QuocHung's Blog

26 thg 7, 2009

TÔI ĐƯỢC "GẶP" LINH HỒN NGƯỜI THÂN QUA NHÀ NGOẠI CẢM BÍCH HẰNG

Tôi quen Phan Thị Bích Hằng qua Vũ Huy Hùng. Chú Hùng là Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty đầu tư phát triển nhà Hà Nội mà từ lâu tôi quý như em.

Đắc Trung
1
Thật ra từ trước đó mấy năm, được nghe không ít người nói, đọc không ít bài viết và qua không ít băng ghi âm, ghi hình về Phan Thị Bích Hằng cùng một số nhà ngoại cảm khác như Đỗ Bá Hiệp, Nguyễn Văn Liên, Nguyễn Thị Phương, Nguyễn Văn Nhã ... với những khả năng đặc biệt kỳ diệu của họ và bằng những khả năng Trời ban ấy họ đã làm được biết bao việc đức, tìm được hàng vạn hài cốt liệt sĩ, hàng trăm phần mộ thất lạc đem hạnh phúc vô giá cho biết bao gia đình. Trong thâm tâm tôi rất kính phục họ`và muốn có dịp được làm quen để tỏ lòng ngưỡng mộ, để tìm hiểu về họ, về ngoại cảm - một lĩnh vực khoa học rất mới mẻ này. Nhưng cho đến lúc ấy tôi chỉ mới “có duyên” được thân thiết với anh Đỗ Bá Hiệp. Giờ được Hùng nhận lời giới thiệu với Phan Thị Bích Hằng, tôi mừng lắm.

Tối 12 tháng 2 năm 2006 Hùng đón. Hai chúng tôi đến thăm Bích Hằng ở nhà riêng. Đã hẹn trước, cả nhà đón tiếp rất vui vẻ. Tuấn, chồng Hằng, kỹ sư điện tử viễn thông, đẹp trai, hiền, ít nói. Hai “cậu cưng” 7 tuổi và 3 tuổi rất xinh và hiếu động. Hằng da trắng, mũi thẳng, mắt đen, dịu dàng. Chỉ tiếp xúc mươi phút thôi cũng nhận ra ngay đó là một cô gái thông minh và tháo vát. Hằng kém con gái đầu của tôi hai tuổi. Vợ chồng Hằng rất thân với Hùng. Sau đó qua trò chuyện lại biết thêm tôi đã từng quen bố của Hằng khi ông còn công tác trong quân đội. Thế là chú cháu chúng tôi trở nên thân thiết.

Rồi tôi và Hùng về quê Hằng ở Yên Khánh, Ninh Binh thăm bố cô khi ông đau bệnh, về chia buồn tiễn biệt khi ông qua đời. Hàng năm trời anh em, chú cháu chúng tôi gặp gỡ giao lưu. Được nghe Hằng kể về mình, được những người bạn gần gũi kể về cô và đặc biệt được nghe mẹ của Hằng, một cô giáo dạy văn rất khiêm nhường, nhân hậu và chân thật kể về Hằng từ bé đến lớn, nhất là những năm tháng tai hoạ giáng xuống. Hằng bị chó dại cắn phát bệnh, lên cơn tưởng không qua khỏi. Rồi những lời thị phi ác khẩu vu cho Hằng tuyên truyền mê tín dị đoan, thậm chí bị công an bắt tạm giữ... Để trở thành nhà ngoại cảm đem tâm sáng, lòng thiện giúp đời như bây giờ bản thân Hằng và cả gia đình cô đã phải gánh chịu biết bao đau khổ, bất hạnh ...
Chắp nối các chuyện đã nghe, các bài đã đọc và hình ảnh đã xem có thể tóm lược những nét chính về Phan Thị Bích Hằng với tư cách nhà ngoại cảm như sau.

Năm 1989, mười tám tuổi, Hằng và cô bạn thân cùng bị một con chó cắn. Ở nông thôn bị chó cắn là thường, chẳng mấy bận tâm. Không ngờ khoảng một tháng sau cô bạn đột nhiên phát bệnh, người co giật, hàm răng cứng lại. Hằng đưa bạn đi bệnh viện. Bác sĩ chẩn đoán bị bệnh dại. Hằng bàng hoàng: “Đúng như vậy. Cháu và bạn ấy cùng bị một con chó cắn”. Hoang mang cực độ, cảm thấy tử thần đã xiết chặt cổ mình , hôm sau Hằng cũng hôn mê bất tỉnh còn cô bạn thì qua đời.

Gia đình đôn đáo đưa cô đi chữa trị cả đông y, tây y, nhưng chỗ nào cũng lắc đầu bất lực. Khi đến nhà một lang y theo đạo Thiên Chúa, xem xét kỹ bệnh xong, ông nói: “ Chúa lòng lành sẽ che chở co con”. Rồi sai người con trai ra nghĩa địa lấy một mảnh ván thôi mới bốc mộ lên đem về, ông bào chế cùng mấy vị thuốc cho Hằng uống. Ông bảo với người nhà cô: “Sau ba tiếng đồng hồ cháu sẽ cảm thấy nóng khắp người, rồi sốt mê man, nói sảng, thậm chí lên cơn điên cắn xé. Nếu ba ngày sau cháu hết cơn thì sống, còn nếu lên cơn trở lại thì không cứu được”. Đúng như thày nói, 9 giờ tối hôm ấy Hằng lên cơn dại, cắn xé điên cuồng. 11 giờ đêm thì thiếp đi. Hai hôm sau không có biểu hiện gì, người khoẻ dần. Ngày thứ ba Hằng đòi theo người anh trai cô bạn đã mất ra mộ thắp hương, bỗng cảm thấy luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng, cô rùng mình lo lắng nói: “ Anh đưa em về ngay. Em sắp lên cơn dại rồi”. Từ đấy Hằng không còn biết gì nữa và đến 1 giờ sáng hôm sau cô hoàn toàn tắt thở. Cả nhà đau đớn gào khóc. Họ hàng bàn việc hậu sự, khâm liệm. Không khí tang tóc bao trùm. Trong làng có một cụ già nhiều chữ Hán, giỏi tử vi, hỏi giờ sinh, ngày sinh ... Sau một hồi tính toán, cụ bảo: “ Chưa qua giờ Thìn chưa được khâm liệm cháu. Cứ để cháu nằm thế không được thắp hương. Chắc chắn nó không chết đâu”. Lời cụ nói chỉ gợi tia hy vọng mỏng manh. Thôi thì ai ngồi bên cháu theo dõi, chờ đợi cứ ngồi, còn ai lo việc tang lễ cứ lo.

Mấy ngày trước, khi người bạn gái qua đời, Hằng luôn trong tâm trạng bi quan tuyệt vọng. Có lần cô hỏi bố: “ Bố ơi, vì sao những vị lãnh đạo chết người ta lại bắn mấy loạt đại bác ?”. Bố bảo: “Để linh hồn sớm siêu thoát, con ạ”. Hằng buồn rầu nói trong nước mắt: “ Nếu con chết bố bắn cho con bẩy phát đạn để con mau siêu thoát , mau trở về với gia đình, bố nhé”. Cô chỉ thấy bố nghẹn ngào.

