo Đại đã trao bộ ấn kiếm tượng trưng quyền lực vương triều cho đại diện chính quyền cách mạng.

Sau này, đã có nhiều ý kiến cho rằng chiếc ấn đó là Đệ nhất bảo tỷ Hoàng đế chi bảo và cùng với nó là chiếc kiếm báu truyền từ đời Gia Long.


Thay mặt Chính phủ Cách mạng, ông Trần Huy Liệu và nhà thơ Cù Huy Cận đã tiếp nhận ấn kiếm và gắn huy hiệu công dân nước Việt Nam DCCH cho cựu hoàng. Bộ ấn kiếm này ngay ngày hôm sau được đem ra Hà Nội để kịp có mặt trong Lễ Độc lập vào ngày 2/9/1945.

Ấn cùng kiếm quý

Chiếc ấn Đệ nhất bảo tỷ Hoàng đế chi bảo, mà về mãi sau này, nhà thơ Huy Cận từng thốt lên với hậu sinh trong đó có người viết bài này rằng khi ông Trần Huy Liệu nhận từ tay ông Bảo Đại trao lại cho ông Huy Cận, nhà thơ đã suýt ngã vì chiếc ấn nặng quá, dễ hơn một yến (10 kg) chứ không ít!

Nhà thơ Huy Cận có lẽ đã không lầm?

Trong số những tài liệu tin cậy hiện có đã biên rõ về chiếc ấn ấy như sau: ấn Hoàng đế chi bảo được đúc bằng vàng ròng vào ngày mồng 4 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 4 (tức ngày 15/3/1823). Đây là chiếc bảo ấn lớn và đẹp nhất của triều Nguyễn. Ấn hình vuông, quai ấn là một con rồng uốn khúc, đầu ngẩng cao, mắt nhìn thẳng về phía trước. Đỉnh đầu rồng khắc hình chữ vương; kỳ (vây lưng) dựng đứng; đuôi cũng dựng đứng, vây đuôi uốn cong về phía trước; 4 chân rồng đúc rõ 5 móng, tư thế chống chân xuống mặt ấn rất vững vàng.

Mặt dưới của ấn khắc 4 chữ triện Hoàng đế chi bảo. Mặt trên của ấn, phía hai bên quai khắc nổi hai dòng chữ Minh Mạng tứ niên nhị nguyệt sơ tứ nhật cát thời chú tạo (đúc vào giờ tốt ngày mồng 4 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 4); Thập thành hoàng kim, trọng nhị bách thập lạng cửu tiền nhị phân (đúc bằng vàng, trọng lượng 280 lạng 9 chỉ 2 phân). Như vậy chiếc ấn suýt soát 281 lượng vàng, nếu tính 27 lượng tương đương 1kg, thì chiếc ấn này nặng khoảng 10,7kg.

Về việc đúc chiếc bảo ấn này, sách Đại Nam thực lục (tập VI, bản dịch của Viện Sử học, Nxb KHXH-1963, trang 146) có ghi “Ngày Giáp Thìn đúc ấn Hoàng Đế chi bảo núm làm rồng cuốn hai tầng, vuông 3 tấc 2 phân, dày 5 phân, làm bằng vàng 10 tuổi, nặng 280 lượng 9 đồng 2 phân”.

Hoàng đế chi bảo được chế tác (đúc) vào thời vua Minh Mạng, thời mà nước Việt mình lãnh thổ cương vực được mở rộng dài nhất được đổi quốc hiệu là Đại Nam. Vận nước hanh thông triều đình thì thịnh. Riêng vua thì chính phi, thứ phi cung tần mỹ nữ chưa rõ số nhưng khiêm tốn thôi, 142 người con cả thảy, trong đó 74 trai, 68 gái!

Theo quy định của triều Nguyễn, ấn Hoàng đế chi bảo chỉ dùng khi “gặp khánh tiết ban ơn, đại xá thiên hạ cũng là các cáo dụ thân huân, đi tuần thú các nơi để xem xét các địa phương, mọi điển lễ long trọng ấy, và ban sắc, thư cho ngoại quốc”.

Nếu đúng chiếc ấn mà Bảo Đại trao cho ông Trần Huy Liệu là Hoàng đế chi bảo thì kể từ khi đúc ra đến khi trao cho chính quyền Cách mạng, ấn Hoàng đế chi bảo đã có 122 tuổi.

Ấn Khâm văn chi tỷ, thời Minh Mệnh năm thứ 8 (1827) trọng lượng 137 lạng vàng 10 Ảnh: TL

Đang ở đâu?

Chiếc ấn quý cùng thanh bảo kiếm ấy chắc chắn sẽ nằm trong kho báu nhà Nguyễn mà chính quyền mới có trách nhiệm bảo quản giữ gìn như vừa nói ở phần trên! Nhưng hóa ra chúng có một thân phận khá lạ lùng...

Bấn bíu bộn bề với vô số công việc thời điểm mới giành được chính quyền nhưng chính thể mới đã chu tất nhiều thứ trong đó có việc bảo quản giữ gìn kho báu nhà Nguyễn (sẽ nói ở phần sau). Nhưng có thể phải phân tán những báu vật ấy ở những địa điểm kín đáo khác nhau, có thể phải nhờ những cơ sở tin cẩn giữ hộ, thời điểm Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, kho báu nhà Nguyễn từ Hà Nội được chuyển đến nơi an toàn một cách khẩn trương, nhưng sau đó bộ ấn kiếm đã bị bỏ quên tại một ngôi chùa ở mạn ngoại thành!

Có ý kiến khẳng định không phải quên nhưng ngôi chùa trong vùng địch không phải về để lấy một cách dễ dàng đành đợi thời điểm thuận tiện như đợi đến ngày hòa bình chả hạn? Một điều ít ai ngờ là cuối những năm 50, quân Pháp đã triệt hạ cái làng ngoại thành ấy phá chùa lấy gạch xây bốt. Thế là phát lộ ra bộ ấn kiếm báu!

Khó lòng chống trả được sự phản công của quân ta trên các chiến trường, dưới sự đạo diễn của Pháp, một chính phủ bù nhìn mới được vội vã nặn ra hòng cứu vãn cục diện lẫn tình thế sa lầy ở chiến trường Đông Dương mà quốc trưởng chính phủ ấy không ai khác chính là công dân Vĩnh Thụy, hoàng đế Bảo Đại một thời! Ngày 3/3/1952, quân Pháp đã tổ chức rùm beng một cái lễ trao ấn kiếm.

Người nhận bộ ấn kiếm ấy là quốc trưởng chính phủ bù nhìn Bảo Đại thay vì vị thế Đại Nam Hoàng Đế! (Hiện Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế còn lưu giữ tấm ảnh ghi lại sự kiện này). Để lưu giữ chắc chắn các báu vật trong Hoàng tộc, ông Bảo Đại đưa bộ ấn kiếm ấy cho bà thứ phi Mộng Điệp mang sang bên Pháp trao cho hoàng hậu Nam Phương và hoàng tử Bảo Long. Bộ ấn kiếm yên hàn được đến thời điểm năm 1963 bà Nam Phương mất.