Bẩy giờ sáng hôm sau bố Hằng mới về đến nhà. Nhìn con gái nằm bất động lòng ông tan nát. Trong nỗi đau tột cùng, nhớ lời con, ông rút súng khỏi bao và không chỉ bẩy viên mà có bao nhiêu đạn ông bắn hết lên trời. Không ngờ tiếng nổ làm Hằng bừng tỉnh, bật dậy, lao về phía bố: “Bố ơi!”. Đạp phải những vỏ đạn cô ngã vật xuống sân và lại lịm đi. Trong khoảng nửa giờ sau đó Hằng cảm thấy mình ở trạng thái không trọng lượng, bay lơ lửng, nhìn rõ một cây cầu bắc qua dòng sông. Bên này bà nội cầm tay cô níu lại, bóng bà ngoại bên kia vẫy gọi sang. Sương mờ như khói bao phủ. Chập chờn trong đó hình bóng nhiều người khác mà cô không biết là ai. Hằng cố vùng vẫy và tuột khỏi tay bà. Hoảng sợ, cô kêu to: “Bà ơi !” và bàng hoàng tỉnh dậy. Cô lần lượt nhận ra từng người xung quanh mình.
Việc Hằng sống lại đúng là kỳ lạ. Cả nhà, cả họ tràn ngập niềm vui. Khắp làng, khắp xã truyền nhau chuyện chưa từng có ấy.
Mấy tháng sau, Hằng khoẻ hẳn. Tuy nhiên cô cảm thấy trong mình có những dấu hiệu khác thường. Gặp ai nếu người đó đoản mệnh, thì dường như có tiếng nói mơ hồ mách bảo với cô rằng họ sắp chết và rồi cũng như có sự xui khiến khó cưỡng nổi cô báo cho họ biết. Không ít lần Hằng bị chửi mắng, có khi xuýt ăn đòn vì họ cho cô là “con điên” độc mồm, độc miệng. Ở làng có ông Vũ Văn Trác, hơn 50 tuổi, hiền và rất quý cháu Hằng. Một hôm gặp ông từ ngoài đồng về, Hằng bảo : “Ông ơi, ông sắp chết rồi, ông đừng đi làm nữa cho khổ”. Bị con bé “độc mồm” rủa thế, ông Trác nổi khùng cầm roi trâu đuổi đánh. Hằng vừa chạy vừa tức tưởi khóc : “ Cháu bảo ông chết thật mà ông không tin cháu à. Chờ mấy ngày nữa sẽ biết. Chỉ từ nay đến 15 tháng 7 thôi”. Hôm ấy bao nhiêu nguời chứng kiến vừa cười trêu ông Trác vừa thương con bé. Quả nhiên chỉ mấy tuần sau, đúng 2 giờ chiều ngày 15 tháng 7 loa truyền thanh thông báo tin ông Vũ Văn Trác qua đời. Chuyện này khiến cả làng chưa hết kinh ngạc thì tiếp đến việc Hằng gặp chú Bùi Văn Chai, là chủ nhiệm Hợp tác xã thêu xuất khẩu xã Khánh Hoà ở giữa hội trường Uỷ ban, lúc ấy rất đông người. Nhìn chú, Hằng bảo: “Đến tháng giêng là chú chết đấy”. Chú Chai bực lắm, còn mọi người thì xì xào bàn tán. Không ngờ đầu tháng giêng chú Chai chết thật.
Chuyện lan đi rất nhanh. Họ cho Hằng bị “ma ám”, nói ai chết là người ấy chết. Tất cả xa lánh cô. Nhìn thấy Hằng từ xa là bỏ đi. Hằng vô cùng đau khổ, cả gia đình buồn bã đưa cô đi các bệnh viện khám chữa thần kinh. Đến hết đền này phủ nọ kêu cầu cúng vái. Mặc dù Hằng ra sức giải thích rằng mình vẫn khoẻ, thần kinh không làm sao cả. Những chuyện đó là do cô nhìn thấy, cảm thấy, nghe thấy bóng người âm nào đó mách bảo cô nói ra và chính cô cũng không biết vì sao mình có khả năng ấy. Nhưng không ai tin.
Bị mọi người xa lánh, thậm chí ghê sợ Hằng buồn khổ vô cùng. Cho đến một hôm vào ngày giỗ bà nội, Hằng nhìn thấy bà, trên tay bế một đứa trẻ, theo sau một đứa bé nữa. Cô kể lại cho mọi người nghe. Ông nội nghe xong ngậm ngùi nói hai đứa trẻ đó là con ông. Một chết khi ba tuổi, một chết khi mới được tám tháng. Hằng có người chú ruột. Trong gia đình chú ai cũng mắc chứng bệnh rất lạ: teo một chân, ngoẹo một bên đầu mà đều ngoẹo về bên phải. Hằng sang chơi và nói với chú rằng cô nhìn thấy bóng người rất lạ luôn đi lại trong vườn nhà chú. Hình như đến lúc này chú đã hơi tin khả năng đặc biệt của Hằng. Thế là hai chú cháu đem xà-beng, cuốc, xẻng ra vườn đào, chỗ gần bụi tre, nơi Hằng thấy lần nào bóng người lạ đến đấy là biến mất. Đào sâu chừng hơn một mét thì gặp lớp ngói đã mục, rồi đến lớp đất đỏ. Gạt hết lớp đất đỏ thấy lộ ra khối hợp chất rắn gồm vỏ hến, vôi trộn với mật, loại vật liệu truyền thống, chắc như bê tông. Đó là quách. Phá lớp quách thấy bên trong là cỗ quan tài bằng gỗ quý trạm trổ rất đẹp. Bật nắp quan tài Hằng thấy hình một người đàn ông nằm dài bất động trong lớp nước vàng sánh. Hằng vừa thò tay xuống, lập tức bóng người đàn ông tan ra, biến mất. Trong quan tài chỉ còn lại hài cốt cùng những đồng tiền cổ đã ố rỉ kết chặt với nhau và nhiều vật dụng khác như ngựa đá, dao nhọn...
Vụ việc được báo cáo lên xã, rồi lên huyện...( sau này các nhà nghiên cứu văn hoá xác định đó là mộ một vị tướng triều nhà Trần có từ 700 năm trước ). Càng ngày Hằng càng nhận ra rằng dường như có một điều kỳ diệu ào đó, một khả năng bí ẩn nào đó xuất hiện trong nhận thức của cô và cô rất muốn thử nghiệm. Gia đình Hằng thất lạc ngôi mộ cụ tổ. Nhiều năm nay ông nội và bố cô đã mất không ít công sức đào tìm mà không thấy. Hôm ấy đúng ngày giỗ cụ. Hằng thắp hương chắp tay khấn niệm cầu xin cụ phù hộ rồi đi tìm. Cô đi. Tỉnh mà như mơ và rồi cô nhìn thấy mộ cụ nằm sâu trong lòng đất ngay gần đường cái. Hằng đào, mấy người nhà ra cùng đào, rồi bà con kéo đến. Mọi người hồi hộp chờ đợi “ xem con bé dở hơi này nó nói có đúng không”. Hố sâu chừng gần 2 mét thì xuất hiện một tấm gỗ có khắc hai dòng chữ Hán. Hằng lấy lên, rửa sạch đem về cho ông nội. Ông nội đã tám mươi tuổi, xúc động đọc: “Âm thuỷ quy nguyên. Vinh quy bái tổ” rồi nghẹn ngào: “Đúng mộ ông nội tôi đây rồi”. Ông khóc. Khóc nức nở, nước mắt chảy dài qua gò má nhăn nheo khiến con cháu cũng khóc theo. Đã bao nhiêu năm nay lòng ông luôn canh cánh xót xa vì để mất mộ cụ. Ngờ đâu nay lại do chính cháu ông tìm thấy. Thế này là nhà ông đại phúc rồi.
Sau hàng loạt sự kiện như thế, không chỉ Hằng, mà nhiều người đã bắt đầu tin rằng khả năng đặc biệt kỳ diệu ấy xuất hiện trong cô là thật. Họ không xa lánh cô nữa, không gọi cô là “con dở hơi” bị “ma ám” nữa, nhìn cô với ánh mắt vừa thân ái, vừa quý nể. Có người nhìn thấy Hằng từ xa đã chắp tay vái: “Lạy cô, xin cô...”, coi Hằng là hiện thân của đấng thiêng liêng đầy quyền bí. Nhiều gia đình trong làng, trong xã đến gặp nhờ cô tìm mộ và Hằng đã giúp họ tìm được không ít mộ thất lạc rất chính xác.
Bà con nhân dân tin, nhưng chính quyền địa phương không tin, gán cho cô tội “truyền bá mê tín dị đoan”, dùng áp lực gây nhiều khó khăn cho cô. Bố cô, một đại tá quân đội nghỉ hưu giữ chức Bí thư đảng uỷ, Chủ tịch Hội cựu chiến binh bị đem ra kiểm điểm, kỷ luật. Có ý kiến đòi đưa ông ra khỏi Đảng vì để con gái “hoạt động trái pháp luật”. Rất may cũng thời gian đó, được biết về khả năng ngoại cảm của Hằng (ngành khoa học mà nhiều nước trên thế giới đang tổ chức nghiên cứu) Viện khoa học thể dục thể thao và một số nhà khoa học thuộc Bộ Văn hoá thông tin về mời Hằng làm cộng tác viên. Để chứng minh khả năng đặc biệt của Hằng là thật, nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát khu Chùa Dầu được coi là rất cổ tọa lạc ngay trên đất của xã cô. Bằng khả năng nhìn xuyên đất biết được những gì ở dưới, thấy được bóng “linh hồn” người chết, hơn nữa còn nghe và hiểu được lời “linh hồn” nói, kể cả những nhân vật lịch sử đã qua đời từ nhiều thế kỷ trước... Khảo sát, khai quật, đối chiếu với sử liệu cùng những câu chuyện được truyền lại từ bao đời nay ở vùng quê ấy các nhà nghiên cứu xác định những thông tin Hằng cung cấp là chính xác. Chùa Dầu được xây dựng từ triều Trần cách ta khỏang 700 năm, di vật còn lại và tìm được thuộc loại quý hiếm vô giá. Đây chính là một trung tâm tín ngưỡng, văn hoá của tổ tiên, ông cha ta. Báo cáo khoa học được gửi lên Huyện, lên Tỉnh, rồi lên Trung ương và Chùa Dầu được Nhà nước công nhận là “Di tích lịch sử văn hoá”.
Sự kiện trên rất quan trọng đối với Bích Hằng, đã cứu cô, cứu gia đình cô khỏi áp lực của búa rìu dư luận, gỡ bỏ được sự phong toả, giúp mọi người hiểu cô, tạo điều kiện để cô được đem khả năng đặc biệt Trời ban ấy làm việc thiện giúp đời, dù lúc này khả năng của cô mới chỉ là nhìn thấy hài cốt, di vật trong lòng đất, thấy được hình bóng “ linh hồn”, nghe và hiểu được lời “linh hồn” nói. Để rồi từ đó khả năng của Hằng càng được tích lũy, được nâng cao.
Do phải lo chữa bệnh, Hằng chỉ còn đúng 15 ngày ôn thi. Vậy mà kết quả không ngờ : cô đạt gần 24 điểm vào Trường Đại học kinh tế quốc dân. Những năm là sinh viên Hằng học giỏi, khả năng ngoại cảm không giảm mà ngày càng được nâng lên. Cô vẫn giúp không ít gia đình tìm được mộ, nhất là thực hiện nhiều chuyến đi tìm hài cốt liệt sĩ đạt kết quả cao.
Đặc biệt thời kỳ này Hằng nhận ra mình có khả năng nhìn rõ hơn, nghe rõ hơn, không những thế còn giao tiếp, trao đổi được với “linh hồn”. Ấn tượng nhất là trường hợp cô “gặp” và “trò chuyện” với “vong” mẹ giáo sư Mai Hữu Khuê. Lần ấy, đang đi tìm mộ, khi đến gần vũng trâu đầm Hằng bỗng “gặp” linh hồn một bà cụ. Bà cụ dáng hơi còng, đứng đối diện cô, miệng lắp bắp. Hằng lên tiếng : “ Cụ ơi, cụ nói gì đấy ạ ?”. Bỗng bên tai cô vang lên rất rõ: Cháu ơi, bà tên là Kình, nhờ cháu nhắn cho con, cháu bà là mộ bà ở đây... Con bà tên là Khuê.... Hằng mừng vô cùng. Lần đầu tiên cô nhìn thấy “linh hồn” rõ như thế, từ dáng người, nét mặt, màu da, mái tóc, gò má, khoé miệng... Lần đầu tiên cô nghe được giọng nói của “linh hồn” rõ như thế và trò chuyện với “linh hồn” gần gũi thân thiết như thế.
Hằng kể lại việc đó với dân làng. Bà con bảo: Đúng, làng có bà Kình đã chết từ lâu. Con trai bà tên là Mai Hữu Khuê là giáo sư dạy Đại học Kinh tế quốc dân ở Hà Nội. Đã nhiều lần ông Khuê về tìm mộ mẹ mà chưa thấy. Tin này được nhắn tới ông Khuê. Ông Khuê đến gặp Bích Hằng và cô đã giúp ông tìm được mộ mẹ ngay cạnh vũng trâu đầm ấy.
Từ khi có thêm khả năng “giao tiếp” được với “linh hồn” người chết, cánh cửa đưa Hằng vào thế giới tâm linh càng rộng mở. Trong các chuyến đi tìm mộ cô “gặp” rất nhiều “linh hồn” đi theo. Có khi họ quây túm quanh cô tranh nhau nói: Tên tôi là ...quê ở ... người nhà tôi tên là ... hiện đang ở ... nhờ cháu (nhờ cô)...nhắn giúp ... Thế là để đến được ngôi mộ cần tìm cô phải “tiếp chuyện” với biết bao “linh hồn”, ghi chép lại lời nhắn để rồi tìm cách báo cho thân nhân của họ.
Một lần đi tìm mộ ở Thái Nguyên cô “gặp” một “linh hồn” đàn ông. Người này tự giới thiệu là nhà báo Thôi Hữu hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. “ Linh hồn” nhà báo nói rằng: Cháu ơi, ở bên kia đồi có hài cốt một người đức cao vọng trọng, một chí sĩ yêu nước lớn là cụ Lương Ngọc Quyến. Cháu cố gắng giúp... Nhờ các thông tin ấy mà cô tìm được cháu nội cụ Lương Ngọc Quyến ở Hà Nội là Lương Quân và giúp anh tìm được mộ cụ.
Cũng từ khi Hằng có khả năng “giao tiếp” với người âm mà bộ môn “Cận tâm lý” thuộc “Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người” đã có đề tài khoa học mã số KT.06 thử nghiệm phương pháp “tìm ngược”. Nghĩa là trước đây mọi thông tin đều do người sống cung cấp để đi tìm người chết, thì nay mọi thông tin lại do người chết cung cấp để đi tìm người sống và đã đem lại kết quả rất khả quan. Độ chính xác cao. Mở ra hướng nghiên cứu mới đầy tiềm năng và hấp dẫn. Như trường hợp Bích Hằng tìm được mộ sư Tổ ở Chùa Vua, phố Thái Thịnh (Hà Nội). Khuôn viên Chùa Vua trước đây rất rộng, vì thế khi sư Tổ qua đời thi hài được an táng ngay trong đất nhà Phật. Rồi dân số tăng, đô thị hoá nhanh, đất lên giá, người dân quanh chùa đua nhau lấn chiếm làm nhà. Mộ sư Tổ vì thế thất lạc mất.
Bích Hằng đến, thắp hương khấn mời. Sư Tổ về “gặp” cô. Cụ nói: cụ tên là Hoàng Đình Điều, quê Lạng Sơn, từng là tướng quân Yên Thế dưới quyền chỉ huy của cụ Đề Thám. Cụ Đề Thám và cụ đều bị giặc Pháp bắt. Nhưng rồi cụ trốn được về trụ trì chùa này. Dù xuất gia ăn chay niệm Phật nhưng cụ vẫn hoạt động cách mạng, nuôi dấu nhiều cán bộ bí mật, trong đó có cụ Nguyễn Phong Sắc, Bí thư xứ uỷ Trung kỳ, người lãnh đạo phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. ( Thật cơ duyên, năm 2002 chính Bích Hằng đã tìm được mộ cụ Nguyễn Phong Sắc. Nhà nước đã xây mộ, đúc tượng cụ đặt tại xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, Nghệ An ). Lúc ấy Hằng còn nhìn thấy phía sau cụ có tới mấy trăm “linh hồn” môn đệ của cụ đều là nghĩa quân đứng theo hàng ngũ nghiêm trang. Họ tranh nhau nói, tỏ ra rất bất bình vì cụ có công lớn với đất nước vậy mà người đời không ai biết đến để người ta lấn chiếm đất chùa xây nhà đè lên đầu, lên thân cụ. Sư Tổ thong thả nói: Làm được việc tốt cho đời là quý, chứ cái thân xá lợi thì có nghĩa lý gì ... Vừa lúc ấy Hằng thấy “linh hồn” cụ Nguyễn Phong Sắc về. Cụ nói với Bích Hằng: Để sư Tổ nằm thế là không được, ngay dưới nhà vệ sinh của người ta. Người ăn mày chết còn được chôn cất tử tế, đằng này cụ là ... Sư Tổ phàn nàn rằng hai gia đình làm nhà đè lên cụ đều gặp những tai ương, kẻ thì chết bất đắc kỳ tử, người thì ốm đau bệnh tật làm ăn thất bát. Cụ thương họ lắm. Làm người xuất gia tu hành cụ không muốn chúng sinh đau khổ, nhưng những nghĩa quân của cụ do bất bình mà họ bảo nhau trừng phạt, cụ khuyên không được. Sau đó, một phần do Bích Hằng cầu khẩn, phần nể lời cụ Nguyễn Phong Sắc và anh em nghĩa binh sư Tổ mới cho Hằng biết hiện cụ đang nằm ở dưới hai ngôi nhà, chứ chỗ nhà chùa đắp đất thắp hương là không phải đâu... Ngày còn sống mỗi khi luyện võ xong cụ và thủ lĩnh Đề Thám thường cùng nhau uống rượu chén tạc, chén thù. Cái nậm rượu cụ luôn đeo bên mình. Khi chết người ta chôn theo. Nằm trong đất xương cốt có thể mục nát, chứ cái nậm rượu thì không... Nhờ những thông tin ấy mà Hằng đã giúp nhà chùa tìm được mộ sư Tổ.
Lần đi tìm mộ anh bộ đội ở Vĩnh Thạnh, Bình Định. Khi đào gặp hài cốt lại thấy trước ngực có phù hiệu quân nhân ngụy mang tên trung tá Nguyễn Hữu Tuý. Bà con người địa phương ra chứng kiến rất đông. Mọi người trao đổi với nhau hay là anh bộ đội cải trang lính nguỵ và bị hy sinh ? Bên tai Bích Hằng bỗng vẳng đến giọng một “linh hồn”: Không phải. Tôi nằm bên này cơ ... Cùng lúc ấy một anh trong đoàn đi đào mộ (anh là xã đội trưởng) nhào tới, cầm chiếc phù hiệu xem, rồi hét lên : “ Thằng Tuý. Đó là thằng Tuý. Chính tên ác ôn này đã giết ba tui. Tau phải băm vằm mi ra mới hả”. Vừa nói anh vừa cầm chiếc đầu lâu tên Tuý ném xuống suối. Anh khoẻ quá, phản ứng quyết liệt quá khiến không ai kịp cản lại. Anh kể năm ấy anh mới mười tuổi, đã tận mắt chứng kiến bọn lính ngụy trói, rồi đóng đinh ba anh vào cây dừa và chính tên Tuý này đã dùng dao găm rạch bụng ba anh moi hết tim gan ra ngoài. Khi ấy ba anh là cán bộ Ban tuyên huấn xã. Căm thù bốc lên, anh lấy hòn đá đập tới tớp vào đống xương đã mục. Mấy người cố giữ lấy anh, hết mực khuyên can : người ta bây giờ cũng chỉ còn là nắm xương tàn. Dẫu có hành hạ nắm xương ấy thì ba anh cũng không thể sống lại được. Tốt nhất là rộng lòng tha thứ, bốc lên chôn cất lại cho người ta tử tế, rồi người ta sẽ hối hận với những tội ác đã gây ra... Mặc mọi người khuyên, anh vẫn kiên quyết: “Ai làm việc đó thì làm. Chớ tui nhất định không có làm”. Những người dân ở đây đều đã biết , đã chứng kiến bọn lính ngụy giết hại, moi gan bố anh xã đội trưởng cùng sáu cán bộ cách mạng khác nên cũng rất căm phẫn, nhất định không chịu bốc chôn cất lại hài cốt tên lính ngụy. Cuối cùng Bích Hằng phải bỏ tiền ra Quy Nhơn mua chiếc tiểu về, bỏ hài cốt tên Tuý vào đấy rồi mai táng. Nhưng khi cô đặt bát hương lên, người trong làng lại xô đến ném bát hương xuống suối. Đúng lúc ấy “linh hồn” đồng chí bộ đội mà nhóm của Hằng đang tìm mộ anh hiện lên, nhờ cô nói với mọi người rằng: Chiến tranh đã qua lâu rồi, mọi thù hận cũng nên khép lại bằng tấm lòng độ lượng. Nếu bà con cô bác không thắp hương anh ta thì tôi sẽ không cho tìm thấy mộ tôi đâu. Cứ thắp cho anh ta nén hương thì anh ta sẽ chỉ cho các vị biết chỗ tôi đang nằm ... Nghe Hằng truyền đạt lại ý “linh hồn” anh bộ đội như vậy mọi người mới cho cô thắp hương và ngay sau đó “linh hồn” người lính ngụy hiện lên dẫn Hằng đến bên bụi cây lớn nói rằng: Hài cốt anh bộ đội giải phóng nhân từ ấy nằm ở đây ... Mọi người đào và chỉ mất mươi lăm phút là thấy... Hằng nói: “ Vậy là anh ta đã lập công chuộc tội rồi, mọi người không nên căm thù nữa”. “Linh hồn” anh bộ đội kể rằng: hồi đó anh là lính đặc công bị tên Tuý bắt được. Khi nó đang áp giải, anh dùng võ thuật đá văng khẩu súng rồi cướp lưỡi lê giết nó luôn. Không ngờ vừa giết xong tên Tuý anh lại bị một tên phía sau bắn trúng. Mộ anh gần mộ nó. Anh nói : Khi còn chiến tranh là thù địch. Nhưng nay đất nước độc lập rồi, ở dưới này chúng tôi đã làm hoà với nhau, bắt tay nhau và cùng hút chung điếu thuốc...
Chuyện đi tìm mộ của Bích Hằng thì rất nhiều. Nhưng gian nan, vất vả, nguy hiểm, bí ẩn, hấp dẫn và để lại ấn tượng rất sâu sắc là lần ba nhà ngoại cảm Bích Hằng, Thẩm Thuý Hoàn và Nguyễn Khắc Bẩy cùng Đoàn công tác do Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh phụ trách và nhiều nhân chứng tham gia thực hiện đề án nghiên cứu mang số hiệu TK.06 đi tìm hài cốt các liệt sĩ trong trận đánh nổi tiếng tại cứ điểm K’Nak (Tây Nguyên) diễn ra từ tháng 3 năm 1965. Để có những thông tin cần thiết, thông qua bức ảnh đã cũ, Bích Hằng mời được “linh hồn” liệt sĩ Ngô Trọng Đãi về để “xin được thưa chuyện”. Liệt sĩ Ngô Trọng Đãi vốn là một trong số cán bộ chỉ huy trận đánh, nên qua những lần “trò chuyện” với “ông” mọi người được biết khá nhiều về vị trí quan trọng của cứ điểm K’Nak, về lực lượng và hệ thống bố phòng của địch, về quyết tâm tiêu diệt bằng được cứ điểm ấy của bộ đội ta, về các mũi tấn công và diễn biến vô cùng khốc liệt của trận đánh, về tổn thất nặng nề của quân ta và đặc biệt “ông” cho biết những địa điểm hoặc trong rừng, ven suối, hoặc dưới đáy hồ sâu Đắc Lốp, nơi rải rác, chỗ tập trung hài cốt của nhiều liệt sĩ đang từng ngày bị ải mục trong lòng đất mà không ai biết đến, không ai hương khói. Kết hợp với những thông tin từ Thẩm Thuý Hoàn và Nguyễn Khắc Bẩy cuộc tìm kiếm diễn ra nhiều ngày, nhiều đợt với vô cùng gian nan, vất vả, nguy hiểm. Cuối cùng Đoàn công tác đã tìm được hơn 300 bộ hài cốt liệt sĩ. Lễ đón nhận, truy điệu được tổ chức trọng thể. Một số được thân nhân đưa về quê hương, còn lại được an táng chu đáo tại nghĩa trang Vĩnh Thạnh.

Khả năng ngoại cảm xuất hiện ở một số người là có thật và luôn gắn liền với những điều thần bí chưa giải thích được. Ngoại cảm đang ngày càng ảnh hưởng sâu rộng và chi phối tới nhận thức, đời sống tâm linh con người. Bởi thế hiện nay ở nước ta đã xuất hiện nhiều “nhà ngoại cảm tự phong” và hầu hết là “đồ dởm”. Chỉ số ít người thực sự có khả năng đặc biệt đã được thử thách, đánh giá, đã được các cơ quan chuyên ngành là Liên hiệp khoa học công nghệ tin học ứng dụng, Trung tâm bảo trợ văn hoá kỹ thuật truyền thống, Viện khoa học hình sự (Bộ Công an) và Bộ Khoa học và công nghệ do Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tiến hành khảo nghiệm và kết luận công nhận như: Phan Thị Bích Hằng, Đỗ Bá Hiệp, Nguyễn Văn Liên, Thẩm Thuý Hoàn,Vũ Thị Minh Nghĩa, Nguyễn Khắc Bẩy, Nguyễn Thị Nguyện, Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Thị Phương, Hoàng Thị Thiêm ... mới đáng tin cậy.
Tôi quen Phan Thị Bích Hằng khi biết cô là một trong số ít nhà ngoại cảm ấy và ở thời điểm khả năng đặc biệt của cô đạt trình độ khá cao mà thực tế những việc cô làm đã chứng minh.

2

Từ khi quen Bích Hằng, tôi có ý định sẽ nhờ cô làm cầu nối để mong “gặp” được “linh hồn” bố, mẹ và những người thân đã qua đời, nên cố không để lộ thông tin gì về gia đình mình. Hằng chỉ biết tôi là nhà văn, nhà báo đã nghỉ hưu, chỉ hiểu tôi đôi chút qua các lần gặp gỡ cùng với Vũ Huy Hùng và những người thân khác (mà tôi thường kín đáo ít nói). Hoặc qua đọc những cuốn sách của tôi tặng cô, vậy thôi. Nghĩa là hầu như Hằng chưa biết gì nhiều về tôi, nhất là gia đình tôi. Điều đó rất quan trọng để khẳng định tính chính xác về những thông tin ngoại cảm Hằng giúp tôi.
Hằng nhận lời từ mấy tháng trước, hai lần hẹn, lại lỡ. Một lần cô phải đi Côn Đảo, lần sau đi nước ngoài. Biết Hằng rất bận, nhưng trong thâm tâm tôi nghĩ: có lẽ cái “duyên” được gặp “linh hồn” bố, mẹ và người thân của mình chưa đến, mặc dù từ nhiều năm nay sáng nào tôi cũng đèn hương, thỉnh chuông khấn niệm gia tiên rất thành tâm. Thế rồi đột xuất Hằng điện cho tôi: “ Chiều mai cháu sẽ đến giúp chú”.
Hôm sau (2 tháng 12 năm 2007) Hùng và tôi đón Hằng. Lần đầu Hằng đến nhà tôi. Bỏ qua phòng khách, chúng tôi lên thẳng phòng thờ trên tầng bốn. Ở đấy, chiếu đã trải trên sàn, vợ tôi, các con, các cháu và một số người thân của tôi đã ngồi chờ sẵn. Máy ghi âm, máy quay phim con rể tôi đã chuẩn bị đầy đủ. Cả gia đình đều rất thành tâm chờ đón sự việc thiêng liêng này.
Hằng bảo tôi chuẩn bị một chiếc bàn nhỏ, cùng một ghế nhỏ, một cốc đựng gạo, một nén hương, một chén nước lã, một chiếc bút, một tờ giấy và hạ ảnh bố tôi trên bàn thờ xuống cùng danh sách “linh hồn” những người thân cần gặp ghi kèm họ, tên, quê, ngày giỗ, phần mộ hiện ở đâu (nếu biết), ảnh (nếu có)... để trước mặt cô. Ngay sau đó Hằng ngồi vào ghế, thắp hương cắm vào cốc đựng gạo, mắt đăm đắm nhìn bức ảnh, chắp hai tay, miệng khấn niệm: “ Con lạy chín phương Trời, mười phương Phật ! Hôm nay, ngày 23 tháng 10 năm Đinh Hợi, tại số nhà 10 Ngõ 73 phố Giang Văn Minh, quận Ba Đình, Hà Nội, tín chủ là chú Nguyễn Đắc Trung xin quan Thổ Công, Thổ Thần coi quản phần nhà, phần đất trên cho phép tín chủ được mời vong linh của các thân nhân gồm: Ông nội tên là...quê quán...giỗ ngày ...phần mộ an táng tại...Bà nội tên là ...Bố đẻ là ...Mẹ đẻ là...Bố vợ là ...Mẹ vợ là ... về đây để chú Trung cùng con cháu trong gia đình xin thỉnh cầu các cụ mong được các cụ chỉ bảo và cháu xin truyền đạt lại ý kiến của các cụ cho mọi người biết ...”
Sau những lời thành tâm ấy, bút trên tay, giấy trước mặt Hằng sẵn sàng cho cuộc “phiên dịch”. Tất cả im lặng chờ đợi. Gần một phút trôi qua (chính xác là 56 giây), bỗng mắt Hằng sáng lên vui vẻ: “ Con chào ông ạ... Con chào bà ạ ...” . Mọi người đều xúc động.
Đồng hồ chỉ 15 giờ 40 phút.
Vợ chồng tôi đều nghẹn ngào: “Con chào bố, mẹ ạ”. Hằng nói rõ ràng thong thả : “ Thưa ông bà, hôm nay vợ chồng chú Trung và con cháu trong gia đình mời ông bà về để các con, các cháu được gặp ông bà. Chú Trung cũng có vài ba việc muốn được thưa với ông bà để ông bà chỉ bảo...”. Rồi Hằng quay sang tôi: “ Chú cần hỏi gì thì cứ nói đi”. Tôi cố kìm nén xúc động, rồi nhẹ nhàng: “ Thưa bố mẹ, con muốn biết ở dưới ấy bố mẹ có thiếu gì không ạ ? Có cần chúng con gửi xuống thứ gì không ạ ?” . Tôi dừng. Hằng vừa ghi chép, vừa nhắc: “ Chú cứ hỏi đi”. Tôi nói tiếp: “Ở trong lăng nhà ta hiện nay có hai bia đá khắc tên bố, mẹ, các cụ, rồi bà cô, ông mãnh, những người có phần mộ ở đấy thì có đủ không ạ ? Có đúng không ạ ? Trong lăng có lẫn ai là ngoại tộc không ạ ? Mộ của ông nội ở xứ đồng Mả Cổ, mỗi khi về chúng con chỉ đến đấy thắp hương bái vọng thôi chứ không biết cụ thể chỗ nào. Vậy xuống đấy bố có gặp ông không ? Mộ ông có còn ở khu vực ấy không ? Bố, mẹ và các cụ ở dưới ấy có biết trên này chúng con xây nhà thờ Tổ không ? Hàng năm chúng con cúng giỗ anh Thuận vào ngày mồng 1 tháng 6 âm lịch thì có đúng anh con mất vào ngày ấy không ạ ? Xuống đấy bố mẹ có gặp anh Thuận không ? Con cũng muốn hỏi bố là đất cát nhà cửa chúng con đang ở trên này có sạch sẽ không ? Có vong có cốt gì ở dưới không ? Việc nữa là vợ chồng con có cháu Nguyễn Thị Mai Trang là con gái và cháu Nguyễn Quang Anh là con rể, các cháu xây dựng với nhau đã sáu bẩy năm mà vẫn chưa có con, không biết vì sao ? Vậy bố mẹ có điều gì khuyên ? Vợ chồng anh Dưỡng thì có cháu Nguyễn Thị Thoa và Nguyễn Thị Thuỷ. Các cháu đều trưởng thành rồi, cũng rất mong có gia đình riêng, bố mẹ có điều gì dạy bảo ? Đặc biệt con hỏi mẹ về bà ngoại. Năm ấy bà đi cấy thuê ở Lạc Khoái trong Gia Viễn, Ninh Bình, gặp bão, thuyền bị lật, đến nay vẫn không biết mộ bà ở đâu. Vậy xuống đấy mẹ có gặp bà và có biết gì thêm về bà không ? Rì Cởn cũng mới mất, mẹ có gặp rì ở dưới ấy không ?” . Tôi tạm dừng hỏi và Hằng cũng tạm ngừng ghi, tai chăm chú lắng nghe, rồi quay sang tôi: “ Nhà mình có ai tên là Hoa không ạ ?”. “ Có. Con gái chú tên là Hoa”. Hằng: Ông bảo Hoa pha cho ông ấm trà để ông mời ông thông gia . Tôi lễ phép trả lời bố: “ Vâng ạ. Cháu Hoa đi pha nước ngay bây giờ ạ”, rồi thì thầm với Hoa: “Chắc ông ngoại cũng về đấy con ạ”. Hằng lắng nghe “linh hồn” nói, tay ghi, thỉnh thoảng lại : “ Vâng ạ....Dạ, thế ạ... Ông nhắc lại cho cháu là cụ Kinh hay cụ Kính ạ ?...”. Tất cả im lặng. Mấy phút trôi qua, Hằng quay sang tôi: Ông nói chuyện, còn bà thì cứ sụt sùi khóc ... Ông nói là... Ở dưới ấy bố với mẹ không thiếu thốn gì cả. Điều mừng nhất là việc làm được nhà thờ Tổ. Dưới này không chỉ bố mẹ, mà mọi người trong dòng tộc đều ngậm cười nơi chín suối. Mừng lắm. Còn về lăng mộ, ông bảo Nhìn vào bếp núc thì đánh giá người đàn bà trong gia đình. Nhìn lăng mộ thì thấy sự bề thế của gia tộc. Ông phấn khởi lắm. Nhất là các con lại khắc được danh sách đầy đủ tên các cụ có phần mộ trong lăng. Làm được thế là chu đáo lắm... Ông bảo Ở trong lăng nhà mình có một người ngoại tộc, nằm sát ngay mộ cụ Ngoạn . Nhưng không sao. Người ta ở đây từ lâu rồi. Hơn nữa con cháu nhà mình lại chu đáo nên người ta rất lấy làm vui. Bởi nếu không ở đây mà nằm chỗ khác thì người ta chẳng được ai hương khói cả... Hằng ghé sang hướng bên cạnh lắng nghe, tay thì ghi, miệng luôn: “ Vâng ạ ...vâng...thế ạ ...”, rồi nói với cả nhà : Cụ bà vừa sụt sùi vừa bảo rằng Cụ vẫn về chơi với cu Dũng. Tôi thưa: “ Dạ, cu Dũng ngồi kia ạ”. (Cu Dũng 7 tuổi, con mẹ Hoa, chắt của cụ bẽn lẽn cười lộ hai chiếc răng sứt). Hằng tiếp: Cụ bảo mỗi khi về chơi với cu Dũng cụ lại thương cháu Trang... Cụ bảo về cháu Trang thì chắc trên đường dương các con đã chạy thày, chạy thuốc đủ rồi, nhưng chả bệnh tật gì đâu, chẳng qua chỉ bị vướng một chút về đường âm thôi... Cụ bảo nhà mình có ông mãnh tổ là cụ Kính với anh Thuận, hai người này đều đi hầu Thánh cả. Vợ chồng cháu Trang nên sắm mấy cái lễ, đi lễ, bà sẽ đi cùng... Khi cháu khôn lớn thì bà không còn, nên cháu cũng chẳng tường bà. Nhưng bà lúc nào cũng thương cháu. ( Nghe bà nói, cháu Trang ngồi phía sau nước mắt tràn mi nghẹn ngào khóc). Chỉ mong giúp cháu được gì thì bà sẽ cố gắng... Sắm lễ rồi đi về phủ Xuân Trường, ở Hành Thiện ấy, cầu đức thánh Minh Không, bà sẽ nói với cụ Kính và anh Thuận nữa cùng với bà đi xin cho. Bà bảo người dương đi cầu mười thì chỉ bằng người âm đi một lần thôi. Hằng lại lắng nghe, tay ghi vào giấy, miệng luôn: “ Vâng ạ...dạ, vâng ạ....”. Ông nói là Anh Thuận đúng là mất ngày mồng 1 tháng 6 âm lịch. Giỗ anh các con rất chu đáo rồi. Nhưng vì anh mất vào ngày linh, ngày triệt đinh, nên các con sau này hiếm con trai. Thôi thì trai gái gì cũng được miễn là hiếu thảo. Ông bảo người ta có ba cái khổ: thứ nhất là yểu, thứ hai là tuyệt, thứ ba là bần. Bần hàn thì không gõ đến cửa nhà mình rồi. Yểu thì cũng không, phúc đức thọ trường rồi. Còn tuyệt tức là không con cháu thì rất khổ. Bởi thế vợ chồng cháu Trang cứ yên tâm, ông bà sẽ giúp. Hằng : Bà lại vừa khóc vừa nói Nhắc đến bà ngoại càng thấy đau lòng. Xuống đấy mẹ có gặp bà, mới biết rằng khi bà mất người ta đem chôn cùng với mấy người vào gò đất gần gốc gạo sau đình Lạc Khoái ... Khi nào các con có điều kiện về đấy thắp cho bà mấy nén hương để bà đỡ tủi mà những người xung quanh được thắp hương người ta cũng nhớ ơn mình... Hằng lại lắng nghe, tay ghi, rồi quay sang tôi: Bà bảo Cậu Tân lên đây được sao không bảo anh Dưỡng lên ? Tôi trả lời mẹ : “ Thưa mẹ, anh Dưỡng ở xa quá, sức khoẻ lại không tốt nên con không báo. Hai hôm trước giỗ Tổ ở quê anh em con mới gặp nhau. Hôm nay bố mẹ dạy điều gì con xin hứa sẽ truyền đạt lại cho anh con ạ.” . Hằng lại tiếp: Bà bảo Còn việc chồng con của Thoa với Thuỷ thì Thuỷ không vướng gì đâu, nhưng Thoa thì có tiền duyên đấy. Nên phải nhờ thày làm lễ cắt tiền duyên cho nó rồi mọi việc sẽ tốt đẹp thôi. Việc con cái của cháu Trang cũng thế, cũng vướng một chút về đường âm. Nên sau khi lễ ở phủ Xuân Trường xong thì về phủ Vân Cát, nơi thờ đức Thánh Mẫu cầu xin thì vợ chồng nó sẽ có con cái đề huề thôi. Bà nói dì Cởn xuống đấy mẹ có gặp rồi. Hai lần mẹ mời dì lên chơi, nhưng đến đây phải chờ mãi mới được vào nhà. Nghe bà nói thế ông giải thích luôn là Các cụ nhà ta rất giữ lễ. Thấy người lạ mà không thấy thờ trong bát hương là quan Thổ Công, Thổ Thần và các cụ không cho vào. Sau nghe bà giảng giải mới biết, mới mời, chứ không phải các cụ không tiếp đón em của bà. Cũng như các cụ bên họ Mai, là thông gia,họ Nguyễn nhà mình vẫn mời các cụ lên ngồi trên bàn thờ... Ông bảo Chỉ có bát hương thờ bà ngoại các cháu lẽ ra con nên để thấp hơn một chút, vì đấy là bát hương bụi. Nghe vậy vợ chồng tôi và mấy chị em nhìn nhau: “Đúng quá. Vì bà ngoại mới mất chưa cải cát”.. Hằng tiếp : Ông bảo Ảnh thì vẫn để cao ngang hàng với nhau, nhưng bát hương con để xuống dưới... “ Vâng ạ. Chúng con sẽ làm theo ý bố ạ... Thưa mẹ, con xin hỏi là xuống đấy mẹ có gặp cậu Bạn không ?”. Hằng : Bà bảo Xuống đấy mẹ có gặp cậu Bạn. Cậu ấy cứ than phiền vì cậu ấy không có giỗ. Tôi thưa luôn: “ Mẹ ơi, cậu đi Tân Thế Giới rồi biệt tích luôn. Vì không biết cậu mất ngày nào nên không giỗ. Vậy con xin hỏi mẹ là giỗ cậu con vào ngày nào ạ ?”...Hằng : Bà bảo Tiết đông chí này đây. 27 tháng 11 con ạ... Tôi: “Thưa mẹ, mẹ có gặp ông ngoại và cậu Bảo không ?”. Hằng: Bà bảo Mẹ có gặp ông ngoại, gặp các cậu, gặp rì. Ở dưới ấy đi lại thăm nhau rất là dễ. Mẹ muốn giỗ mẹ sắp tới các con sắm mấy bộ quần áo để mẹ biếu ông ngoại, bà ngoại, các cậu, các rì... Còn về chuyện vận hạn, thì vợ chồng con không có gì phải lo cả. Nhưng con nhắc anh Dưỡng nhớ giữ gìn sức khoẻ. Sang năm là vận hạn đấy, nhất là tháng ba, phải cẩn thận kẻo sai một ly, đi một dặm... Hằng: “ Bà nội gọi Hà. Nhà mình có ai tên là Hà không ?”. Hà là chồng Hoa đang quay phim vội ngồi xuống: “ Cháu đây ạ”. Hằng : Bà bảo Tháng 12 năm nay Hà có hạn, nên đi đâu phải cẩn thận, 30 Tết chưa phải đã tai qua nạn khỏi... Ông bảo Đã dặn thì dặn cho kỹ. Hạn là hạn cả tháng, nhưng nhất là những ngày 3 và ngày 7 làm việc gì cũng phải giữ gìn... Ông nói Mộ của ông nội thì vẫn ở xứ đồng Mả Cổ. Mộ ông nội ở đấy tốt lắm, đắc địa lắm. Tổ tiên xui khiến làm sao mà cái ngày quy tập mộ các cụ vào lăng lại không động tới mộ ông, chứ nếu không thì rất phiền. Sau này các con vẫn giữ nguyên như vậy, không được thay đổi. Hằng quay sang tôi: “ Vưà nhắc đến cụ nội thì cụ nội về... Vâng,cụ Nguyễn Trọng Thóng ạ”, rồi hướng về phía “linh hồn” cụ nội, tay ghi, miệng hỏi : “ Vâng ạ...Thế ạ...Cụ đọc lại cho cháu ghi ạ... Cháu xin đọc lại xem đã đúng chưa cụ nhé...”. Hằng vui vẻ nói với cả nhà: Cụ nội về, cụ bảo Xây được nhà thờ Tổ các cụ phấn khởi lắm. Ý cụ muốn là nếu được đôi câu đối nôm để dạy bảo, nhắc nhở con cháu... Cụ đọc cho hai câu thế này : “Tình cốt nhục muôn đời không phai nhạt. Nghĩa tử tôn vạn kiếp chẳng thể nhoà”...Thì các con xem ... Tôi thưa: “ Chúng con sẽ xin tiến cúng nhà thờ Tổ đôi câu đối ông vừa cho ạ. .. Thưa bố, con muốn được hỏi bố là đất và hướng nhà nơi chúng con đang ở đây và nơi anh Dưỡng con đang ở dưới Nam Định thế nào ạ ?”.... Hằng: ông bảo Đất ở đây, thứ nhất là lành, thứ hai là sạch, không có vong có cốt. Đấy là điều yên tâm nhất. Còn hướng nhà thì, phố xá mà, không thể theo ý mình được. Như thế này là gia trạch bình yên rồi. Còn nhà anh Dưỡng thì tuy cây cối điền viên có hơn ở đây, nhưng sinh khí hơi kém. Tại cả rẻo đất ấy trước có một cái giếng rất tốt, rồi người ta lấp đi mất nên bị bế mạch. Nhưng cũng không sao đâu... “ Con xin hỏi bố là vừa rồi con có mua cho cháu Thuỷ một căn hộ ở chung cư phố Đội Nhân không biết chỗ ấy có được yên ổn không ạ và chỗ vợ chồng cháu Hà – Hoa đang ở thế nào ạ ?”