Mặc dù được giữ cẩn mật tại nhà băng Châu Âu (Union des Banques Européennes) nhưng bộ ấn kiếm ấy đã không yên bởi mâu thuẫn dẫn đến kiện cáo giữa hai cha con ông Bảo Đại. Bởi ai cũng muốn sở hữu thứ quốc bảo ấy nên họ phải nhờ đến tòa án. Tòa phán, ấn thì cha giữ còn kiếm báu Gia Long thì con cầm. Nghe nói vì túng tiền hay lý do chi đó, vị hoàng tử này đã bán mất bộ kiếm báu còn chiếc ấn không rõ có phải là Hoàng đế chi bảo không, nhưng số phận cũng hẩm hiu không kém. Không phải châu về hợp phố mà lại về tay người đẹp Monique Baudot, người vợ mà ông Bảo Đại cưới năm 1982!

Theo Xuân Ba (VNN)

11 thg 8, 2009

Tính hiệu quả của mô tả

Trong mô tả một hiện tượng, một sự vật hay một hệ thống nào đó, tính hiệu quả của một mô tả có thể được định nghĩa bằng so sánh độ dài của mô tả đó và độ dài của mô tả ngắn nhất có thể có trong số tất cả các mô tả khả dĩ.

Thí dụ đo tính hiệu quả bằng hệ số "độ dài của mô tả ngắn nhất"/"độ dài của mô tả được xét". Khi đó hệ số càng gần 1, mô tả càng hiệu quả, hệ số càng nhỏ tính hiệu quả càng kém. Đôi khi ta không biết, không tính được độ dài của mô tả ngắn nhất, chúng ta vẫn có thể so sánh độ dài của những mô tả mà chúng ta biết được (tức là chỉ biết một số chứ không phải tất cả các mô tả) và tìm ra mô tả ngắn nhất trong số đó.

Đấy là một ước lượng (một cận trên) của độ dài tối thiểu và mô tả có độ dài đó là mô tả hiệu quả nhất trong số các mô tả mà chúng ta khảo sát. Và biết được ngần ấy nhiều khi cũng rất hữu ích rồi. Các loại vấn đề như thế có nhiều ứng dụng trong tin học, viễn thông và nay lan sang cả kinh tế và xã hội học!

Hãy xét các hiện tượng xã hội mà chúng ta cần mô tả bằng cách nào đó. Thí dụ gọi U là tập hợp của tất cả những việc mà công dân của một nước có thể làm; D là tập hợp tất cả những việc mà công dân được phép làm; C là tập hợp các việc bị cấm. Có ba cách tư duy khác nhau.

1) Cách thứ nhất: quy định C và định nghĩa D = U-C (D là tập bù của C), tức là người dân có thể làm tất cả những việc họ có thể làm (U) trừ những việc bị (luật pháp) cấm (C).

2) Cách thứ hai: quy định D, thí dụ bằng cách liệt kê những việc mà công dân được phép làm. Đây là kiểu tư duy "dân chỉ được làm những việc mà chính quyền cho phép".

3) Cách thứ ba: đồng thời quy định cả D lẫn C bằng mô tả nào đó, thí dụ liệt kê; tức là vừa "cho phép" vừa "cấm".

Vấn đề hóc búa ở đây là không ai có thể liệt kê tất cả các việc mà người dân có thể làm (U), vì giả như có thể thì xã hội sẽ chết, không thể phát triển được nữa. Con người luôn nghĩ ra những việc mới, sản phẩm mới, công nghệ mới, cách làm mới. Ta có thể định nghĩa chính xác tập hợp U bằng cách nêu tính chất của các thành tố của nó là "việc con người có thể làm", nhưng không thể xác định tất cả các thành phần của nó, chúng biến đổi theo thời gian.

Trong một xã hội bình thường, các việc bị cấm thường do các giá trị văn hoá, đạo đức quy định, và vì thế chúng tương đối ổn định, dễ xác định và quan trọng nhất là số lượng của chúng không nhiều ở nên có thể mô tả tương đối chính xác và hiệu quả. Thí dụ, giết người, cướp của, trộm cắp, buôn bán ma tuý... là những việc bị cấm trong hầu hết các nước, theo các nền văn hoá khác nhau; uống rượu bị cấm ở các nước theo đạo Hồi. Số các việc hay hành vi bị cấm thường không nhiều và khá ổn định, nên việc mô tả chúng (C) khá hiệu quả.

Cách tư duy thịnh hành, áp đảo của các nước dân chủ, phát triển, giàu có là cách tư duy thứ nhất. Luật pháp về cơ bản chỉ quy định một số không nhiều các việc cấm mà công dân nếu làm sẽ bị coi là vi phạm pháp luật và bị trừng trị. Do số lượng các việc trong C không nhiều và chúng tương đối ổn định, nên việc mô tả C dễ dàng, tương đối chính xác và hiệu quả; vì thế người dân dễ nhớ, dễ tránh, tức là việc thi hành dễ hơn (tinh thần thượng tôn pháp luật cao).

Cách tư duy thịnh hành, áp đảo của các chế độ chuyên chế, phi dân chủ là cách thứ hai. Do dân chỉ được làm những việc được quy định trong D, nên trên thực tế các việc còn lại, trong U-D, là bị cấm. Dẫu có kéo dài danh mục các thành phần của D đến đâu, thì U-D vẫn rất khó xác định và có thể vô cùng nhiều, vì thế hiệu quả mô tả rất kém. Cách mô tả này nếu muốn hữu hiệu thì D phải ít, đặc trưng cho chế độ toàn trị, mất tự do, nô lệ.

Cách tư duy thứ ba, vừa quy định cả D lẫn C, dẫn đến mâu thuẫn. Có những việc không bị cấm nhưng vẫn không được làm, tức là thực chất vẫn bị cấm. Nói cách khác cách tư duy này thực chất vẫn là cách tư duy thứ hai.

Lưu ý rằng chúng ta nói về tư duy thịnh hành, áp đảo, thí dụ, nếu tuyệt đại bộ phận luật được xây dựng theo một kiểu tư duy nào đó. Luôn có ngoại lệ, nhưng đã là ngoại lệ thì phải rất ít, chứ không thể thịnh hành hay áp đảo.

Và cuộc sống phức tạp hơn mọi lý thuyết, chính vì thế, nếu xét về hình thức, thì hình mẫu thứ 3 lại thường được dùng (nhưng chỉ cho các trường hợp ngoại lệ) và hình mẫu thịnh hành, áp đảo là hình mẫu tư duy theo kiểu 1 hoặc 2.

Thực tế cuộc sống bình thường cho thấy C có thể được mô tả hữu hiệu hơn do có ít thành tố, tức là tính hiệu quả mô tả của C gần 1, còn liệt kê hay xác định D, những việc (nên) được phép làm, khó hơn nhiều, tính hiệu quả mô tả của nó rất thấp. Nói cách khác cách tư duy thứ nhất ưu việt hơn hẳn.

Sự trì trệ của nhiều nước trong quá khứ xa và quá khứ gần phần nào có thể được giải thích bằng tư duy thịnh hành của nhà cầm quyền theo lối thứ hai, đôi khi theo lối thứ ba. Người dân thiếu tự do, không phát huy hết năng lực nội tại của mình và luôn luôn cảm thấy bị ức chế gây ra nhiều căn bệnh xã hội trầm kha, kinh tế trì trệ, văn hoá không phát triển, con người chưa được coi trọng đúng mức.