. ... Hằng : Ông cười bảo Ông đã được đến thăm nhà của Thuỷ đâu mà biết nó tốt hay xấu thế nào. “Đúng quá. Con chỉ mới ký hợp đồng mua trên giấy qua bản vẽ thiết kế thôi. Nhà thì họ đang xây nên cũng không biết cụ thể căn phòng của Thuỷ ở vị trí nào”. (Mọi người cười)... Còn chỗ nhà Hà – Hoa đang ở thì cũng được. Nhưng quan Thổ Công ở đấy hơi nóng tính nên các cháu phải biết, phải hương khói chu đáo. Những người nóng nảy lại được việc. Trần thế mà âm cũng vậy. Miễn sao mình biết mà cư xử... Hằng im lặng lắng nghe, rồi nói: ông ngoại đang cười, cụ phê bình là Chán cho mấy chị em, con trai, con gái, cháu nội, cháu ngoại đến đủ cả mà không sắm lấy cái lễ cho họ Mai. Đây toàn là lễ của họ Nguyễn. (Cả nhà nhìn nhau ngạc nhiên: “Đúng quá. Sao ông biết nhỉ ?”, rồi cùng cười) . Tôi nhẹ nhàng : “ Thưa thày, chúng con xin được hỏi, xuống dưới ấy thày có gặp em Kiên không ạ ? Mộ chú Phương hiện ở đâu ? Sang năm chúng con muốn cải cát mộ cho mẹ con, vậy làm vào ngày nào thì tốt ạ ?”... Đang chăm chú lắng nghe, Hằng quay sang tôi hỏi: “ Nhà ta có ai là bộ đội không ? Có một chú bộ đội vừa về”. Mọi người nhìn nhau: “ Bộ đội à ? Ai nhỉ ? Hay là Hưng ? (Hưng là con chú Phương mà Tân mới vào tìm được mộ ở nghĩa trang Trường Sơn), “Hay là Huế ?” (Huế là bạn thân của tôi hy sinh năm 1968 ở mặt trận phía Nam). Mọi người xì xào trao đổi thì Hằng cuời: “ Chú Hưng. Chú Hưng theo cậu Tân lên đây”... Hằng: Ông bảo Xuống đấy ông gặp cậu Kiên rồi. Hôm nay ông cũng định rủ cậu Kiên đi, nhưng sợ đến đông quá. Hưng thì không thể ngăn được vì cứ bám theo Tân vào. Chắc là cũng có tâm sự muốn nói. Nhưng mà thôi, phải nhường các cụ họ Nguyễn. Họ Nguyễn về đông, các cụ cử đại diện nói, mà họ Mai nói nhiều thì không tiện. Ông nội thì bảo Không sao . Các cụ vui vẻ lắm. Ông ngoại bảo Còn việc cải cát mộ cho mẹ con thì sang năm, vào tháng 10 âm lịch, từ mồng 1 đến mười rằm chọn ngày nào tốt thì làm. Mẹ con luôn than phiền rằng hiện nay chuột nó cứ rúc vào trong mộ, không yên. Nhưng biết làm sao. Chả lẽ lại đào lên à, đành chịu khó vậy... Lăng các con xây đẹp, bố mẹ đều ưng, nhưng rút kinh nghiệm mộ phải để thông thiên chứ không xây kín . ( Tân nhìn tôi gật đầu: “Đúng. Nhà mình xây bít kín thật” )...Hằng: “ Có một chú bộ đội nữa về ... À, chú Huế”. Vợ chồng tôi và cả nhà mừng: “A ! Huế”. Tôi bảo cháu Trang lấy ảnh bác Huế xuống. Chú ấy nói với chú Hưng là Họ không có thuốc lá mời anh em mình đâu . (Tôi giật mình: “ Đúng. Huế nghiện thuốc lá”). Vợ tôi giục cháu Quang Anh: “ Con đi mua thuốc về mời bác Huế”... Hằng: Chú Hưng bảo Mộ của chú ấy ở nghĩa trang Trường Sơn, Đoàn 559 họ rất chu đáo. Họ có bốc mộ, có làm bia, chỉ buồn là hài cốt không nhiều. Tôi hỏi : “ Huế ơi, năm ngoái cháu Bình với cháu Mạnh nhờ nhà ngoại cảm Năm Nghĩa chỉ dẫn. Các cháu có đến nghĩa trang xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, Quảng Trị tìm và đặt bia mộ Huế trong khu “Liệt sĩ vô danh”, không biết có đúng Huế nằm dưới ấy không ? Sáng nào thắp hương bàn thờ gia tiên mình cũng khấn Huế, Huế có về được không ?”... Hằng: Chú Huế bảo Mục đích chính của Huế hôm nay cốt khoe với Trung là Huế đã về được đây. Vì thế mình mới chen ngang các cụ đấy, chứ mình có trong danh sách được mời đâu. Bao nhiêu năm Trung luôn thắp hương cho mình, mình biết, mình cảm động lắm, cảm động tấm lòng của bạn đối với mình. Chỉ tiếc rằng giá tìm được mình sớm hơn thì đỡ tội cho mẹ. Vừa rồi mình theo các cháu về gặp mẹ, cụ bảo khi còn sống lúc nào cụ cũng mong tìm được mộ mình thì mới yên tâm nhắm mắt. Nhưng mà việc ấy là do số mệnh, đến lúc nào là nó đến. Thôi thế cũng là may lắm rồi, chứ biết bao nhiêu người bom xé nát tả tơi chả còn gì. Ngay anh bạn Hưng này, anh ấy vừa than phiền là một cái chân của anh ấy bay đâu mất ... ( Tân ngồi bên gật đầu: “Đúng. Anh bạn cùng đơn vị với Hưng nói Hưng bị mất một chân, khi chôn không tìm thấy” ). Tôi hỏi: “ Vậy ngôi mộ ở nghĩa trang xã Hải Phú, huyện Hải Lăng mà các cháu đã gắn bia, có đúng là mộ của Huế không ?”. ... Hằng: Chú Huế bảo Đúng. Tôi mừng quá, đứng lên lấy trong tủ lưu niệm chiếc đồng hồ cũ: “ Huế có nhận ra chiếc đồng hồ này không ? Lần cuối cùng chúng mình gặp nhau vào tháng 8 năm 1967 ở Nghi Lộc, Nghệ An. Đêm chia tay ôm nhau khóc, Huế tháo chiếc đồng hồ này đưa mình, còn mình cởi chiếc áo đang mặc trao cho Huế. Rồi từ đấy không còn được gặp nhau nữa. Chiếc đồng hồ mình vẫn giữ và coi là kỷ vật...”...Hằng: Chú Huế bảo Mình xúc động lắm Trung ạ. Trung vẫn giữ được những kỷ vật ấy. Về thấy nhà cửa, vợ con của Trung thế này mình mừng lắm... Hằng quay sang phía vợ tôi : Chú Huế bảo rằng Hương ơi, mình tâm sự với Trung một tý nhé. Bọn mình có những kỷ niệm, những tình cảm gắn bó mà chỉ những người cùng vào sinh ra tử với nhau mới có được.... Trung ạ, mình biết những trang viết của Trung đều có dáng dấp mình, mình thích lắm... Tôi nói luôn với Huế: “ Truyện tình cờ” mình đề “Tặng NguyễnVăn Huế thân yêu” . Anh bộ đội trong ấy có cái răng khểnh là mình tả Huế đấy.”... Hằng: Chú Huế bảo Hôm nào Trung phải đốt tặng mình mấy cuốn sách của Trung nhé. Mình thích đi theo cậu lắm, theo để xem cậu viết... Chú Huế cười bảo Nhờ anh cu Đức châm cho chúng mình điếu thuốc. ( Cháu Đức là con cậu Tân đang ngồi ở cửa)... Hằng: Bà nội nói Hôm nay anh em các con gặp nhau, nội ngoại gặp nhau thế này mẹ vui quá... “ Thưa mẹ, con muốn hỏi mẹ là ngày xưa trước khi mẹ mất mẹ bị loà, hiện nay mắt con cũng thường bị đau. Liệu có việc gì không ạ ?”... Hằng: Bà nói Cái nghề của con phải làm việc bằng đầu, bằng mắt nhiều, thứ hai là bệnh ấy cũng có di truyền đấy nên con phải giữ gìn. Nhưng bây giờ khác trước rồi, chứ không như ngày xưa mẹ con mình khổ quá ... “ May mà mắt của con được cháu Thuỷ thường xuyên theo dõi chạy chữa ạ”... Hằng: Bà hỏi Ai ngồi ở cửa kia mà mẹ không biết ? “À, đấy là chú Hùng,bạn con, con coi chú ấy như em ạ”... Hằng: Chú Huế nhìn anh Hùng, chú ấy bảo Nhiều lần mình đi với Trung đều có anh bạn này... Bà bảo Cháu Thuỷ ở đây thì xa cha có chú, con chịu khó chăm sóc sức khoẻ cho chú... Ông thì nói Cái nghề của người cầm bút cần có đôi tay và đôi mắt nên con phải giữ sao cho đôi tay khoẻ, mắt sáng để làm việc. Không gì bằng lại có người nhà là bác sĩ thì may mắn lắm rồi. Chú Huế cười, chú ấy bảo Thôi có bao nhiêu tinh anh của mình, mình sẽ nhường cho Trung... À, mình rất thích cậu xây dựng nhân vật Đức Rây-mông. Cậu nhớ đốt cho mình cuốn sách ấy nhé. Tôi ngạc nhiên quá: “Đúng rồi. Đức Rây-mông trong tiểu thuyết “Đứa con kẻ thử thù”. Huế có đọc sách của mình à ?”... Thế cậu không thấy mình ở trong tủ sách của cậu hay sao ? ( Cả nhà cười. Đúng, ảnh Huế tôi đặt trong gian sách lưu niệm rất đẹp cạnh chiếc đồng hồ kỷ vật và phong bì đựng “Giấy báo tử” Huế )... Cậu không biết, chứ mình theo cậu suốt hành trình đi tìm Đức Rây-mông đấy. ( Tôi càng ngạc nhiên hơn. Đúng là năm 1976 tìm gặp được anh chàng tướng cướp này quả là một hành trình. Huế cũng đi với tôi ư ? Thú vị thật !)... Từ nay cậu đi đâu xa thì cho mình đi với nhé. Cấp cho mình cái giấy thông hành... “Cấp cho Huế cái Thẻ nhà báo nhé.” ( cả nhà lại cùng cười)... Hằng: Bà ngoại cũng cười, bà bảo Thế bây giờ đã đến lượt tôi chưa ? Tôi đáp: “ Thưa mẹ, chúng con đang mong mẹ đây ạ”... Hằng lắng nghe “bà ngoại”, rồi hỏi lại: “ Thưa bà, khi nãy ông nói chắc bà cũng đã nghe. Ông bảo sang năm thì cải cát cho bà, vậy bà có ý kiến gì không ạ ?”, rồi nhắc: “ Mọi người cứ hỏi bà đi”. Vợ tôi xúc động: “ Mẹ ơi, con muốn hỏi mẹ là thanh minh năm nào chúng con cũng tổ chức làm cơm canh, đốt tiền vàng cúng mẹ ở nhà anh Mùi, bố mẹ có về, có nhận được không ạ ? Con xin hỏi bố là mộ chú Phương hiện đang nằm ở đâu ? Chị Mùi mới mất xuống đấy, bố mẹ có gặp chị con không ? Cháu Lan Anh nó sắp lấy chồng, chồng nó là cháu Minh, bố mẹ xem có được không ? Cháu Hạnh thì chồng nó mất rồi, hôm nay nó muốn gặp chồng nó thì có được không ? ... Hằng: Bà bảo 12 tháng 10 sang năm thì thay mộ cho mẹ... Ông nói Khi xuống đấy mục đích đầu tiên của bố là đi tìm chú Phương và bố có gặp chú Phương rồi. Chú ấy vẫn về lăng với cái mộ giả ở đấy, chứ mộ thật của chú thì bị mất không tìm được đâu. Khi gặp cậu Kiên cậu ấy phàn nàn là mộ bị động, bố mới đi theo xem sự thể thế nào, thì ra xương cốt của những người cùng nằm ở đấy lẫn lộn với nhau cả không sao phân biệt được. Cho nên có động cũng đành chịu thôi. Bởi thế, bố có ý định thế này, sang năm khi cải cát cho mẹ con, thì tiện thể các con xây luôn một ngôi mộ cho Kiên trong lăng, rồi lên chùa nhờ thày bốc bát hương đặt trên mộ cùng với bia khắc tên cậu để cậu có nơi chốn đi về... Bố mẹ và cả Kiên nữa vẫn đi về nhà anh Mùi, tiền vàng các con gửi xuống nhận được hết... Hằng: Bà hỏi Đôi nụ đeo tai của mẹ, khi còn sống mẹ cho chị Mùi. Giờ chị Mùi mất rồi thì ai giữ ? Mấy chị em tôi nhìn nhau: “ Sao mẹ nhớ thế”. Vợ tôi vừa cười vừa nói: “ Mẹ ơi, đôi nụ ấy trước khi mất chị con trao cho cháu Ngọc là con dâu giữ để làm kỷ niệm ạ. Hay là chúng con làm một đôi như thế gửi xuống cho mẹ nhé”...Hằng: Bà bảo Ừ, làm y như thế... Hằng: Ông cười bảo Để cho bà vui ấy mà, xuống đây vẫn còn lẫn, có khi ăn rồi bảo chưa ăn, vừa đưa cho rồi lại bảo đã đưa đâu, cháu mình mà cứ bảo con hàng xóm. (Đúng quá. Trước khi mất bà bị bệnh A-giê-mơ, khi nhớ, khi quên, lẫn lộn cả. Thì ra xuống đấy vẫn thế). Vợ tôi thưa: “ Bố ơi, con xin hỏi là chỗ đất nhà cậu Tân và đất nhà chị Hồng đang ở có vong cốt gì không ? Rồi cái nhà con ở Nam Định khó bán quá không biết vì sao ?”.... Hằng: Ông bảo Chỗ đất nhà Tân và nhà Hồng không sao. Cứ yên tâm mà ở. Ông cười Còn chỗ nhà con, nhà Hương-Trung ấy, khó bán là vì có ông tiền chủ, ông ấy chưa muốn cho bán. Nên các con phải sắm lễ khấn xin ông ấy. Ông này vốn làm nghề nấu kẹo lạc. Nếu các con mua được thứ kẹo ngon nhất Nam Định là kẹo Sìu Châu cúng thì may ra... Chứ không ông ấy không cho bán đâu. Ông bảo Bà là bà chỉ thích ở nhà Mùi thôi, nên hôm nào giỗ, Tân phải thắp hương khấn mời bà về nhà con. Nhớ là hương đang cháy dở thì tắt đi, đến khi đem lên nhà con thắp tiếp, chứ không phải chỉ đem cái chân hương về đâu... Ông bảo Khi nào bốc mộ xong thì bà mới trở lại bình thường, chứ bây giờ vẫn bị lẫn, lúc nhớ, lúc quên. Ông bảo Làm sao hôm nay lại theo ông lên đây, chứ mọi khi cúng giỗ toàn mình ông đi, đem lộc về ông bảo “ của nhà Trung – Hương đấy”... Ông nhắc Lan Anh khi nào cưới thì nhớ dắt cả Minh nữa về thắp hương ông bà nhé. Ông bảo ông rất thương cháu Hạnh. Cháu thành quả phụ sớm quá. Nhưng mà người ta sướng khổ đều do cái số cả, đành phải chịu thôi. Còn cháu muốn gặp chồng cháu ở đây thì khó. Bởi nhà mình đã là ngoại, với cháu thì lại thêm một lần ngoại nữa nên không được đâu. Ông bảo Chị Mùi mất cũng tận số rồi đấy. Mà ra đi như thế là mát mẻ, các con đừng có nghĩ ngợi nhiều để chị con dễ siêu thoát. Chị con lại rất là nặng trần. Xuống đấy rồi nhưng lúc nào cũng sụt sùi u uất...
Ông nội bảo Thôi sắp đến giờ các cụ bên nội, bên ngoại phải đi rồi,các con bớt ra mấy lễ để tặng cho Hưng và Huế. Vợ tôi nói luôn: “Thưa bố, không phải bớt đâu ạ. Chú Hưng và anh Huế chúng con sẽ có tiền vàng biếu riêng ạ”. Cháu Trang nghẹn ngào: “Ông ơi, đến tháng 11 này vợ chồng con làm thụ tinh trong ống nghiệm ở Bệnh viện 103 thì có được không ạ ?”....Hằng: Ông bảo Tháng 11 này là tháng Tý. Mà sang năm cũng là năm Mậu Tý. Tý hợp với cung tử tức của các cháu nên đều tốt. Nhưng các cháu phải đi lễ cầu xin Thánh trước, nếu không thì khó lắm đấy. Hay là đầu tháng, vào mồng 1 tới này đi lễ. Ông bà sẽ cùng đi cầu giúp cho các cháu... Có hai ngày mồng 1 và 19 tháng 11 là tốt. Thế nhé !
... Hằng cười: “ Dạ, gặp được các cụ hôm nay con cũng rất vui. Con cũng cám ơn các cụ ạ... Dạ, con xin chào các cụ”. Cô chắp hai tay cúi đầu vái mấy vái, rồi ngẩng lên nói: “ Các cụ đi rồi ”.
Kim đồng hồ chỉ 16 giờ 48 phút.
Thế là cuộc “gặp” linh hồn bố, mẹ và những người thân của gia đình tôi diễn ra liên tục đúng 68 phút.