Hơn 20 năm đổi mới, chúng ta đã dần từ bỏ cách tư duy thứ 2 hoặc thứ 3 và cách tư duy thứ nhất ngày càng phổ biến. Thí dụ, đấy là tư duy của Luật Doanh nghiệp và các luật kinh tế khác đã làm thay đổi đáng kể bức tranh kinh tế của nước ta trong những năm qua. Bản thân Luật Khoa học Công nghệ về cơ bản cũng theo tư duy tiến bộ đó.

Tuy nhiên, một số tàn dư của quá khứ vẫn còn. Tư duy về một số nội dung của Quyết định 97/2009/QĐ-TTg về việc ban hành Danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học công nghệ, là một ví dụ. Đổi mới tư duy, kích tư duy xem ra là việc khó, nhưng đấy là nguồn năng lượng vô tận duy nhất của chúng ta để chấn hưng đất nước.
Nguyễn Quang A
Lao Động Cuối tuần số 32 Ngày 09/08/2009 Lúc 7:17 AM, 09/08/2009

Những tìm hiểu của KTS Trần Thanh Vân về Đại địa mạch quốc gia.

Chuyện 700 năm trước

Trong trận đánh Nguyên Mông lần thứ 3 năm 1288, có hai người “phạm lỗi” với Triều đình nhà Trần, nhưng đều đã lập nên chiến công lớn, góp phần không nhỏ vào việc đuổi giặc Nguyên Mông. Đó là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, con nuôi của vua Trần Thánh Tông và Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, con trai thứ 3 của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

Sách cũ kể rằng Trần Khánh Dư là người rất có tài, nhưng ăn nói thì quá mạnh bạo mà sinh hoạt thì hơi phóng túng, nên bị nhà Vua tước hết quan chức, bổng lộc và ông buộc phải về quê ở Chí Linh làm nghề bán than kiếm sống.

Nhưng cũng tại nơi đây, Trần Khánh Dư được phục chức và đã trở thành Phó tướng Vân Đồn. Ông đã chỉ huy quân ta phá tan đội thuyền tiếp tế lương thực của quân Nguyên Mông và góp công lớn vào trận chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng.

Võ đã giỏi, văn cũng hay, sau này Trần Khánh Dư là người viết lời tựa cho cuốn “Vạn Kiếp tông bí truyền thư” của Trần Hưng Đạo, ông viết như sau:

Người giỏi võ cầm quân thì không cần bày trận
Người giỏi bày trận thì không cần đánh
Người giỏi đánh thì không thua
Người khéo thua thì không chết

Sách cũ cũng kể rằng Trần Quốc Tảng là một người có tài đặc biệt về quân sự, nhưng vì lúc nhỏ luôn ở bên cạnh ông nội là Trần Liễu, nên Quốc Tảng từng có biểu hiện muốn cướp ngôi vua từ trong tay dòng thứ, để giành ngôi cho cha mình là dòng trưởng, khiến Trần Hưng Đạo giận, nên đã “đẩy” con trai đi trấn thủ tận Cửa Suốt, là một nơi ở rất xa Triều đình để tránh hậu hoạ.

Nhưng cũng tại nơi biên cương Tổ quốc này, Hưng Nhượng Vương đã lập nên kỳ tích trong trận thắng Bạch Đằng Giang năm 1288, khiến cho sau khi ngài qua đời năm 1313, nhân dân đồn rằng Đức Ông Trần Quốc Tảng hiện về nhắc nhở, nên đã xây Đền thờ Ngài cùng nhiều tướng lĩnh ở ngay trên đỉnh núi nhìn ra Bái Tử Long.

Ngày nay ngôi Đền Cửa Ông toạ lạc trên núi cao, không khác gì một trạm gác tiền tiêu nhìn ra Vịnh Bái Tử Long, khiến cho hậu thế có nhiều người thắc mắc rằng có thật là hai vị tướng danh tiếng đó do vì có tội nên bị điều ra tận nơi biên cương ấy, hay phải chăng đây cũng là một trong những “bí truyền thư” mà Đức Thánh Trần đã lưu lại để dạy bảo cho chúng ta?

Khi bí mật không còn là bí mật

Cách đây gần 10 năm, trên mạng thông tin quốc tế có một tấm bản đồ thật thú vị: Hình một con rồng rất đẹp mà đầu thì ở dãy núi Hy Mã Lạp Sơn (đỉnh Everest cao 8.888m nóc nhà của thế giới), lưng uốn theo hướng Tây Bắc Đông Nam của dãy núi cao thấp dần và đuôi xoè ra ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, sau đó đi xuống vùng Vịnh Bắc Bộ và đã kết thúc ở vùng đại dương sâu nhất thế giới (Vịnh Mindanao ở Philippines sâu 10.800m).

Đó là tấm sơ đồ sơn thuỷ ở phạm vi vĩ mô tầm thế giới. Thật kỳ diệu, các triền núi đó không thẳng băng mà uốn lượn như hình con rồng, tạo ra mạch núi và mạch nước tụ lại, rồi lan tỏa ở trên đồng bằng Bắc Bộ nước ta.

Thế mới biết tại sao vùng đất này luôn luôn bị người ngoài thèm khát và dòm ngó. Và thế mới biết sự uyên bác kỳ tài của Thiền sư Vạn Hạnh và Vua Lý Thái Tổ đã quyết rời bỏ Hoa Lư, để trở về vùng đất Thăng Long và triệt phá được thiên la địa võng mà Cao Biền đã trấn yểm trên thành Đại La cũ 200 năm trước.

Cho đến hôm nay, tất cả những người có chút hiểu biết về phong thủy và lý thuyết về địa mạch thì đã hiểu rằng tất cả mọi bí mật xa xưa về đường kinh mạch, về huyệt đạo linh thiêng mà chỉ có các thầy pháp cao tay mới nắm giữ được, thì nay đã bị phơi bày ra tất cả.

Cái chính là “thiên hạ” thì biết cả, nhưng những người trong cuộc có ý thức được vấn đề và có những giải pháp mạnh để làm chủ các lợi thế đó hay không?

Nhìn vào sơ đồ “vi địa mạch”

Trở lại với địa hình núi sông trên miền Bắc nước ta, thì có 8 dãy núi vòng cung tạo thành hình rẻ quạt là dãy Đông Triều, dãy Ngân Sơn, dãy Bắc Sơn, dãy Tam Đảo, dãy Sông Gâm, dãy Hoàng Liên Sơn , dãy Sông Đà và dãy Hoà Bình, trong đó Hoàng Liên Sơn nối từ Hy Mã Lạp Sơn về có đỉnh Phan xi păng cao nhất Đông Dương (3143m).

Hướng đi của các dãy núi đều hình thành các con sông như sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, sông Đà, sông Đuống, sông Cầu…

Thế nhưng các dãy núi chỉ “chầu” nên đều đã dừng lại từ xa, còn các con sông thì đã “tụ” lại ở Việt Trì và nối thông với nhau và tỏa ra ở chính vùng Thăng Long. Kỳ diệu hơn nữa là ở ngay trên đất Thăng Long đã “mọc” lên ba ngọn núi khác: đó là cụm núi Ba Vì linh thiêng đầy huyền thoại. Đỉnh núi này nhìn theo đường chim bay thì chỉ cách Hồ Tây chừng 25km.

Nhờ khoảng cách không quá xa, nên khi thuyền của vua Lý Thái Tổ đi từ sông Hồng qua sông Tô Lịch vừa rẽ vào Hồ Dâm Đàm từ làng Hồ Khẩu mùa xuân năm 1010, nhà vua có thể nhìn thấy rồng cuộn sóng bay lên, vừa nhìn thấy đỉnh Ba Vì, nên cái tên Thăng Long và tứ văn “Đắc Long bàn Hổ cứ chi thế, tiện núi sông hướng bối chi nghi” mới xuất hiện trong bản Thiên đô chiếu bất hủ.

Ngày nay, từ trên bản đồ vệ tinh, ta có thể dễ dàng tìm thấy đỉnh cao 1226m, nơi toạ lạc Đền Thượng, thờ Tản Viên Sơn Thánh, từ đó có một đường kinh mạch đi theo hướng chính Đông, qua khu vực Đền Kim Ngưu bên bờ Đầm Trị tiếp giáp với Hồ Tây, ra đến tận Cảng Vân Đồn và Vịnh biển Bái Tử Long, ở đó đã có đền Cửa Ông đầy linh thiêng mà nhân dân và hải quân ta hằng tôn thờ suốt 7 thế kỷ qua. Cảng Cửa Suốt của Đức Ông Trần Quốc Tảng xưa, đã và sẽ mãi mãi là một quân cảng quan trọng nơi Bờ Đông của Tổ quốc.

Cũng trên bản đồ vệ tinh, nếu nối một đường theo hướng Đông Bắc-Tây Nam mà mọi người quen gọi là Trục Thần Lộ đi từ đền Kim Ngưu bên bờ Đầm Trị, lên đến thành Cổ Loa- Kinh đô 2300 năm trước của vua An Dương Vương và cũng là Kinh đô hơn 1000 năm trước của vua Ngô Quyền, trên trục đó ta sẽ gặp phòng tuyến sông Như Nguyệt năm 1077 của Đại tướng Lý Thường Kiệt và Ngã ba sông Thiên Đức, nơi Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương lập đại bản doanh chỉ huy đánh quân Nguyên Mông năm 1284 và năm 1288.

Kỳ lạ thay, đường chéo này đi tiếp, rồi đi tiếp nữa, sẽ đến Đồng Đăng, cửa ải phía Bắc của Tổ quốc. Trong kinh dịch, hướng Đông Bắc là hướng Ngũ quỷ, lộc có nhiều mà hoạ cũng lắm, vậy nên chăng phải có đôi mắt tinh anh của Đức Thánh Trần chấn ngữ cửa ải này ?

Những người có chút tính hiếu kỳ không thể không kinh ngạc khi phát hiện ra trục kinh mạch nằm ngang ở 21 độ vĩ bắc 3’ 28’’ từ đỉnh Ba Vì và trục Thần Lộ nói trên lại gặp nhau ở chính vùng nước cạnh Phủ Tây Hồ mà mọi người vẫn thành kính gọi là huyệt đạo quốc gia.

Tại sao có cái tên đó? Tại vì nơi đó vẫn sủi bọt mỗi khi mực nước sông Hồng dâng cao, như thể hồ và sông là cái bình thông nhau. Nhiều người vẫn còn nhớ vào chiều thu nắng đẹp ngày 11/9/1955, người ta đã chứng kiến chính nơi đó đã có cột nước bất chợt phụt lên làm lật úp ba chiếc thuyền gỗ khiến 4 người bị thiệt mạng.

Tiến sĩ Vật lý Nguyễn Thế Hùng ở Viện Vật lý nghe mô tả lại hiện tượng đó thì đoán rằng chắc có kẻ nào đó đã chui xuống đáy hồ sờ soạng, khiến mạch nước có áp suất lớn bỗng bật lên như khi người ta mở nút chai rượu champagne?

Am Mỵ Châu thờ ai?

Lúc sinh thời, giáo sư sử học Trần Quốc Vượng rất hay được mời đi nói chuyện ở nơi này nơi khác. Với giọng nói đầy tự tin, giàu hình ảnh và hơi ngang ngang, giáo sư Vượng có cách truyền đạt ý tưởng rất thuyết phục, khiến cho người nghe chưa tin lắm mà vẫn phải tin, đặc biệt với người không theo học ngành sử, hiểu biết sử liệu rất ít mà cũng trở thành rất “am hiểu” về lịch sử. Xin kể đôi điều câu chuyện ông giải thích về am Mỵ Châu ở thành Cổ Loa như sau.

Trong một dịp ngày 8 tháng 3, chúng tôi được nghe một bài giảng của giáo sư Trần Quốc Vượng về tầm quan trọng của Cổ Loa Thành và am thờ nàng Công Chúa Mỵ Châu đối với Thủ đô của chúng ta.

Giọng đầy vẻ bí mật, giáo sư Vượng hỏi:

- Các cô có hiểu tại sao hơn 2000 năm qua, nhân dân ta, kể từ vua chúa đến thường dân đều thành kính thờ một người con gái cụt đầu có tên là Công chúa Mỵ Châu trong một cái am nho nhỏ ở Đền Cổ Loa hay không?

- Dạ không

Đó chính là ta thờ Người Mẹ Tổ Quốc của chúng ta đó. Chuyện tình duyên của Mỵ Châu Trọng Thuỷ là chuyện bịa đặt, nhưng chuyện dân tộc ta vì quá nhân hậu và thiếu cảnh giác nên trót đặt trái tim lên đầu để Triệu Đà cướp mất nước là có thật. Đạo gốc của dân tộc ta là Đạo Mẫu. Bản chất người mẹ là bản chất nhân hậu và dễ bị lừa.

Xưa kia dân tộc ta đã từng bị lừa, hiện nay cũng đang bị lừa và có thể ta còn bị lừa nữa, bởi vậy nàng Công Chúa Mỵ Châu cụt đầu là hiện thân của Người mẹ Tổ quốc đã và đang đau khổ nhắc ta phải luôn cảnh giác.”

- Vậy câu chuyện nỏ thần là có thật hay không?

- Không! Ta có một bí mật quốc gia quý hơn nỏ thần nhiều nhưng không ai ăn cắp được. Từ 2000 năm trước bí mật đó đã không còn là bí mật nữa rồi, nhưng kẻ thù đã từng ra sức phá. Hiện nay chúng cũng đang phá bằng khẩu hiệu “bài đế phản phong” để ta tự phá ta, để ta quên đi ta đang có báu vật trong tay.

- Vậy làm cách nào để khắc phục?

- Thiên cơ bất khả lộ. À, có cô nào thích xem tử vi không?

- Có ạ, có ạ!

- Tốt, tôi sẽ lập lá số cho từng người và sẽ có lời khuyên riêng từng người.

Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng rất giỏi khoa tử vi, ông chỉ hỏi ngày sinh tháng đẻ rồi bấm bấm ngón tay mấy cái là phán như thánh phán.

Ông cười nhạo, nói: “Tử vi liên quan đến số phận riêng của từng người thì ai cũng quan tâm, nhưng cứ giấu giấu giếm giếm như kẻ ăn vụng. Còn có cái khác quan trọng hơn Tử vi liên quan đến vận mệnh đất nước thì hễ ai quan tâm đều bị coi là nhảm nhí. Thế mới khổ!”