3

Tôi đặt cả máy ghi âm, máy quay phim thu trọn vẹn cuộc “gặp gỡ” kỳ diệu ấy. Hình ảnh rất nét, âm thanh rất rõ. Tôi đã nghe đi nghe lại, xem đi xem lại nhiều lần, lần nào cũng xúc động. Về tình cảm, từ hôm ấy tôi thấy hình ảnh bố mẹ và những người thân đã quá cố luôn rất gần gũi với tôi, quanh quẩn bên tôi, cười nói cùng tôi, nhất là những buổi sớm thắp hương bàn thờ, thỉnh chuông chắp tay khấn vái gia tiên. Về lý, tôi cố tỉnh táo, khách quan phân tích từng chi tiết của sự việc thần bí này và nhận ra rằng hầu hết những thông tin từ các “linh hồn” người thân qua nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng truyền đạt đều chính xác.
Chẳng hạn về ngôi mộ ông nội tôi (cụ Nguyễn Trọng Thóng). Từ khi tôi còn bé, hàng năm vào dịp Thanh ninh bố thường cho theo đi tảo mộ. Đến cánh đồng Mả Cổ, bố thắp hương cắm xuống đất khấn vái. Không thấy mộ đâu, trước mặt chỉ là những thửa ruộng trồng ngô xanh tốt. Bố bảo mộ ông nội ở khu vực này. Ngày xưa bố và các chú nhờ thày địa lý tìm mạch đất thiêng. Nửa đêm bí mật chuyển hài cốt của ông nội đến đấy, đào rất sâu, hạ tiểu xuống, lấp chặt, san phẳng, trên lại trồng ngô như cũ. Việc làm ấy ngoài bố, các chú và thày địa lý không ai được biết. Sau này “đi xem” mấy “thày” đều bảo mộ ông nội “kết”. Có lẽ vì thế, khi quy tập bố không đưa mộ ông vào lăng.
Năm 1995, lần đầu tiên tôi gặp nhà ngoại cảm Đỗ Bá Hiệp. Anh nắm bàn tay tôi một lúc, rồi nói: “ Ngôi mộ ông tam đại nhà anh rất tốt. Con cháu được nhờ nhiều đấy. Mộ của cụ đặt sâu, lưng tựa núi cách chừng 300 mét, mặt hướng Nam đồng rộng mênh mông không vật cản. Phía Tây là sông và phía Đông cách 25 – 30 mét có con mương nhỏ. Thế đất rất đẹp... Anh có người anh trai mất năm 3 tuổi, rất thiêng, nhưng việc cúng giỗ lại không chu đáo.”. Tôi về quê, hỏi chị cả, năm ấy đã ngoài 70 tuổi. Chị tôi nói: “Đúng. Cậu tên là Thuận, mới được 28 tháng thì chết. Chị nhớ hôm ấy là mồng 1 tháng 6. Cậu mất khi còn bé quá nên việc cúng giỗ cũng không được để tâm”. Như thế là đúng. Đó chính là anh Thuận mà “linh hồn” bố tôi xác nhận mồng 1 tháng 6 giỗ anh, còn “linh hồn” mẹ tôi thì bảo ở dưới ấy anh Thuận được đi hầu Thánh cùng với cụ mãnh Tổ tên là Kính. Cụ Kính là em ruột ông nội tôi.
Tháng 4 năm 2007, tôi mời nhà ngoại cảm Đỗ Bá Hiệp về quê. Đang trên con đường dẫn vào núi, anh kéo tôi rẽ xuống cánh đồng. Đó là đồng Mả Cổ. Tới khu ruộng trồng ngô, anh chỉ xuống: “ Mộ ông nội anh chỗ này. Sâu lắm. Cốt của cụ còn tốt nguyên”. Tôi thắp hương, hoá tiền vàng cầu khấn và thấy trong lòng rất xúc động. Tôi dẫn anh Hiệp tới khu lăng của gia đình cách đó mấy trăm mét. Khuôn viên rộng, có tường bao, cổng sắt, sân lát gạch đỏ, phía trước hai cây đại, bốn bụi mẫu đơn trổ đầy hoa. Cung thờ tám mái cong dán ngói mũi hài, bên trong ốp gạch men sứ màu nâu,bát hương bằng đá. Danh sách họ, tên 19 thân nhân quá cố được khắc chung trên hai tấm bia gắn bên tường. Các phần mộ không phân biệt đều bằng phẳng dưới thảm cỏ xanh biếc. Chỉ tay xuống góc bên trái, anh Đỗ Bá Hiệp bảo tôi: “ Bố anh nằm đây. Anh giống ông cụ, cũng to cao” Tôi thầm nghĩ: “Vị trí đúng. To cao cũng đúng”. Lát sau anh Hiệp nói tiếp: “ Trong lăng nhà anh có một người ngoại tộc”. Tôi nghi ngờ về thông tin này và tự hỏi: “ Nếu thật sự anh Hiệp có khả năng thấu thị thì chỉ biết số hài cốt trong lòng đất so với danh sách khắc trên bia thừa hay thiếu, chứ làm sao biết được có người ngoại tộc ?”. Nghi ngờ ấy cứ ở trong đầu, cho đến bữa nay tôi đem việc ấy hỏi “linh hồn” bố tôi và thông qua nhà ngoại cảm Bích Hằng bố tôi không chỉ xác nhận là đúng, mà còn nói rõ mộ người ngoại tộc ấy nằm sát mộ cụ Ngoạn. Tôi tra cứu “Sơ đồ hệ phả gia tộc” và được biết cụ Ngoạn là cụ mãnh Tổ đời thứ sáu mà bố tôi gọi là ông chú.
Thật kỳ lạ. Không thể ngẫu nhiên mà các thông tin từ hai nhà ngoại cảm phát ra ở những thời điểm khác nhau, hoàn cảnh khác nhau lại trùng khớp như thế. Để giải toả băn khoăn này, tôi gặp và hỏi nhà ngoại cảm Đỗ Bá Hiệp: “Vì sao anh biết ?”. Anh Hiệp bảo: “ Bộ hài cốt người ngoại tộc ấy phát ra thứ ánh sáng khác”. Đúng là huyền bí.
Hoặc về tình bạn giữa tôi với liệt sĩ Nguyễn Văn Huế. Hai chúng tôi cùng học, rất thân nhau từ năm 1955, tới năm 1964 thì mỗi đứa đi theo một ngả đường chiến tranh. Tháng 8 năm 1967 gặp nhau lần cuối ở Nghi Lộc, Nghệ An. Tôi trao Huế chiếc áo và Huế trao tôi chiếc đồng hồ làm kỷ niệm. 6 tháng sau Huế hy sinh ở chiến trường Quảng Trị. 40 năm âm dương cách biệt, nhưng trong lòng tôi không bao giờ nguôi nhớ thương Huế. Sáng nào thắp hương bàn thờ gia tiên tôi cũng khấn tên Huế cùng với ông, bà, bố, mẹ và những người ruột thịt đã quá cố của tôi. Việc “linh hồn” Huế về được hôm nay thật là niềm sung sướng, xúc động bất ngờ đối với tôi và trong thâm tâm tôi nhận ra đó đúng là Huế của tôi, bởi tính cách, bởi những việc Huế kể chỉ tôi mới biết. Thí dụ: Huế nghiện thuốc lá nặng và mỗi khi thèm thuốc là không sao chịu nổi, phải tìm bằng được. “ Linh hồn” Huế về, đầu tiên là gợi ý thuốc lá và lát sau, chắc thèm quá, lại Nhờ anh cu Đức châm cho điếu thuốc. Thứ hai là trong các trang viết của tôi từ truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản điện ảnh hầu như nhân vật nào là bộ đội có bản chất chính diện tôi đều đặt tên là Huế, ngoại hình miêu tả cũng có những nét giống Huế, nhất là đôi mắt sáng, miệng cười tươi có chiếc răng khểnh rất duyên. “Linh hồn” Huế nói đều đã đọc sách của tôi và nhận ra điều ấy. Đặc biệt “linh hồn” Huế nhắc đến nhân vật Đức Rây-mông và kỳ lạ thay Huế bảo Huế theo tôi suốt hành trình đi tìm nhân vật này. Điều đó thì chỉ mình tôi biết. Năm 1976, trước khi đi thực tế vào các tỉnh phía Nam vừa giải phóng để sáng tác về đề tài cải tạo tội phạm và chủ nghĩa thực dân mới, các đồng chí công an ở “Cục quản lý trại giam” gợi ý: “ Vào đấy anh cố tìm gặp Đức Rây-mông. Con người này có nhiều chuyện ly kỳ hấp dẫn lắm đấy”. Đó là một tướng cướp nổi tiếng trong giới giang hồ thời Mỹ ngụy. Tôi đến các trại giam Chí Hoà, Long Thành, Sông Bé...tìm, không có. Đọc hồ sơ lưu trữ của “Nha Cảnh sát Đô thành”, của “Tổng Nha cảnh sát Quốc gia”, của Cục lưu trữ Chính phủ ngụy và những tờ báo quan tâm nhiều tới “ xã hội đen” thời ấy. Kết quả thu được rất ít. Gặp mấy “đại ca” trong “giới anh chị” đã “rửa dao gác kiếm”, nói tới Đức Rây-mông họ đều tỏ ra khiếp nể, nhưng từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng Đức Rây-mông biệt tích đâu không ai biết. Sau đó tình cờ tôi phát hiện ra Đức Rây-mông đã thay tên đổi họ đang cai nghiện tại “Trung tâm Phatima Thủ Đức”. Tôi tìm cách gặp và đã khai thác được ở Đức Rây-mông rất nhiều chuyện lạ trong giới du đãng, hiểu về họ, rồi từ chất liệu ấy tôi đã xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của mình.. “Linh hồn” Huế nói đã theo tôi suốt hành trình tìm Đức Rây-mông là thế, khiến tôi không thể không tin.
Hoặc mẹ vợ tôi, hai năm cuối trước khi qua đời cụ bị bệnh A-giê-mơ khi nhớ, khi quên lẫn lộn cả. Bố vợ tôi mất trước đó 8 năm. Nghĩa là cụ ông không biết cụ bà bị lẫn. Vậy mà “linh hồn” cụ ông về kể rằng bà xuống đấy vẫn lẫn và phải đến khi cải cát xong mới trở lại bình thường. Hoặc khi còn sống mẹ vợ tôi rất quý đôi nụ đeo tai, trước khi qua đời cụ cho chị Mùi là con gái cả, nay chị Mùi đã mất “linh hồn” cụ về hỏi ngay Đôi nụ của mẹ bây giờ ai giữ ?
Hoặc “linh hồn” mẹ đẻ của tôi về nói Xuống đấy mẹ có gặp cậu Bạn. Cậu cứ than phiền về việc cậu không có giỗ. Đúng là cậu tôi không được giỗ. Bởi cậu đi Tân Thế Giới từ khi còn trẻ rồi biệt tích luôn có ai biết ông mất ngày nào mà cúng .
Hoặc “linh hồn” bố tôi nói Bát hương thờ bà ngoại các cháu lẽ ra con nên để thấp hơn một chút vì đấy là bát hương bụi . Đúng. Vì bà ngoại các cháu mới mất chưa cải cát.
Hoặc “linh hồn” bố vợ tôi phê bình Con trai, con gái, cháu nội, cháu ngoại đến đủ cả mà không sắm lấy cái lễ của họ Mai, đây toàn là lễ của họ Nguyễn. Rất đúng với tính cách bố vợ tôi. Cụ là người chu đáo, trọng lễ nghi và cũng rất đúng vì chỉ có lễ của họ Nguyễn thật. Hoặc “linh hồn” bố vợ tôi bảo Lăng đẹp, bố mẹ ưng lắm, nhưng mộ phải để thông thiên chứ không được xây kín . Cũng đúng. Các mộ trong lăng đều bít kín.
Hoặc dường như mọi người trong gia đình “các cụ” đều biết kể cả còn sống và đã mất. “Linh hồn” nói đến tên ai, vai vế quan hệ thế nào đều đúng, cách xưng hô cũng thế. Khi thấy một người lạ là chú Hùng “linh hồn” mẹ tôi liền hỏi Ai ngồi ở cửa kia mà mẹ không biết ? và “linh hồn” Huế nói luôn Nhiều lần mình đi với Trung đều có anh bạn này...
Có thể kể ra nhiều chi tiết tương tự để khẳng định rằng hầu hết những thông tin từ “linh hồn” bố, mẹ và những người thân đã qua đời của tôi được truyền đạt qua nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng là chính xác.
Từ “cuộc gặp” kỳ diệu ấy, có được những thông tin ấy, một tuần sau, sáng mồng 1 tháng 11 theo lời khuyên của “linh hồn” bố mẹ, vợ chồng tôi cùng hai cháu Mai Trang – Quang Anh đi lễ, mục đích “cầu tự” để các cháu “sớm có em bé”. Chúng tôi về Hành Thiện, Phủ Xuân Trường, nơi có Chùa Keo cổ kính nổi tiếng từ mấy trăm năm. Ở đây thờ Phật và thờ đức thánh Minh Không. Xong, về đền Bảo Lộc (ngoại thành Nam Định) để lễ Đức thánh Trần ( Tức Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn). Tại ngôi đền nổi tiếng này trước đây bố mẹ tôi cũng đến dâng lễ “cầu tự” và được Đức Thánh ban cho anh tôi, rồi tôi ra đời. Từ đền Bảo Lộc, chúng tôi về phủ Vân Cát lễ cầu Đức thánh Mẫu. Trọn vẹn một ngày, mọi việc thuận lợi và tôi thấy lòng rất thanh thản.
Mấy năm trước vợ chồng cháu Quang Anh đã tới các cơ sở y tế lớn chạy chữa. Làm thụ tinh nhân tạo ở Bệnh viện phụ sản Trung ương, rồi Trung tâm công nghệ phôi thuộc Viện Quân y 103, tốn kém không ít tiền của và thời gian nhưng đều không kết quả. Cuối tháng này, theo lời khuyên của “linh hồn” bố mẹ tôi, sau khi đi lễ về, các cháu sẽ thực hiện phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm cũng ở Viện Quân y 103. Cả gia đình chúng tôi hy vọng. Không chỉ tin vào khoa học hiện đại mà đặc biệt lần này còn trông chờ ở sự trợ giúp của tâm linh.
Tiếp đến hai tuần sau cuộc “ gặp” kỳ diệu ấy, cũng theo lời khuyên của “linh hồn” mẹ, chúng tôi tìm vào thôn Lạc Khóai, xã Gia Lạc, huyện Gia Viễn, Ninh Bình, nơi hơn 90 năm trước bà ngoại tôi đi cấy thuê, gặp bão, bị lật thuyền chết đuối gia đình không tìm được xác và cũng không biết phần mộ ở đâu. Thôn Lạc Khóai nằm bên sông Hoàng Long. Sông Hoàng Long sâu, có đê cao, bãi rộng. Mùa mưa nước ngập mênh mông, gió to, sóng dữ. Người đi làm đồng bị lật thuyền chết đuối xảy ra thường xuyên. Nên dân ở đây phải dành một giải đất cao sát chân đê làm bãi tha ma. Bãi tha ma có mấy cây gạo cổ thụ và chỉ cách phía sau đình Lạc Khoái chừng 500 mét. Rất khớp với những thông tin mà “linh hồn” mẹ tôi cho biết. Chúng tôi được bà con trong làng nhiệt tình chỉ dẫn. Người ta còn kể cho nghe câu chuyện về “Miếu Ba Cô” được truyền khẩu mà ở đây ai cũng biết. Chuyện rằng năm ấy, sau một trận bão lớn có ba xác phụ nữ trôi dạt vào chân đê. Cả ba đều không phải dân vùng này. Người ta đưa đến chôn ở bãi tha ma phía sau đình, gần gốc gạo. Hồn ba người ấy rất thiêng, dân làng phải xây miếu thờ, gọi là “Miếu Ba Cô”. Những năm gần đây Gia Viễn thuộc vùng phân lũ. Đồng ruộng, sông ngòi, vườn ao ngập sâu trong nước hàng mấy tháng liền. Những cây gạo ngoài bãi tha ma to cao là thế cũng chết. Còn “Miếu Ba Cô’ thì bị sóng nước và thuyền bè xô đổ mất.
Đi cấy thuê, gặp bão, lật thuyền chết đuối mất xác cùng với bà ngoại tôi còn có hai người bạn gái cùng quê. Vậy có phải đó chính là xác ba người phụ nữ được chôn ở đây và được thờ trong “Miếu Ba Cô” ? Dù chẳng có bằng chứng, nhưng không hiểu sao trong thâm tâm tôi cứ tin là thế.
Sau khi thắp hương khấn cầu Thành Hoàng thờ trong Đình Lạc Khoái chúng tôi được hai cháu Tuấn và Chương dẫn ra bãi tha ma, tìm tới chỗ đất cao còn rất rõ dấu tích của “Miếu Ba Cô”. Bày đồ lễ, thắp rất nhiều hương, đốt tiền vàng, quỳ xuống chắp tay tôi khấn rõ ràng rành mạch: kể về mẹ tôi, về bà ngoại tôi, về những người thân trong gia đình... Rằng bao nhiêu năm do chiến tranh loạn lạc, nay các cháu mới có điều kiện tìm đến nơi bà mất, thắp hương bà... Rằng việc tìm hài cốt của bà còn rất khó khăn, hôm nay xin bà cho các cháu rước chân hương mời anh linh bà về quê. Trong lăng nhà ta đã làm sẵn mộ phần của bà... Tôi khấn, nước mắt tràn mi. Nắm hương cắm dưới đất đang cuộn khói bỗng bốc cháy đùng đùng, tro tiền bay mù mịt. Tôi cảm thấy rất rõ luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng.
Từ hôm ấy lòng tôi thanh thản, thấy phần nào vơi nhẹ được nỗi băn khoăn day dứt thương cảm đối với bà ngoại.
Tiếp đến một tháng sau cuộc “gặp” kỳ diệu ấy, với những thông tin thu được từ mấy tháng trước qua việc nhờ nhà ngoại cảm Năm Nghĩa “gọi hồn” Huế về cho biết, cùng những thông tin từ các nhân chứng như anh Ẩn (đại đội trưởng của Huế), anh Hợi (xã đội phó), chị Xuân (du kích), cô Quật (giao liên) tại thời điểm và địa bàn (xã Hải Phú, Hải Lăng, Quảng Trị) nơi Huế chiến đấu rồi hy sinh, họ đều còn sống kể lại, kết hợp với lần này “linh hồn” Huế về xác nhận ngôi mộ trong “Khu vô danh” tại nghĩa trang xã Hải Phú, Hải Lăng mà hai cháu Bình và Mạnh đã khắc bia tên Nguyễn Văn Huế là Đúng. Tôi quyết định cùng mấy cháu vào đưa Huế về nghĩa trang ở quê. Xuất phát sáng 27 tháng 12 năm 2007, đêm mới đến Đông Hà, phải ngủ lại, hôm sau vào Hải Phú, Hải Lăng. Thủ tục không khó khăn. Địa phương tạo thuận lợi. 11 giờ trưa tôi bước vào nghĩa trang. Nắng oi ả. Thắp hương trên “Đài liệt sĩ” xong, tôi nhằm “Khu vô danh” đi xuống. Đến hàng thứ ba, mộ thứ sáu bỗng cảm như có bàn tay lạnh giá đặt lên vai. Tôi ngồi xuống. Trước mặt là bia mộ Nguyễn Văn Huế... Tôi ôm lấy và khóc nức nở. Ở tuổi tôi, nỗi đau thường được kìm nén, thế mà ... Linh cảm như mách bảo ... Chúng tôi quyết định nửa đêm sẽ “bốc”. Trước lúc đó đầu tôi vẫn đắm chìm suy tư: thông tin do các nhân chứng cung cấp có thể tin . Thông tin do các nhà ngoại cảm cung cấp có thể tin. Linh cảm khi tôi đến trước mộ có thể tin . Còn vật chứng ? Tôi đặc biệt quan tâm đến chiếc răng khểnh của Huế... Đêm khuya. Rừng thưa yên vắng. Trăng cuối tháng nhợt nhạt. Hai pha đèn ắc quy chiếu xuống hầm mộ. Tiểu cốt được đưa lên. Tôi hồi hộp khi các cháu mở nắp. Xương sọ, còn. Xương ống chân, còn... “Hàm răng ?”. “Đây rồi ... Còn tốt nguyên”. Cháu Bình lướt nhẹ bàn chải mềm. Chiếc răng khểnh lộ ra. Tôi thở phào. Mừng quá. Xúc động quá. Đúng Huế đây rồi !
Hài cốt xếp cẩn thận trong hộp xốp trắng, dán băng dính, trên phủ cờ Tổ quốc đặt giữa hàng ghế, Bình và Mạnh ngồi hai bên “hầu cậu”. Xe rời nghĩa trang Hải Phú lúc 1 giờ 5 phút mà 11 giờ 30 đã về đến Yên Phương, Ý Yên, Nam Định, chỉ bằng hai phần ba thời gian hôm đi vào. Trên đường hết sức thuận lợi. Lễ đón nhận hài cốt liệt sĩ được chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức trang trọng.
Thế là bạn tôi sau 40 năm nằm nơi đất khách giữa khu rừng thưa hoang vắng nay đã về với quê hương, với bố mẹ và anh em ruột thịt. Đối với tôi 40 năm canh cánh xót thương bạn. Được may mắn trở về lành lặn, cuộc sống đủ đầy hạnh phúc bao nhiêu, tôi luôn cảm thấy có lỗi với bạn, với những người đã ngã xuống nơi chiến địa. Đưa được bạn về lòng tôi vơi nhẹ đi biết bao day dứt.
Đặc biệt là, khi tôi đang ngồi viết những dòng này thì cháu Mai Trang đi siêu âm từ Viện Quân y 103 về hớn hở vào khoe với bố: “ Bố ơi, có em bé rồi ! Bác sĩ bảo tim thai khoẻ”. Chao ơi là mừng. Niềm vui bất ngờ và thật là tuyệt vời. *
Sự chính xác của những thông tin khi “gặp” được các “linh hồn” bố, mẹ và người thân qua nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng; Kết quả việc “tìm thấy” nơi bà ngoại mất; Đưa được hài cốt của bạn về quê và việc vợ chồng cháu Mai Trang “có em bé” ... Tất cả những điều ấy khiến tôi càng suy nghĩ nhiều về những bí ẩn kỳ diệu mà các nhà ngoại cảm đem lại.
Tôi không giải thích được. Mà chính các nhà ngoại cảm cũng không giải thích được. Họ chỉ nhận biết mình có khả năng đặc biệt ấy, còn nhờ đâu mà có, thì chịu. Tôi tìm đọc để xem ý kiến các nhà khoa học ra sao ?
Trên thế giới từ lâu đã xuất hiện các nhà tiên tri, nhà ngoại cảm mà nhiều nước, nhiều nhà khoa học đã tổ chức nghiên cứu lĩnh vực này. Tuy nhiên cho đến nay họ cũng chưa có được những lý giải thuyết phục.
Còn ở nước ta, ngoại cảm không chỉ rất mới mẻ, không chỉ thuộc đối tượng để khoa học nghiên cứu mà còn là vấn đề khá nhạy cảm gắn liền với “phúc”, “họa”. Chỉ khoảng năm sáu chục năm trước thôi đã có những người điêu đứng bởi chịu ảnh hưởng “Di truyền học”, phê phán trường phái Lư-xen-cô. ( Ngày nay thì Di truyền đã trở thành ngành khoa học mũi nhọn đóng góp vô cùng vĩ đại cho cuộc sống con người). Quan điểm giai cấp cực đoan đã khiến người ta phê phán phủ định cả câu ca dao: “Con vua thì lại làm vua. Con nhà sãi chùa lại quét lá đa”. Cách đây không lâu giáo sư Hoàng Phương chỉ viết vài bài báo về hiện tượng “Thần giao cách cảm” thôi, mà phải chịu biết bao sự phê phán cay độc. Cho nên trước nột lĩnh vực mới, khó và nhạy cảm như thế hầu hết các nhà khoa học Việt Nam dè dặt, thận trọng cũng dễ hiểu. Chỉ có rất ít người dũng cảm dám đưa ra những quan điểm của mình. Nguời thì giải thích ở góc độ “ Trường sinh học”, người khác ở góc độ “Bức xạ tàn dư”, hoặc ‘ Sóng năng lượng đặc biệt”, hoặc “Thiên nhãn thông”... vân vân ...
Tuy nhiên cho đến nay cũng chưa có lý giải của ai đủ sức thuyết phục.
Điều đó có nghĩa “ngoại cảm” vẫn còn là dấu hỏi ?
Bài viết của tôi phản ánh sự việc có thực, cũng như hàng ngàn sự việc có thực khác mà các nhà ngoại cảm Việt Nam đã làm, đã tìm đuợc hàng vạn bộ hài cốt liệt sĩ trong đó có những tên tuổi lớn nhiều công lao với Tổ quốc, đã đem lại hạnh phúc cho biết bao gia đình. Một số cơ quan khoa học chuyên ngành được Chính phủ giao nghiên cứu ( Liên hiệp khoa học công nghệ tin học và ứng dụng, Viện Khoa học hình sự, Trung tâm bảo trợ văn hoá kỹ thuật truyền thống, Bộ Khoa học và công nghệ ) đã có những báo cáo kết quả trắc nghiệm và bước đầu khẳng định: “ Khả năng đặc biệt của các nhà ngoại cảm là có thật”, “ mà khoa học hiện nay chưa thể có lý giải một cách thoả đáng” . Họ có thể nhìn thấy hài cốt người chết vùi sâu dưới đất và biết được thân nhân quá cố ấy. Họ nhìn rõ diện mạo, hình dáng, nghe và hiểu được lời nói của “linh hồn” (có người chết đã hàng trăm năm), trao đổi, giao tiếp với các “linh hồn” ấy rồi truyền đạt lại thông tin cho những người đang sống với độ chính xác cao. Đó là sự thật.
Sự thật không phủ nhận được thì không nên phủ nhận.
Từ những năm đầu thế kỷ, nhiều nhà khoa học, nhiều nước Âu, Mỹ đã tổ chức và tiến hành nghiên cứu rất nghiêm túc về tâm linh. Một nhà khoa học thuộc Liên Xô cũ đã nhấn mạnh: Lý luận duy vật không những cho rằng tâm linh có thực mà còn coi đó là “vật chất notron sống”. Mục đích nghiên cứu của họ là giúp con người phát triển khả năng siêu năng lực tiềm tàng. Nếu chúng ta không sớm coi đây là một ngành khoa học và tổ chức nghiên cứu thật chu đáo thì chắc chắn sẽ tụt hậu so với thế giới. Và như thế thì thật là đáng tiếc !
Xin hãy coi “tâm linh” là đối tượng khoa học và đối xử như một ngành khoa học mới.