*Trần Thanh Vân

10 thg 8, 2009

Từ một chuyến công du bất ngờ

Việc cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton có chuyến công du bất ngờ đến Bình Nhưỡng nhằm giải cứu cho hai công dân Hoa Kỳ là một thông điệp có sức thuyết phục về ý tưởng thế nào là “nhà nước của dân, do dân và vì dân".

Voltaire có một câu nói thoạt nghe tưởng như cực đoan nhưng ngẫm kỹ thì thật là thâm thúy: “sự ngẫu nhiên là một từ không mấy ý nghĩa. Không có gì hiện hữu mà lại không có nguyên do”. Câu chuyện cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton có chuyến công du bất ngờ đến Bình Nhưỡng nhằm giải cứu cho hai công dân Hoa Kỳ Euna Lee và Laura Ling, xem ra có thể vận vào ý nghĩa thâm thúy nói trên.


Việc các nhà chức trách Mỹ giải cứu cho công dân của họ không là biệt lệ. Trước đây cũng từng có chuyến công du của Thượng nghị sĩ Bill Richarson đến Bình Nhưỡng để thương thuyết nhằm giải cứu một công dân Mỹ.

Trước đó, năm 1994, cựu Tổng thống Jimmy Carter đã có một sứ mạng tới Bình Nhưỡng, dẫn đến bước đột phá về thương lượng hạt nhân vào năm 2000. Vì vậy, ai cũng hiểu chuyến công du của vị cựu Tổng thống Mỹ không đơn thuần chỉ vì một mục tiêu trên mà thật ra chỉ là một khâu trong chuỗi thương thảo giữa hai bên nhằm mở ra một bước đột phá trong quan hệ Washington và Bình Nhưỡng.

Không khó để nhận ra những mục tiêu của chuyến công du này. Tuy người phát ngôn của Nhà Trắng gọi đây là hoạt động riêng tư, nhưng ai cũng thấy được rằng đây là chuyến thăm chính thức với chiếc áo khoác “riêng tư” nhằm giải quyết nhiều vấn đề trong đường lối đối ngoại của chính quyền Obama.

Điều này còn phải thận trọng tìm hiểu, ở đây chỉ bàn về chuyện “riêng tư” kia ở một khía cạnh khác: Khi người phát ngôn của Nhà trắng cho biết hai nữ phóng viên Mỹ đang ngồi cùng máy bay với cựu Tổng thống hướng tới thành phố Los Angeles thì tin này có ý nghĩa vượt ra khỏi những mục tiêu chính trị với những thủ thuật và giải pháp ngoại giao.

Về khách quan, nó khuyến cáo cho ý nghĩa nhân đạo, thể hiện mối quan tâm của nhà nước đối với công dân của họ đang lâm nạn. Nữ phóng viên đã từng đến Việt Nam để làm một phóng sự về nạn cúm gia cầm năm 2005, Laura Ling, xúc động kể lại: “Khi nhìn thấy ông Clinton, chúng tôi bị sốc thật sự, nhưng tôi hiểu ngay rằng 140 ngày buồn tủi sắp chấm dứt”..

Còn vị cựu Tổng thống đáng kính của họ thì chỉ giải thích đơn giản: “Công việc tôi đã làm là niềm vinh dự to lớn cho tôi với tư cách là một người Mỹ và một người cha. Đó là đưa những người phụ nữ trẻ ấy trở về nhà”. Clinton phát biểu như vậy ở trụ sở tổ chức Sáng kiến Toàn cầu Clinton tại New York hôm 6/8!
Và như thế cũng là quá đủ cho một chuyến công du “bất ngờ”!

Với công dân Mỹ, việc hai nữ phóng viên kia đã cùng bay về nước trên cùng chuyến bay với người đến giải cứu mình là thông điệp có ý nghĩa cổ vũ lòng tự hào và củng cố niềm tin: công dân trao quyền và đóng thuế để nuôi bộ máy nhà nước, thì nhà nước ấy là chỗ dựa tin cậy khi họ lâm nạn.

Gần đây nhất, báo chí Mỹ đã loan tin về những vụ tham nhũng và bê bối trong nhiều cơ quan hành pháp và tư pháp Hoa Kỳ. Thế nhưng, trong riêng chuyện này, không phải chỉ hai công dân Mỹ “hiểu ngay rằng 140 ngày buồn tủi sắp chấm dứt” khi họ nhìn thấy sự hiện diện của vị cựu Tổng thống của họ, mà những công dân Mỹ nói chung cũng được trấn an khi họ đang trong một thế giới đấy bất an này.

Trong một thế giới mà bọn khủng bố và lũ cướp biển đang gây ra bao thảm họa cho dân lành, ngoài chuyện cướp bóc còn phục vụ cho những ý đồ thâm độc, thì thông điệp nói trên có tác động trực tiếp đến tâm trạng bất an đó.

Một quan chức Nhà Trắng cho hay “chuyến công du của ông Clinton đến Bình Nhưỡng là một bảo đảm cho việc ân xá hai nhà báo Mỹ”. Việc có được “bảo đảm” ấy có thể không là mục tiêu chính trị lớn nhất đối với hoạt động đối ngoại mà Nhà Trắng toan tính, song với người dân Mỹ, đây là một thông điệp có sức thuyết phục về ý tưởng thế nào là “nhà nước của dân, do dân và vì dân” mà Abraham Lilcoln, vị Tổng thống thứ 16 của họ từng phát biểu tại Gettysburg năm 1863.

Xem ra, chính trị cao nhất và thiết thực nhất là an dân, trong trường hợp này của nước Mỹ là không bỏ mặc dân trong hoạn nạn.

Theo Tương Lai (TuanVN.net)

HIỂU ĐỜI

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới sống thanh thản, sống thoải mái.

Qua một ngày mất một ngày
Qua một ngày vui một ngày
Vui một ngày lãi một ngày

Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó.

“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc,cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.

Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình.
Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.
Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi.
Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ.
Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ.
Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.

Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách ấy. Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).

Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.
Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.
Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ nghĩ ra, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên.
Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.

Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.
Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.

Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; Tuổi không già tâm già, thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già.

Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu…. Mọi thứ đều nên “vừa phải”.

Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống….)
Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh)
Người khôn phòng bệnh , chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống.
Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh…. Tất cả đều là muộn.

Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.

Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh.

“Hoàn toàn khỏe mạnh”, đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.

Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cuộc sống lành mạnh.

Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên, nhiều màu sắc, có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.

Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.

Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già

Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.

Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn./.

Chu Dung Cơ

Học là gì và để làm gì?

(TT&VH) - “Hàng năm, mỗi khi trên trời có những đám mây bàng bạc là tôi lại bâng khuâng nhớ buổi tựu trường”, câu văn của Thanh Tịnh (tôi ghi theo trí nhớ, có thể không đúng nguyên văn). Hôm nay, mỗi khi trên trời có những “đám mây bàng bạc”, người Việt mình từ già đến trẻ, không bâng khuâng nhớ buổi tựu trường mà đăm đắm âu lo.