Hà Nội ngày 5 tháng 6 năm 2008

* Ngày 3 – 12 – 2008, cháu Mai Trang sinh đôi hai bé tại Bệnh viện phụ sản Hà Nội. Bé gái Nguyễn Gia Linh nặng 2,7 kg, bé trai Nguyễn Gia Huy nặng 3 kg. Mẹ khoẻ, con khỏe. Các cháu đều rất xinh xắn kháu khỉnh dễ thương.

Theo Blog trannhuong.com

Không còn lương tâm

Đậu phụ hoà bột thạch cao
Kẹo tống mạt đá trộn vào tăng cân
Rượu pha cồn độ nửa phần
Nước mắm trộn lẫn mấy lần u-rê

Giò nào cũng cho hàn the
Thuốc tăng trọng lợn, bò, dê… quá nhiều
Diêm sinh ướp thịt sáng, chiều
Bánh, mứt, bún, phở… trộn liều phoóc-môn

Dấm… chế bằng a-xit non
Su-đan pha chế cho son môi hồng
Thuốc sâu đầy rau dưa đồng
Chất bảo quản ướp táo, hồng, quít, cam…

Chao ôi, những kẻ tham lam
Vì lợi, mặc hại, cứ làm như không
Hại nhau vì một chữ “đồng”
Lương tâm ác độc, còn trông được gì!

Sao lâu dẹp độc ác đi?
Lâu dẹp, dân chết, còn gì, hỡi ai
Hỡi ông sếp, hỡi ông cai
Nạn này không dẹp là sai luật rồi!

Theo Lao Động cuối tuần

24 thg 7, 2009

Sông Sài Gòn đang chết….

Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM phối hợp với Phân viện Khí tượng thủy văn và Môi trường phía Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường) vừa công bố kết quả nghiên cứu về tổng lượng chất thải trên hệ thống sông Sài Gòn. Theo đó, TPHCM và tỉnh Bình Dương có lượng chất thải ra sông Sài Gòn nhiều nhất. Điều này khiến cho nguồn nước ở đây có nguy cơ không thể tự làm sạch. Sông Sài Gòn đứng trước một cái chết được dự báo nếu như không có những biện pháp “cấp cứu” kịp thời.

Ai “giết” sông Sài Gòn?

Theo khảo sát và tính toán của Phân viện Khí tượng thủy văn và Môi trường phía Nam, lượng nước thải từ các khu chế xuất - khu công nghiệp và cụm công nghiệp (KCX-KCN và CCN), khu dân cư xả vào lưu vực sông Sài Gòn trung bình khoảng 70.000 m³/ngày đêm. Nguồn nước thải này chưa được xử lý triệt để, đã và đang dẫn theo tải lượng lớn các chất ô nhiễm chảy vào sông Sài Gòn.

Kết quả phân tích cho thấy, trong 70.000m³ nước thải có khoảng 13,9 tấn TSS, 14,3 tấn COD, 6,8 tấn BOD, 1,9 tấn Nitơ tổng và 248kg Phốt pho tổng. Kết quả quan trắc chất lượng nguồn nước sông Sài Gòn của Chi cục Bảo vệ môi trường TPHCM cũng khẳng định, từ năm 2000 đến nay, nồng độ các chất như pH, DO, BOD, COD, dầu có xu hướng tăng 1,1 - 2 lần/năm. Cá biệt, nồng độ Coliform tăng 3 - 71 lần/năm và càng về hạ lưu thì chất lượng nguồn nước càng xấu.

TS. Nguyễn Kỳ Phùng, Phó phân Viện trưởng Viện Khí tượng thủy văn và Môi trường phía Nam, cho biết 2 thủ phạm chính gây ô nhiễm sông Sài Gòn là nước thải sinh hoạt từ các khu đô thị, khu dân cư tập trung và nước thải công nghiệp từ các KCN-KCX tập trung, các CCN và tiểu thủ công nghiệp, các cơ sở công nghiệp phân tán trong khu dân cư. Các loại nước thải này chưa được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn theo quy định trước khi xả vào nguồn nước sông.

Kết quả khảo sát thực tế cho thấy, hiện nay trên tiểu lưu vực sông Sài Gòn có 27 KCX-KCN và CCN đang hoạt động (TPHCM: 11, Bình Dương: 16). Theo quy hoạch phát triển công nghiệp của các tỉnh-thành, đến năm 2020 cả tiểu lưu vực sông Sài Gòn có khoảng 39 KCX-KCN và CCN (TPHCM: 19, Bình Dương 20), nhưng đáng lo là các ngành nghề thu hút đầu tư vẫn chủ yếu là dệt nhuộm, may mặc, cơ khí, thực phẩm, giấy, gỗ, nhựa, hóa chất… Đây là những ngành sản xuất và tiêu thụ khá nhiều nước và thải ra lượng lớn nước thải có hàm lượng chất ô nhiễm cao.

Lưu vực sông Sài Gòn còn là nơi tiếp nhận lượng lớn nước thải sinh hoạt của hơn 6 triệu dân và tỷ lệ dân số đang tăng 2%-4%/năm. Dự báo đến năm 2020, tổng lượng chất thải trên sẽ tăng 4–5 lần, nguy cơ “giết” chết sông Sài Gòn.

Hành động ngăn chặn thảm họa

Liên quan đến vấn đề này, PGS-TS Nguyễn Đình Tuấn, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường, cho biết, để kiểm soát chất lượng nước thải trên sông Sài Gòn, hiện nay TPHCM đã lắp đặt 10 trạm quan trắc nước thải, tần suất lấy mẫu là 1 tháng/lần. Việc cần làm ngay là phải xây dựng hệ thống quan trắc tự động chất lượng nước thải cho hệ thống xử lý nước thải tập trung của các KCX-KCN. Tỉnh Đồng Nai đã làm được điều này nên hạn chế được phần nào ô nhiễm. Tỉnh Bình Dương đang triển khai dự án. Còn tại TPHCM thì mới đang có kế hoạch.

Ước tính, nếu đầu tư 13 trạm quan trắc tự động tại TPHCM mất khoảng 15 tỷ đồng, nhưng nếu so với chi phí để bảo vệ chất lượng nước hệ thống sông Đồng Nai khoảng 1.000 tỷ đồng, thì không thấm vào đâu.

Theo TS Nguyễn Kỳ Phùng, kinh nghiệm quản lý hiệu quả chất lượng nước mặt sông tại nhiều nước trên thế giới, nhất là tại châu Âu, cho thấy nhà nước phải có chiến lược quản lý tài nguyên nước mặt. Chiến lược này phải được thực thi trên cơ sở khung quản lý chất lượng nước. Khung quản lý sẽ xác định rõ mô hình tốt nhất cho một hệ thống quản lý nước chuyên biệt, là quản lý theo lưu vực sông – một đơn vị về địa lý và thủy học tự nhiên, thay vì dựa trên ranh giới hành chính. Còn tại Việt Nam, cho đến nay chưa có một chiến lược tổng hợp và một kế hoạch hành động chung ở cấp quốc gia hay các vùng lưu vực.

Trong khi đó, nguồn nước mặt trên lưu vực sông Sài Gòn được xem là nguồn nước chủ yếu phục vụ các hoạt động kinh tế-xã hội (thủy điện, tưới tiêu, cấp nước, giao thông, du lịch và nuôi trồng thủy sản…) trên toàn lưu vực, nhưng chưa có kế hoạch bảo vệ hiệu quả.

Thực ra, Ban chỉ đạo bảo vệ hệ thống sông Đồng Nai đã được thành lập gần 2 năm qua, với mục đích bảo vệ hoạt động kinh tế-xã hội của cả 12 tỉnh-thành thuộc khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm trong tầm ảnh hưởng của hệ thống này, nhưng đến nay chưa có những hoạt động rõ nét nào để khởi động một chương trình hành động chung.

Ngay từ bây giờ, nếu các cơ quan chức năng không có biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả, thì đến năm 2020, có nguy cơ tê liệt toàn bộ hoạt động kinh tế-xã hội của các tỉnh-thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam do thiếu nguồn nước cấp, có thể trở thành hiện thực.

Theo Chi Mai (SGGP)

Giò Heo & Những Tên Tuổi Lớn

Gần 14 trong tổng số 55 tấn giò heo đông lạnh do Vinafood nhập từ Canada và Mỹ không có hạn sử dụng bị niêm phong ở kho lạnh Tân Tạo đang chờ xử lý đã “biến mất”. Cơ quan thú y xác định, chính “Vinafood đã tự tháo gỡ niêm phong, bán lô hàng này ra thị trường”. Như vậy, sau 10 ngày bị phát hiện hàng trăm tấn thực phẩm vi phạm nhãn mác và hạn sử dụng, thay vì tìm cách giải thích với người tiêu dùng, Vinafood đã hành động, theo cách mà báo Tuổi Trẻ dùng từ: “tẩu tán”.

Cơ quan Thú Y, hôm 13 và 14-7, cũng phát hiện trong kho hàng mà Vinafood thuê: đùi gà… không xác định được hạn sử dụng; sườn cốp lết và xúc xích hết hạn; thịt heo quá đát từ tháng 4 được Vinafood “tự ý gia hạn” thêm 1 năm… Trước một sự kiện như vậy, điều mà Vinafood phải đương đầu, không chỉ là với các quy định về an toàn thực phẩm mà còn là uy tín đạo đức với khách hàng. “Tên tuổi” lẽ ra phải được Vinafood ưu tiên hàng đầu khi tìm cách vượt khủng hoảng thay vì gỡ gạc mấy tấn chân giò hết hạn.

“Đạo đức” cũng vẫn đang là một thách thức với một doanh nghiệp khác. Hơn một tháng trước, khi Quản lý thị trường phát hiện trong kho có nhiều tấn “hương liệu quá đát”, Tân Hiệp Phát đã phản ứng tức thì để thanh minh: số hương liệu quá đát ấy không phải là nguyên liệu để pha chế những sản phẩm nước giải khát của họ; Công ty không biết chuyện hương liệu hết hạn từ ngày 13/12/2008 nhưng được dán nhãn chồng lên, “chỉnh” thời gian sử dụng tới 16/6/2009… Sản phẩm của Tân Hiệp Phát cũng được đưa xét nghiệm và, chỉ sau 2 tuần, Thanh tra Sở Y tế TP HCM cho biết, các sản phẩm nước giải khát của Tân Hiệp Phát “đều đạt chỉ tiêu cảm quan và lý hóa theo quy định”.

Về mặt “khủng hoảng pháp lý”, Tân Hiệp Phát đã ngoạn mục vượt qua. Các nhà sản xuất hiểu rõ, xét nghiệm thành phẩm không thể nào phát hiện ra hương liệu được sử dụng có còn thời hiệu hay không. Khác với những thùng giò heo, rất khó để chứng minh các thùng hóa chất trong kho liên quan tới các sản phẩm đang lưu thông trên thị trường giải khát. Ngay lập tức, Tân Hiệp Phát thông điệp tới người tiêu dùng: Chỉ có thể là sự hiểu lầm, những tên tuổi lớn không bao giờ lại dùng hàng quá đát.

Tuy nhiên, nếu thực sự Tân Hiệp Phát “oan” trong sự cố này thì vụ việc rõ ràng là bài học đắt giá cho một tên tuổi lớn. “Người quân tử đi qua ruộng dưa không cúi xuống buộc dây giày”. Một doanh nghiệp vẫn dùng hóa chất để pha chế nước giải khát không nên để hàng chục tấn hương liệu hết hạn sử dụng trong kho. Không nên để những cái nhãn “chỉnh thời hạn sử dụng” dán chồng lên nhãn cũ. Bởi, nếu Tân Hiệp Phát hoàn toàn không biết những việc xảy ra trong kho hóa chất của mình thì, tuy có thể làm cho các cơ quan chức năng kết luận là vô can, nhưng lại có thể khiến cho bạn hàng lo lắng về tính an toàn của những kho nguyên liệu ấy.

Tân Hiệp Phát là một tên tuổi khổng lồ, Công ty cổ phần thực phẩm Việt Nam, Vinafood cũng là một nhà nhập khẩu lớn. Tuy tính chất vụ việc bị phát hiện là có sự khác nhau, nhưng vấn đề làm nên sự thành đạt của cả hai đều phải dựa trên uy tín. Đặc biệt, với các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng liên quan tới sức khỏe của người dân, thì uy tín không chỉ được hình thành dựa trên nền tảng của luật pháp mà còn là đạo đức.

Không phải ngẫu nhiên mà ngày 22-7, Sở Công thương Bình Dương xác nhận là họ tiếp tục “Yêu cầu Tân Hiệp Phát tiêu hủy số hương liệu” quá đát bị phát hiện hồi tháng 5. Tân Hiệp Phát nếu muốn bán lô hàng quá đát này thì phải đảm bảo chắc chắn là nó sẽ được dùng để “chế biến thức ăn gia súc”. Bởi, Tân Hiệp Phát có thể sẽ không sử dụng số hương liệu quá đát ấy, nhưng nếu nó rơi vào tay những “tên tuổi nhỏ” hơn, hám lợi mà dùng pha chế nước giải khát thì về mặt đạo đức, người bán ra cũng có phần liên đới. Một khoản tiền rất lớn chênh lệch giữa hai cách xử lý: tiêu hủy hay bán số hương liệu này. Nhưng, cách hành xử dựa trên những băn khoăn về đạo đức nhiều khi lại mang lợi ích cho doanh nghiệp dài lâu và nhiều hơn số tiền bán ra những lô hàng quá đát.

Chất lượng kiểm nghiệm những lô thực phẩm chưa rõ hạn sử dụng của Vinafood cũng có thể giúp giảm bớt mối đe dọa phá sản của công ty. Tuy nhiên, lối thoát duy nhất của Vinafood giờ đây chỉ có thể là khôi phục từng phần uy tín: thay vì “tẩu tán”, đưa những tấn chân giò quá đát ấy đi chế biến thức ăn gia súc; tiêu hủy những thùng xúc xích, đùi gà nhiễm khuẩn… Làm như vậy, có thể Vinafood sẽ phải mất một khoản tiền khổng lồ. Nhưng, nếu khách hàng, người tiêu dùng mất niềm tin vào đạo đức của một nhà kinh doanh thức ăn thì cái mất của những doanh nghiệp như Vinafood sẽ không chỉ lớn hơn mà còn là tất cả.

Bolg Huy Đức

Kẻ ăn không hết, người lần không ra

TT - Lâu nay, cứ tưởng nhà và đất công còn rất ít hay đã hết nên khó tìm được nhà đất công mà xây trường, xây bệnh viện. Đành an ủi nhau thôi thì người bệnh, người học phải thông cảm hoàn cảnh mà đành chịu chật chội vậy. Trường quốc tế, bệnh viện quốc tế có được là nhờ nước ngoài có nhiều tiền, mua đất của dân với giá cao mà xây nên.

Đọc các bài nói về nạn các đại gia ôm nhà, đất công trên báo Tuổi Trẻ các số gần đây mới biết nguyên nhân lại không đơn giản như vậy. Hóa ra vài chục năm nay đã có nhiều tổng công ty, công ty ôm hàng loạt cơ sở nhà đất công, trong đó có những nhà ở các vị trí đắc địa, có những mảnh đất rộng hàng ngàn, chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn mét vuông rồi dùng không hết nên bỏ quên hay cho thuê kiếm tiền bỏ túi, thậm chí bán đi để trả nợ khi làm ăn thua lỗ hoặc chờ cổ phần hóa để có tiền mà xài ngông.

Những thủ trưởng các đơn vị “có máu mặt” này chắc chắn không thể không biết ở thành phố thì tấc đất là tấc vàng và rất nhiều cơ sở công đang cần đất. Dám chắc những vị này từng tỏ ra cảm thông trên lời nói trước cảnh bệnh nhân chen chúc rồng rắn khám bệnh, hai người chia nhau cái giường để nằm, từng kêu ca ngành giáo dục sao để thiếu trường học khiến con cháu mình phải đi học xa, sĩ số mỗi lớp vượt xa quy định khiến chất lượng không bảo đảm...

Dám chắc khi học nghị quyết, nhiều người trong số các vị này đã hùng hồn phát biểu hết lòng ủng hộ chủ trương giáo dục là quốc sách hàng đầu, chủ trương chăm sóc sức khỏe người dân... Không hiểu khi nói như vậy, những người này có nhớ đến hàng loạt căn nhà, mảnh đất bỏ không của mình hay đang cho thuê không đúng chức năng hay không. Chắc là không, vì có vị còn xem đó là thành tích “giữ đất” hàng 30 năm cho Nhà nước và thành tích này đáng được tưởng thưởng bằng cách được giữ luôn nữa kia.

Quốc hội có cử các đoàn giám sát đến cũng chỉ nhận được những lời giải thích vòng vo, nại khó khăn này khác, né tránh trách nhiệm, thậm chí đổ ngược trách nhiệm cho cơ quan cấp trên. Trước thực trạng này, có cảm tưởng như các vị thủ trưởng của những cơ quan “bỏ quên nhà đất công” này thiếu tôn trọng (nếu không muốn nói là đang thách thức) các đại biểu Quốc hội và những người dân đã giao cho các vị đại biểu này quyền giám sát, chất vấn.

Người dân và các cơ quan dân cử có thể nào chấp nhận kéo dài tình trạng này không? Các tổ chức Đảng mà các vị thủ trưởng này là đảng viên có thể nào dửng dưng trước tình trạng này không? Lãnh đạo cấp trung ương và thành phố có thể xem đây là chuyện nhỏ để bỏ qua không? Hi vọng là không, bởi người dân thường cũng có thể thấy rõ hậu quả mà xã hội phải gánh chịu và lợi ích riêng mà các đại gia này được hưởng là gì.

Vấn đề bây giờ là sớm có biện pháp chấm dứt cảnh “kẻ ăn không hết, người lần không ra” trong lĩnh vực nhà đất công này. Bởi vì xã hội mà ta đang cố gắng xây dựng phải là xã hội có tiêu chí đầu tiên là công bằng.

TS HỒ THIỆU HÙNG

23 thg 7, 2009

Chuyện lương thấp ?

"Ai cũng kêu lương thấp, nhưng rất nhiều người vẫn sống sung túc, vì sao vậy?". Giáo sư toán học Hoàng Tụy đã đặt một câu hỏi khó mà dễ trả lời khi mở đầu phát biểu trong một hội thảo về "lương và tham nhũng". Đúng là rất nhiều người vẫn sống sung túc trong chế độ "lương không ra lương phụ cấp không ra phụ cấp" hiện nay.



Nhưng nói đi thì phải nói lại: còn rất, rất nhiều người làm công ăn lương hiện nay thực sự khốn khổ vì ngoài đồng lương quá thấp ra, họ không biết và không thể "kiếm thêm" bằng bất cứ cách gì khác! Không phải ai cũng có điều kiện để "kiếm thêm", để xà xẻo, để thường xuyên nhận "phong bì". Tất cả những người quá vất vả vì lương thấp đều là những người lao động, trong đó công nhân công nghiệp làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp vốn nước ngoài, các doanh nghiệp tư nhân chiếm số lượng đông đảo nhất. Có thể kể thêm những sinh viên mới ra trường với chỉ số lương khởi điểm hơn 2' (khoảng 1 triệu đồng/tháng), và những người làm các công việc tạp vụ trong các cơ quan nhà nước, nhiều khi họ thu nhập chưa tới 1 triệu đồng/tháng trong điều kiện vật giá hiện tại.

Nhưng làm sao để có những thang lương hợp lý nhằm ổn định cuộc sống những người làm công ăn lương, khiến họ có thể nuôi con cái ăn học và an tâm tập trung vào công việc chính của mình, đó là một câu hỏi khó cho Nhà nước. Khó vì hai lẽ: thứ nhất, khối lượng khổng lồ công nhân viên chức ăn lương trong biên chế nhà nước từ lâu nay qua bao kỳ "giảm biên", nhưng số lượng tăng chứ không hề giảm, và, thứ hai, ngân sách nhà nước đã tỏ ra "nặng nhọc" khi phải gánh ngân sách lương quá lớn, dù mức lương tối thiểu là quá thấp.

Thực ra, có hai ngành quan trọng hàng đầu trong xã hội là ngành giáo dục và ngành y tế, thì biên chế không thể giảm, mà phải tăng, để đáp ứng nhu cầu dạy học và chữa bệnh cho nhân dân. Đó cũng là hai ngành mà mức lương đã và đang gây nhức nhối vì bất hợp lý, và cũng là nơi dễ nảy sinh rất nhiều tiêu cực ở diện rộng.

Đã hơn một lần Bộ LĐ-TB-XH đã đề xuất tăng lương cơ bản, gần đây nhất là đề xuất tăng lên 850.000đ, nhưng chưa được chấp thuận. Nhưng dù tăng ở mức ấy, thì "vấn nạn lương" vẫn chưa vì thế mà được giải quyết.

Chỉ có tái cơ cấu lại bộ máy nhà nước, tinh giản và khoa học hóa bộ máy trong thời đại internet, làm hợp lý lại để tránh chồng chéo với số lượng công chức phình ra quá lớn, thì việc tăng lương trong hệ thống công chức nhà nước mới mang lại hiệu quả cho công việc. Còn một khi tiếp tục phải "tải rộng, cán mỏng miếng bánh lương" thì thật khó để có đột phá trong chế độ tiền lương.

Dĩ nhiên, không cứ tăng lương cao là đã mặc nhiên chống được tham nhũng. Mà nên đặt vấn đề ngược lại: điều cần nhất bây giờ là phải tăng lương cho những người trực tiếp lao động, nhất là lao động nặng nhọc, và tăng lương cho những người làm chuyên môn trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật để họ có mức sống không chật vật.

Chỉ như thế mới tạo được động lực cho hàng triệu người lao động trong nỗ lực làm việc góp phần xây dựng đất nước, cũng là xây dựng bền vững cho cuộc sống gia đình và bản thân mình.

Theo TN-Online

22 thg 7, 2009

Hội nghị giao ban Ban chỉ đạo điều phối, phát triển Vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) Đồng bằng sông Cửu Long

Những vấn đề chính được tập trung thảo luận, quyết định tại Hội nghị là thiết lập, triển khai các tiền đề hạ tầng cơ sở, nhân lực, giải pháp tăng cường cạnh tranh sản xuất để thúc đẩy, phát huy lợi thế các tiềm năng, thế mạnh của Vùng là nông nghiệp, thủy hải sản, trồng cây ăn trái và du lịch.

Hạ tầng – thiếu và yếu

Theo báo cáo từ Văn phòng Ban chỉ đạo, trong giai đoạn 2006-2008, tốc độ tăng trưởng của 4 địa phương trong Vùng (Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau) đạt bình quân 13,57%/năm, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng và sản lượng của khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản luôn dẫn đầu cả nước. Kim ngạch xuất khẩu đạt 2,8 tỷ USD/năm, thu nhập bình quân đầu người ước đạt 680 USD/năm.

Cơ cấu ngành kinh tế của vùng đã có sự chuyển dịch, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Bước đầu đã hình thành nhiều khu, cụm công nghiệp lớn với 3 Trung tâm điện lực Ô Môn, Cà Mau, Kiên Lương, các mỏ khí Tây Nam, các KCN Trà Nóc, Hưng Phú, Khánh An, Vàm Cống, các Khu kinh tế cửa khẩu sôi động Tịnh Biên, Hà Tiên,...
Đại diện các địa pương phân tích các điểm yếu để tháo gỡ phát triển kinh tế xã hội vùng KTTĐ -Ảnh Chinhphu.vn

Thực trạng phát triển này được hầu hết các ý kiến trong Hội nghị đánh giá là vẫn còn thấp và chưa xứng với tiềm năng cũng như vai trò của Vùng. Nhiều nguyên nhân được liệt kê, trong đó nổi lên vấn đề kết cấu hạ tầng – tiền đề quan trọng trong phát triển KT-XH - của Vùng còn rất thiếu và yếu.

Theo ý kiến của đại diện các Bộ GTVT, Xây dựng cũng như các địa phương, hệ thống đường bộ, đường thủy hàng không cũng như hạ tầng đô thị, điện, nước, thủy lợi trong Vùng dù đã được cải thiện đáng kể trong thời gian gần đây, nhưng nhìn chung vẫn còn thấp kém.

Điển hình như tại Cần Thơ, hệ thống đường – cầu vẫn không theo kịp tốc độ và nhu cầu phát triển. Tuyến đường thuỷ độc đạo vận tải hàng hoá từ miền Tây lên TPHCM qua kênh Chợ Gạo thường xuyên bị quá tải nghiêm trọng. Tại ĐBSCL, mỗi năm có nhu cầu xuất nhập khẩu khoảng 12 - 13 triệu tấn hàng hoá nhưng 13 cảng chủ lực trên sông Hậu chỉ đáp ứng 30% nhu cầu. Còn lại phải trung chuyển qua các cảng ở TPHCM và Đông Nam bộ, tăng chi phí vận chuyển 7 - 10 USD/tấn.

Nhìn chung, hệ thống giao thông trong Vùng hiện chỉ mới ở việc nối dài, mở rộng, gắn vào hệ thống cũ chứ chưa có được một hệ thống giao thông phù hợp nền kinh tế thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa.

Bên cạnh đó, cũng còn những yếu ngay ở những ngành kinh tế mũi nhọn của Vùng. Do tính liên kết và kết nối chưa thực sự tốt, hai mặt hàng chiến lược là lúa và thủy hải sản đang phát triển thiếu tính bền vững, giá cả và thị trường còn thiếu ổn định. Việc nghiên cứu, áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp chất lượng cao cũng còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là công tác đào tạo, chuẩn bị một nguồn nhân lực trình độ, chất lượng cao của Vùng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

Tháo gỡ 3 “nút thắt”, tạo tiền đề cho 2 định hướng

“Có 2 định hướng và tiềm năng lớn mà cả 4 địa phương trong Vùng cần chú trọng, đó là triển khai các dự án công nghiệp tập trung với các cụm CN khí – điện, xi măng và phát triển sản xuất nông nghiệp – thủy hải sản ứng dụng công nghệ cao”, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nhấn mạnh.