Người có học lo âu vì cảm thấy nền giáo dục chưa vượt qua cửa ngõ cải cách, dù đã làm đi làm lại nhiều lần, tiêu tốn hàng tỷ đô la, mà vẫn như đang loay hoay tìm đường trong khi các thế hệ lần lượt qua đi nhanh như vó câu qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu. Rất nhiều học sinh, sinh viên ra trường có chất lượng của một thứ bán thành phẩm cần được đào tạo lại, gọt giũa lại.

Người nghèo hay kẻ ít học mải lo cơm áo thì không quan tâm đến chất lượng giáo dục mà lo chạy chợ hay cày sâu cuốc bẫm nuôi con ăn học với hàng đống lo toan cơm áo gạo tiền, đóng góp các khoản.

Người giàu thì lo đôn đáo chạy tiền (kể cả tham nhũng), mong con chóng lớn cho trôi cái cấp cơ sở trong nước để tống chúng ra nước ngoài du học, dù biết chắc rằng chúng sẽ ở lại phục vụ nước người ta nếu thành tài, công lao mình nuôi dưỡng bao năm đút thêm được một thìa cơm đã mừng húm, cuối cùng chưa làm được gì cho Tổ Quốc đã bị người ta nẫng tay trên sử dụng.

Người già lo con cháu “nhất đại bất như nhất đại” (mỗi đời một tệ), tiếc cho trẻ con bị thiệt thòi không được hưởng một nền giáo dục như mình. Thật khó nhắm mắt xuôi tay khi thấy con không hơn cha, làm sao gọi là nhà có phúc!

Lớp trẻ thì lo một năm học cực khổ quá đi cày với những chiếc cặp sách nặng như cùm, với những giờ học thêm (đã bị cấm nhưng được biến tướng như kỳ nhông vẫn tồn tại khắp nơi), lo vượt qua các bài tập khó quá cỡ (ví dụ: cháu tôi, một học sinh lớp sáu phải làm bài “em hãy điểm qua những vụ bạo hành trẻ em trong năm 2008”), đến ông nó là nhà báo cũng bó tay! Lo làm sao qua những kỳ thi gian nan như đánh giặc, ông bà bố mẹ mất ăn mất ngủ hàng tháng trời thấp thỏm lo âu!

Người ta bàn cãi đã quá nhiều về giáo dục, đã quá nhiều tự hào về truyền thống hiếu học của dân ta, truyền thống học giỏi của học sinh ta. Tôi giật mình và muốn thắc mắc: học là gì nhỉ? Thực ra, học, dù học giỏi nhất thiên hạ đi nữa, chỉ là mới biết được những gì người ta đã nghĩ ra, đã biết mà thôi. Sáng tạo ra được gì, nghĩ ra điều gì, làm ra cái gì cho nhân loại mới là quan trọng chứ! Hỏi nước ta có truyền thống hiếu học nhưng đơn giản như cái xe đạp, cái máy khâu cũng không do người mình nghĩ ra! Bao nhiêu học sinh đạt giải quốc tế toán lý đi đâu cả rồi? Phải chăng không ít các em gọi là học giỏi ấy đang làm thuê cho mấy hãng nước ngoài mà giám đốc là những thằng bạn cũ học dốt hơn họ?

Học để biết, biết để sáng tạo chứ không phải để qua các kỳ thi. Sáng tạo không phải để kiếm cơm mà để phục vụ đất nước và nhân loại một cách thiết thực. Nếu ai cũng nghĩ như vậy thì có lẽ giáo dục đã có một bộ mặt mới.

Nguyễn Quang Thân

9 thg 8, 2009

Đập thủy điện ở Trung Quốc làm đảo lộn sông Mekong

(TuanVietNam) - Chưa có một hiệp định quốc tế nào đề cập đến việc khai thác các sông xuyên quốc gia, Trung Quốc đang nắm ưu thế, kiểm soát nước ở thượng nguồn sông Mekong.

Bài viết là những nghiên cứu và quan điểm cá nhân của Michael Richardson, học giả nghiên cứu tại Viện Đông Nam Á học có trụ sở tại Singapore về những ảnh hưởng của việc xây dựng đập thủy điện tại Trung Quốc.

Trở lại năm 1986, việc Trung Quốc bắt đầu xây dựng chuỗi các đập thủy điện đầu tiên không mấy thu hút được sự chú ý của các nước hạ lưu Đông Nam Á. Nhưng vào thời điểm hiện tại, khi Trung Quốc đang đẩy nhanh tiến độ xây dựng đập thủy điện thứ 4 ở thượng lưu sông Mekong thì những quan ngại về tác động của chúng tới môi trường trong khu vực ngày càng tăng.

Thêm vào đó, những bất đồng giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á khiến việc đưa ra một giải pháp có sự đồng thuận của cả 2 bên gần như là không thể.

Bốn quốc gia ở hạ lưu sông Mekong gồm Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, và Lào quan ngại trước việc Trung Quốc khai thác thủy lực của sông Mekong và thay đổi dòng chảy tự nhiên của nó trên quy mô lớn. Trên 60 triệu dân sống ven sông sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ bởi những hoạt động trên thượng nguồn.

Báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Viện Công nghệ châu Á (AIT) có cảnh báo rằng kế hoạch của Trung Quốc xây dựng 8 đập trên sông Mekong (phần chảy qua Trung Quốc có tên Lancang), có thể đe dọa đáng kể tới bản thân con sông cũng như tài nguyên tự nhiên của nó.

Vào tháng 6, Thủ tướng Thái Lan đã xuất trình một đệ đơn yêu cầu tạm dừng việc xây dựng đập. 11,000 người đã ký vào đơn, phần đông trong số đó là nông dân và ngư dân kiếm sống ven sông.

Có một số chuyên gia cho rằng nếu các bên đều nhìn nhận theo hướng phê phán vấn đề này thì quan hệ giữa Trung Quốc và láng giềng Đông Nam Á có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhưng với việc sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc ngày một tăng, chính phủ ở các quốc gia trên đã chọn giải pháp im lặng.

Lào, Campuchia và Thái Lan đã đề xuất các kế hoạch xây dựng đập trên những phần sông Mekong chảy qua địa phận nước mình. Trong khi đó, Việt Nam lên tiếng yêu cầu Trung Quốc xem xét các trường hợp môi trường địa phương bị ảnh hưởng bởi các đập ở thượng nguồn.

Rất nhiều người cho rằng Mekong là dòng sông của Đông Nam Á, nhưng thực ra khởi nguồn của nó là từ cao nguyên Tây Tạng. Một nửa chiều dài của nó chảy qua tỉnh Vân Nam Trung Quốc trước khi đi qua Đông Nam Á.

Vì hiện nay chưa có một hiệp định quốc tế nào đề cập đến việc khai thác các sông xuyên quốc gia, Trung Quốc đang nắm ưu thế, kiểm soát nước ở thượng nguồn sông Mekong. Trung Quốc có quyền phát triển phần sông chảy qua địa phận nước mình nếu thấy phù hợp và tự ý thực hiện không cần sự tư vấn của các quốc gia láng giềng, càng không cần sự đồng tình của họ.

Lưu vực sông Mekong nhận nước từ một diện tích 795,000 km2. Ủy hội sông Mekong (MRC) một tổ chức đa chính phủ thành lập năm 1995 bởi bốn nước hạ du sông Mekong đã ước tính rằng riêng tiềm năng thủy điện của hạ lưu đã lên tới con số khổng lồ 30,000 MW.

Nhưng MRC cũng nhận định rằng có những thách thức lớn trong việc cân bằng giữa lợi ích của việc xây đập là năng lượng sạch, dự trữ nước, và kiểm soát lũ với những tác động tiêu cực khác. Đó là việc di dân, ngăn cản dòng di chuyển lên xuống của cá, và thay đổi dòng chảy của nước và phù sa.

Các đập tại Vân Nam sẽ sản sinh ra 15,500 MW điện cho các thành phố và các nhà máy, giúp thay thế các nhiên liệu ô nhiễm mà cụ thể ở đây là than và dầu. Tám đập này có công suất tương đương với 30 nhà máy nhiệt điệt cỡ lớn.

Đập thứ 4 trên sông Mekong ở Trung Quốc tại Tiểu Loan (Xiaowan) sẽ hoàn thành vào năm 2012 với chi phí gần 4 tỉ đô la Mỹ. Tường đập sẽ giữ kỷ lục cao nhất thế giới với chiều cao 292m. Hồ chứa của nó sẽ chứa 15 tỉ m3 nước, gấp 5 lần khả năng lưu trữ của 3 đập còn lại cộng lại.

Kể từ cuối năm 2008, khi các kỹ sư Trung Quốc đóng cửa kênh rẽ nước của đập thủy điện Tiểu Loan, hồ nước đã được làm đầy để chuẩn bị cho việc chạy tuốc bin điện đầu tiên vào tháng 9. Khi đầy, diện tích hồ chứa vào khoảng trên 190 m2. Với khả năng sinh ra 4,200 MW điện, Tiểu Loan sẽ là đập lớn nhất trên sông Mekong.

Tuy nhiên Trung Quốc đang dự tính hoàn thành một đập khác dưới đập Tiểu Loan tại Nọa Trát Độ (Nouzhadu). Tuy không cao bằng nhưng nó sẽ chứa một thể tích nước lớn hơn gần 23 tỉ m3 và sinh ra 5,000 MW điện.

Giới chức Trung Quốc đảm bảo rằng các đập tại Vân Nam có những tác động tích cực đến môi trường. Họ nói bằng việc giữ nước lại trong mùa mưa, các đập sẽ giúp kiểm soát lũ lụt và xói lở bờ sông ở hạ du. Ngược lại, việc tháo nước từ bể chứa để sinh điện vào mùa hè sẽ cải thiện tình trạng thiếu nước ở hạ du sông Mekong vào mùa khô.

Tuy nhiên, theo báo cáo của UNEP-AIT, Tonle Sap, nơi trú ngụ của các loài cá hạ lưu sông Mekong, và đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa của Việt Nam, có nguy cơ gặp bất lợi do những thay đổi từ chu kỳ lũ lụt và hạn hán đặc biệt của sông Mekong.

Hồ Tonle Sap nối với sông Mekong bởi sông Tonle Sap. Các nhà khoa học đang lo lắng rằng việc giảm bớt dòng nước lũ tự nhiên của sông Mekong sẽ dẫn tới mực nước hồ bị xuống thấp, ảnh hưởng đến trữ lượng cá vốn đã và đang chịu sức ép từ việc khai thác quá mức và ô nhiễm môi trường.

Mối quan tâm của Việt Nam chính là lượng nước bị mất đi sẽ làm trầm trọng hóa vấn đề vùng trũng tại Đồng bằng sông Cửu Long đang bị nước biển xâm chiếm. Biến đổi khí hậu và hiện tượng tăng mực nước biển có thể dẫn đến nguy cơ một diện tích lớn đất canh tác nông nghiệp bị xâm thực và hàng triệu người phải chuyển chỗ vào cuối thế kỷ này.

Ủy hội sông Mekong (MRC) đã thảo luận hợp tác kỹ thuật với các chuyên gia Trung Quốc để đưa ra các nhận định, đánh giá về những thay đổi của hạ lưu sông dưới tác động của việc phát triển thủy điện.

Nhưng Trung Quốc từ chối việc tham gia MRC cũng như xem xét các hướng dẫn quản lý tài nguyên của MRC. Trung Quốc mong muốn vai trò của mình chỉ dừng lại ở mức đối tác đối thoại. Một khi trở thành viên chính thức của MRC, các kế hoạch đập thủy điện của Trung Quốc sẽ bị MRC phân tích chi tiết đồng thời sức ép lên Bắc Kinh sẽ gia tăng, khiến Trung Quốc phải xét đến lợi ích của các nước còn lại trong kế hoạch của mình.

Trong khi việc xây dựng đập tại Trung Quốc tiến triển theo đúng kế hoạch, các đề án tương tự tại các phần sông Mekong ở Đông Nam Á đã bị tạm dừng. Trước khi các nền kinh tế hướng xuất khẩu của châu Á bị tác động mạnh bởi khủng khoảng kinh tế toàn cầu, Campuchia, Lào, và Thái Lan đã thông báo các kế hoạch xây dựng đập tại hạ lưu sông Mekong.

Hiện nay tại Lào, sông Mekong sản xuất ra được trên 3,200 MW điện. Nhưng ngay cả việc sản xuất điện này cũng không tránh được tác động của cuộc khủng hoảng. Thái Lan, khách hàng tiêu thụ điện chính tại hạ du sông Mekong đã thông báo sẽ cắt giảm đáng kể lượng điện nhập khẩu từ Lào.

Mặt tích cực ở đây là chính lúc này, các nước Đông Nam Á có một khoảng lặng để nhìn nhận lại những ảnh hưởng của việc xây dựng đập trên sông Mekong đến cuộc sống của những người dân ở lưu vực sông. Tuy nhiên, không một kế hoạch quản lý sông Mekong thực sự hiệu quả nào có thể được đưa ra nếu không có sự tham gia đầy đủ của Trung Quốc.

Bắc Kinh đang có ý định hội nhập kinh tế sâu sắc hơn với các nước Đông Nam Á trong đó có việc hợp tác về thương mại, đầu tư, truyền thông, vận tải, và năng lượng với các nước tiểu vùng sông Mekong. Nhưng chiến lược này có thể đem lại kết quả ngược lại sự mong đợi nếu các nước trong khu vực đưa ra kết luận rằng các đập thủy điện của Trung Quốc đang có tác động ngược đến sự phát triển của họ trong tương lai.

* Quỳnh Anh (dịch từ Yaleglobal.yale.edu)

4 thg 8, 2009

Ảnh hưởng của đập Tiểu Loan (Trung Quốc) trên thượng nguồn

Đập Tiểu Loan của Trung Quốc trên thượng nguồn sông Mêkông có thể tác hại nặng nề đến Việt Nam và các nước hạ nguồn.
Tai họa mà các con đập của Trung Quốc ở bên trên dòng sông Mêkông gây ra cho các quốc gia phiá dưới đã từng được gợi lên, nhưng lần này hiểm họa được cho là sẽ nghiêm trọng hẳn lên vì Bắc Kinh chuẩn bị cho vận hành một con đập thứ tư, lớn hơn rất nhiều so với các con đập Mạn Loan, Cảnh Hồng và Đại Chiếu Sơn đã đi vào hoạt động.

Trong tháng 07/2009 vừa qua, nhiều bài viết khác nhau đã liên tiếp được công bố nhằm đánh động công luận về các tác hại của các con đập nói chung và đặc biệt là loạt đập nước mà Trung Quốc xây dựng trên thượng nguồn sông Mêkông, đối với môi trường và đời sống các cư dân ở vùng hạ lưu là Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam.

Đáng chú ý hơn cả là bài “Đập tại Trung Quốc biến Mêkông thành dòng sông bất hoà’’ của nhà nghiên cứu Michael Richardson, thuộc Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á tại Singapore, đăng trên trang web YaleGlobal của trường Đại Học Yale (Hoa Kỳ) ngày 16/07/2009, và bài “Đập thủy điện đe dọa hàng triệu sinh linh bên dòng Mêkông’’ của Cơ quan phân tích thông tin nhân đạo IRIN thuộc Văn Phòng điều phối các vấn đề Nhân đạo của Liên Hiệp Quốc, công bố ngày 22/07.

Tai họa mà các con đập của Trung Quốc ở bên trên dòng sông Mêkông gây ra cho các quốc gia phía dưới đã từng được nhiều quan sát viên gợi lên, nhưng lần này hiểm họa được cho là sẽ nghiêm trọng hẳn lên vì chính quyền Bắc Kinh chuẩn bị cho vận hành một con đập thứ tư chắn ngang sông Mêkông, to lớn hơn rất nhiều so với các con đập Mạn Loan, Cảnh Hồng và Đại Chiếu Sơn đã đi vào hoạt động.

Đó là đập Tiểu Loan (phiên âm tiếng Anh là Xiaowan), cao 292 thước, tức là gần bằng tháp Eiffel Paris, công suất dự trù 4.200 Mêgawatt, hơn gấp ba lần công suất của ba đập nước đang vận hành. Điều đáng lo ngại hơn cả là dung lượng cực lớn của hồ chứa nước của con đập Tiểu Loan, lên đến 15 tỷ thước khối, tức là gấp năm lần tổng dung lượng của ba con đập đã hoàn thành trước cộng lại.

Cơn khát năng lượng của Trung Quốc đã thúc đẩy nước này hoàn tất công trình xây đập Tiểu Loan sớm hơn một năm. Đập này đã bắt đầu lấy nước vào hồ chứa và chuẩn bị cho chạy tổ máy phát điện đầu tiên vào tháng 9/2009 ! Song song với Tiểu Loan, một con đập khác cũng đang được Bắc Kinh ráo riết thi công là đập Nọa Trác Độ (Nuozhadu), còn to lớn hơn, với hồ chứa hút tới gần 23 tỷ mét khối nước, gần gấp đôi hồ Tiểu Loan. Theo kế hoạch, con đập đó sẽ hoàn tất vào năm 2014 !

Nguy cơ nước sông Mêkông bị các đập thuỷ điện Trung Quốc ở đầu dòng hút hết là một trong những vấn đề từng được các nhà nghiên cứu nêu bật từ mấy năm nay, với những hậu quả khôn lường đối với các nước thiếu may mắn nằm ở dưới hạ lưu trong đó có Việt Nam.

Vào tháng Năm vừa qua, một công trình nghiên cứu hỗn hợp giữa Cơ quan Bảo vệ Môi trường Liên Hiệp Quốc UNEP và Viện Công Nghệ học Châu Á AIT đã công khai cảnh cáo rằng kế hoạch xây dựng 8 con đập trên thượng nguồn sông Mêkông có thể trở thành một “mối đe dọa đáng kể” cho dòng sông và nguồn tài nguyên thiên nhiên đến từ con sông, nêu bật nguy cơ đối với Việt Nam và Cam Bốt.

Đối với Việt Nam, việc lưu lượng nước sông Mêkông bị giảm do bị đập nước Trung Quốc hút từ trên thượng nguồn sẽ làm gia tăng hiểm họa vùng đồng bằng sông Cửu Long bị nước biễn tràn vào, và đất đai bị hoá phèn, không trồng trọt được. Cộng thêm với nguy cơ mực nước biển dâng lên do biến đổi khí hậu, những diện tích canh tác rộng lớn có thể sẽ bị ngập lụt, buộc hàng triệu con người phải di tản. Đồng Bằng sông Cửu Long vốn là vựa thóc của cả nước, các thiệt hại sẽ cực kỳ nghiêm trọng.

Đối với Cam Bốt, tình hình cũng không sáng sủa hơn. Mực nước sông Mêkông bị giảm sẽ đe doạ đến Biển Hồ, vựa cá của toàn vùng, khiến cho kế sinh nhai của hàng triệu ngư dân bên dòng Mêkông bị tổn hại.

Lẽ dĩ nhiên là phiá Trung Quốc đã nhất loạt bênh vực cho các con đập của họ, cho rằng các công trình này sẽ ảnh hưởng tích cực đến môi trường khu vực. Các hồ chứa sẽ giúp điều hoà mực nước sông Mêkông, giảm được lượng nước chẩy vào mùa mưa, giúp các nước phiá dưới không bị lụt, giúp cho bờ sông không bị sói mòn. Còn trong mùa khô, nước xả ra từ các đập thuỷ điện sẽ giúp các quốc gia hạ nguồn không bị khô hạn.

Vấn đề trên lý thuyết là như vậy, nhưng trong thực tế thì theo giới bảo vệ môi trường trong khu vực, thì chỉ mới có ba con đập nhỏ đi vào hoạt động mà thôi mà tác động tiêu cực đối với các nước ở phiá dưới đã xuất hiện, chẳng hạn như nguồn cá đã giảm sút hẳn trong lúc hiện tượng bờ sông bị sạt lở vì sói mòn đã phát sinh từ Miến Điện qua miền Bắc Thái Lan và miền Bắc Lào.

Vấn đề đặt ra hiện nay là những lời báo động chủ yếu đến từ xã hội công dân, từ các tổ chức phi chính phủ, trong lúc chính quyền các nước hạ nguồn sông Mêkông tránh trực diện đối đầu với Trung Quốc trên vấn đề này. Ủy Ban Sông Mekong, một định chế liên chính phủ tập hợp 4 nước hạ nguồn sông Mêkông tuy rất quan tâm đến hồ sơ, nhưng lại không có uy thế gì đối với Trung Quốc.

Theo nhà nghiên cứu Micheal Richardson, cho đến nay, Trung Quốc chỉ đồng ý làm “đối tác đối thoại” của Ủy Ban sông Mêkông mà tránh không gia nhập định chế này hay tuân thủ những quy định hướng dẫn quản lý tài nguyên thiên của Uỷ Ban. Theo Richardson, quy chế thành viên sẽ khiến cho kế hoạch xây đập của Trung Quốc trên thượng nguồn dòng Mêkông bị các nước Đông Nam Á ở hạ nguồn giám sát kỹ lưỡng hơn, qua đó gây sức ép buộc Bắc Kinh quan tâm đến quyền lợi của họ.

Để hiểu rõ hơn về tác hại của đập Tiểu Loan cũng như các con đập khác trên thượng nguồn sông Mêkông đối với Việt Nam, RFI đã đặt câu hỏi cho chuyên viên môi trường Nguyễn Đức Hiệp tại Úc. Mời quý vị nghe toàn bộ bài phỏng vấn .

Theo Trọng Nghĩa (RFI)