Phó Thủ tướng cho rằng, giao thông, thủy lợi, nhân lực là 3 khâu yếu mà các địa phương cần hết sức chú trọng đầu tư để tạo tiền đề cho 2 định hướng nói trên.

Vì vậy, trước hết các địa phương phối hợp với Văn phòng Ban chỉ đạo đánh giá, xác định lại cơ cấu kinh tế, phát triển bền vững của mình. Đặc biệt là công tác quy hoạch, rà soát, hiệu chỉnh kế hoạch phát triển theo sự hình thành, phát triển Vùng. Từ đó có những kế hoạch triển khai, đẩy mạnh các giải pháp khắc phục những điểm yếu này.

Bên cạnh đó, để hỗ trợ Vùng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu đề xuất nâng mức hỗ trợ tập trung cho các ngành mũi nhọn, các khu kinh tế cửa khẩu, tạo điều kiện thuận lợi thu hút vốn, đặc biệt là ODA và vốn xã hội, ưu tiên cho các dự án xử lý chất thải rắn, cấp, thoát nước.

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội rà soát, lập các chương trình đào tạo nghề, giới thiệu lao động cho các doanh nghiệp.

Bộ Công Thương rà soát quy hoạch điện lực, chủ trì xây dựng các đề án chuyên đề về điện, khí vốn có nhiều tiềm năng của Vùng.

Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo đẩy nhanh các dự án trọng điểm trong khu vực như cầu Cần Thơ, quản lộ Phụng Hiệp, Nam Sông Hậu, QL 91, dự án đường sắt...

Theo Chinhphu.vn

Theo nội dung được phê duyệt tại Quyết định số 492/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009, Vùng KTTĐ ĐBSCL gồm 4 địa phương là TP. Cần Thơ, tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cà Mau. Diện tích toàn Vùng là 16.616 km2, dân số 6,4 triệu người.

Mục tiêu xây dựng Vùng KTTĐ ĐBSCL trở thành vùng phát triển năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cả vùng ĐBSCL giàu mạnh. Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2009-2010 đạt gấp 1,2 lần và thời kỳ 2011-2929 gấp 1,25 lần tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước. Tỷ lệ đóng góp vào GDP cả nước đạt 11,6% năm 2010 và 13,3% năm 2020.


21 thg 7, 2009

NGUYỄN VĂN VĨNH

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN BÁO CHÍ TIẾNG VIỆT VÀ TRUYỀN BÁ CHỮ QUỐC NGỮ.
Nguyễn Thị Lệ Hà - Viện Sử học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

1. Vài nét về thân thế của Nguyễn Văn Vĩnh
Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 30 tháng 4 năm Nhâm Ngọ, (tức ngày 15.6.1882), tại số nhà 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội, nguyên quán làng Phượng Dực, thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Phú Xuyên). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, đông con ở vùng đồng chiêm trũng, quanh năm đói kém, nên bố mẹ ông phải bỏ quê ra Hà Nội kiếm sống. Tám tuổi ông làm nghề kéo quạt ở trường Thông ngôn của Pháp mở tại đình Yên Phụ.

Năm 11 tuổi nhờ chăm chỉ và ham học ông được Hiệu trưởng D’Argence đồng ý cho dự thi tuyển vào lớp thông ngôn tập sự ngạch Tòa công sứ, niên khóa 1893-1895. Ông đỗ thứ 12 trong tổng số 40 học sinh. Ông đã đỗ thủ khoa khi mới 13 tuổi và được tuyển làm phiên dịch của Tòa công sứ Lào Cai, Tòa công sứ Hải Phòng, sau lại làm thông ngôn ở Tòa công sứ Bắc Giang (từ 1902-1905).

Ngoài công việc chính ở Tòa công sứ, Nguyễn Văn Vĩnh còn là cộng tác viên của hai tờ báo tiếng Pháp: “Courrier de Hai Phong”, và “Tribune Indochinoise” của Schneider. Chính nhờ những hoạt động năng nổ này của Nguyễn Văn Vĩnh được viên Công sứ Bắc Giang Hauser tuyển làm thư ký riêng. Cho nên khi Hauser được cử về làm Đốc lý Hà Nội, ông cũng đưa Nguyễn Văn Vĩnh về theo.

Đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều biến đổi: phong trào “châu Á thức tỉnh” nổi lên; Nhật thắng Nga trong chiến tranh Nga -Nhật (1904-1905). Ở trong nước phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân phát triển rầm rộ. Trước tình hình này, sau khi được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương P.Beau nhận thấy cần cải cách nền giáo dục Việt Nam để có thể theo kịp được những biến động xã hội, đồng thời chú ý đến các công việc từ thiện nhằm xoa dịu sự phản kháng của nhân dân trước chính sách hà khắc của chính quyền thuộc địa. Toàn quyền P.Beau giao nhiệm vụ cho Đốc lý Hauser trực tiếp vận động và giúp đỡ người Việt làm đơn và thảo điều lệ xin phép lập các trường, các hội, rồi dịch ra tiếng Pháp để đệ trình lên Phủ thống sứ. Nguyễn Văn Vĩnh được Hauser tín nhiệm và giao cho đảm trách toàn bộ công việc này. Chính vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh là sáng lập viên của các hội, các trường được thành lập ra lúc bấy giờ trong đó tiêu biểu là:

- Hội Trí Tri ở 59 phố Hàng Quạt, Chủ hội là ông Nguyễn Liên. Nguyễn Văn Vĩnh là sáng lập viên, đồng thời là Chủ tịch Ban diễn thuyết và giảng sách mỗi tuần một lần, cùng với ông Nghiêm Xuân Quảng và Trần Tán Bình là Uỷ viên.

- Trường Đông Kinh Nghĩa Thục thành lập năm 1907 ở phố Hàng Đào, Nguyễn Văn Vĩnh là người thảo điều lệ và viết đơn xin thành lập, đồng thời là giáo viên giảng dạy tiếng Pháp, dạy cách viết văn và diễn thuyết.

- Thành lập “Hội dịch sách”, “Hội giúp đỡ người Việt đi sang Pháp học trung, đại học và kỹ thuật”, cùng nhiều trường, nhiều hội khác…

Năm 1906, Pháp mở Hội chợ thuộc địa tại Thành phố Marseille. Đốc lý Hauser được giao tổ chức gian hàng Bắc Kỳ. Đốc lý Hauser đã rất tin tưởng Nguyễn Văn Vĩnh và giao tất cả công việc từ thu thập sản phẩm hàng hoá, thiết kế trưng bày đến tuyển thợ đi Marseille dựng gian hàng. Đồng thời, ông được giao quản lý luôn gian hàng Hội chợ thuộc địa từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1906, khi đó ông mới 24 tuổi.

Hội chợ thuộc địa kết thúc, Nguyễn Văn Vĩnh ở lại Marseille một tháng, được Đốc lý Hauser đưa thăm quan nhà in và báo “Revue de Paris”, Nhà xuất bản Hachette, Nhà xuất bản Từ điển Larousse.

Năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội Nhân quyền Pháp.
Sau khi về nước, ông xin nghỉ việc và cùng với một người Pháp tên là Dufour thành lập nhà in. Ông cùng với Phan Kế Bính dịch và xuất bản hai tác phẩm đầu tiên là Tam Quốc và Truyện Kiều. Trong Lời tựa của cuốn Truyện Kiều ông đã đưa ra câu nói nổi tiếng: “Nước Nam ta mai sau này hay hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ”. Câu nói này đã trở thành lời kêu gọi của các nhà truyền bá chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX, nó được in trên tất cả các bìa sách do nhà in của Nguyễn Văn Vĩnh xuất bản. Đồng thời, đây cũng là mục đích trong suốt cuộc đời làm báo và xuất bản của ông. Từ đó, Nguyễn Văn Vĩnh chuyển hẳn sang nghề làm báo và xuất bản. Ông đã quyết định “tự cách tân” mình, bỏ búi tó, khăn xếp, bỏ áo dài, mặc quần áo theo kiểu Âu, đội mũ cát két, cắt tóc ngắn, đi giầy da, dùng xe môtô mang từ Pháp về. Năm 1907 là năm đầu tiên ông thực sự bước vào làng báo với nhiều bút danh khác nhau như: Tân Nam Tử, Đào Thị Loan, V, Bản Quán… tuỳ theo từng thể văn.

Bên cạnh đó, ông cũng là hội viên rất tích cực của hai hội lớn là Trí Tri và Khai Trí Tiến Đức. Song song với công việc mà cả cuộc đời ông say mê kể trên, ông còn tham gia hoạt động chính trị, làm Uỷ viên Hội đồng Thành phố Hà Nội khi mới 25 tuổi (1907), trong nhiều khoá liên tiếp làm hội viên Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ (tức Viện Dân biểu) từ năm 1913, và thành viên của Đại Hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương (cơ quan tư vấn tối cao về kinh tế của Chính phủ Liên bang Đông Dương). Ông còn tham gia Hội Nhân quyền Pháp tại Việt Nam và Hội Tam điểm Quốc tế.

Có thể nói, Nguyễn Văn Vĩnh là một trong số rất ít người Việt Nam lúc đó tham gia vào tất cả các tổ chức tư vấn của Chính quyền Pháp. Chính vì thế, một số người cho rằng ông hoàn toàn phục vụ quyền lợi cho thực dân Pháp. Nhưng có một thực tế là ông đã hai lần từ chối Bắc Đẩu bội tinh, một huân chương mà người Việt và người Pháp thời ông đều mơ ước.

Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những người Việt Nam đầu tiên tiếp nhận văn hoá Âu Tây và tích cực truyền bá vào Việt Nam. Chính ông là một trong những người đánh những tiếng trống đầu tiên mở màn cho việc phát triển báo chí tiếng Việt, một nghề hoàn toàn mới đối với người Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đồng thời, ông cũng là một trong những người có công lớn nhất cho cuộc cách mạng chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ thời kỳ này có rất ít người chấp nhận sử dụng, trong khi đó chữ Hán, chữ Nôm đã tồn tại lâu đời và được tất cả mọi người chấp nhận nó như là một thứ chữ truyền thống.

2. Những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh với việc phát triển báo chí tiếng Việt
Cho đến nay, phần lớn các tác giả khi nghiên cứu về Nguyễn Văn Vĩnh đều cho rằng ông là người thông minh, có tài và đặc biệt xuất sắc trong nghề làm báo và xuất bản. Có thể nói, Nguyễn Văn Vĩnh là người làm chủ nhiệm, chủ bút nhiều nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX:

Ông chính thức làm chủ bút tờ Đăng Cổ Tùng báo số ra đầu tiên ngày 28-3-1907, thay cho tờ Đại Nam Đồng văn nhật báo. Tờ Đăng Cổ Tùng báo chỉ tồn tại được 9 tháng, đến ngày 14-11-1907 thì ngừng hẳn. Sau khi tờ Đăng Cổ Tùng báo đình bản, ông chủ trương ra tờ báo tiếng Pháp Notre Journal (1908-1909). Một năm sau vào năm 1910 ông lại ra tờ Notre Revue nhưng cũng chỉ tồn tại được 12 số, và cùng năm đó, ông làm chủ bút tờ Lục Tỉnh tân văn ở Sài Gòn.

Đầu năm 1913, ông ra Hà Nội làm chủ bút tuần báo Đông Dương tạp chí, số đầu ra ngày 15-5-1913. Năm 1915 ông kiêm làm chủ bút luôn cả tờ Trung Bắc tân văn. Từ đây, tờ Đông Dương tạp chí chỉ chuyên về những bài đại luận, bài văn chương, bài sư phạm, còn những bài thời sự và tạp luận thì chuyển hết sang tờ Trung Bắc tân văn. Cả 3 tờ báo tiếng Việt mà Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút đều do một người Pháp là Schneider sáng lập [1]. Năm 1919 tuần báo Đông Dương tạp chí một lần nữa được đổi thành Học báo vẫn do ông làm chủ nhiệm. Học báo là chuyên san về những vấn đề sư phạm, nhằm giúp các giáo viên dạy tốt và đặt ra phương pháp mới để dạy chữ Quốc ngữ. Cùng năm, ông mua lại tờ Trung Bắc tân văn và cho xuất bản nhật báo. Đây là tờ nhật báo đầu tiên ở Bắc Kỳ trong lịch sử báo chí Việt Nam.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cuối những năm 20 – đầu những năm 30 thế kỷ XX đã ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực. Ngành báo chí và kinh doanh nhà in của Nguyễn Văn Vĩnh cũng không tránh khỏi những khó khăn. Báo, sách in ra không phát hành được. Mặt khác, do tình hình chính trị trong nước giai đoạn này có những thay đổi lớn với phong trào cách mạng lên cao và sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương. Chính quyền thuộc địa Pháp cũng kiểm duyệt gắt gao báo chí tiếng Việt. Năm 1931, ông cho ra tờ báo tiếng Pháp “Annam Nouveau” (An Nam mới). Ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút cho tới năm 1936. Trong 30 năm tròn ông vừa là một cây bút viết một cách say mê trong tất cả mọi lĩnh vực, vừa là người quản lý nhà xuất bản.

Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết một khối lượng bài viết khổng lồ thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đăng trên các báo do ông làm chủ nhiệm, chủ bút hoặc trên nhiều tờ báo ra cùng thời. Điều đặc biệt của Nguyễn Văn Vĩnh là ông có thể viết một lúc nhiều thể loại báo chí khác nhau mà vẫn đưa được vào trong các tác phẩm của mình sự uyên bác, thông tuệ của một người trí thức mẫn cảm với thời cuộc: “…viết luôn một bài xã thuyết cho báo l’Annam nouveau, thảo một bức thư cho viên toàn quyền Pháp đưa xuống dưới nhà đánh máy luôn, dịch miệng “Tê Lê Mạc phiêu lưu ký” cho Đông Lĩnh Dương Phượng Dực ngồi ám tả, trong khi chính ông lại quay sang nói chuyện với ông Tụng về chuyện thống sứ Pháp “có ý muốn giúp ông tiền bất cứ lúc nào, bao nhiêu cũng được”, miễn là ông tạm gác ý kiến đả kích Pháp và ngưng chống nhà vua“[2,72]

Nguyễn Văn Vĩnh là một nhà báo đa tài. Ông có thể viết tin, nghị luận (xã thuyết), làm thơ, khảo cứu, phóng sự và dịch tiểu thuyết. Ở bất cứ chuyên mục nào những bài viết của ông cũng đều sắc sảo, thể hiện được trình độ học thức sâu và tầm nhìn rộng. Nhưng một trong những sở trường của Nguyễn Văn Vĩnh là báo nghị luận. Do thời kỳ ông viết báo chưa có một hệ thống lý thuyết phân định rạch ròi thể loại báo chí nên có thể liệt báo nghị luận gồm các bài viết (theo lối gọi khi ấy) là các bài xã thuyết, luận thuyết và một số bài có khuynh hướng thể loại giống như nhàm đàm, phiếm luận trên báo chí Việt Nam sau này. Những bài viết nghị luận của ông tương đối ngắn, nội dung phong phú đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Với bút danh Tân Nam Tử, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết nhiều bài nghị luận về các vấn đề khác nhau đăng ngay từ những số đầu tiên của tờ Đăng Cổ tùng báo như: Tại người hay tại đất? (thói lười biếng dẫn tới nghèo đói) số 2; Thói tệ (nói về lối sống thờ ơ không quan tâm đến nhau trong các đô thị), số 6; Phận làm dân (kêu gọi người dân thực hiện quyền bầu người đại diện trong nghị viện), số 17; Chết về gạo(về sự độc canh cây lúa mà dân vẫn đói), số 26; Hội Kiếp Bạc (về thói mê tín buôn thần bán thánh ở các đền chùa), số 28. Ngay số 2 trên Đông Dương tạp chí Nguyễn Văn Vĩnh đã có bài Học hành (nói về thói học vẹt, không sáng tạo trong tiếp thu kiến thức); Luận về việc du học (nói về sự vần thiết phải cử người đi du học nước ngoài), số 30… Trong những bài nghị luận của mình, bên cạnh những luận điểm, dẫn chứng để so sánh, phân tích các vấn đề nêu ra. Nguyễn Văn còn “nhìn thấy trước” các vấn đề trong xã hội. Thực tế cho thấy, nhiều vấn đề Nguyễn Văn Vĩnh đặt ra đến nhiều thập kỷ sau, thậm chí hàng trăm năm sau người Việt Nam vẫn phải đối mặt.

Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ dừng lại ở việc đưa ra được những vấn đề xã hội mà ông còn đi sâu phân tích, mổ xẻ nguyên nhân, thực trạng và quan trọng hơn ông còn đưa ra các giải pháp để hạn chế các mặt tiêu cực của những hiện trạng đó. Chính sự phân tích khách quan, khoa học cộng với tầm nhìn xa của một người làm báo khiến cho các bài báo nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh có sự bền vững của thời gian.

Tuy nhiên, Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ viết những bài nghị luận, mà ông tham gia viết rất nhiều chuyên mục khác nhau với nhiều giọng điệu phù hợp với từng chuyên mục. Đồng thời, giữ vai trò là chủ bút ông có đóng góp rất lớn trong lịch sử báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, khi ông luôn chủ động thay đổi nội dung tờ báo hoặc mở ra những chuyên mục riêng với phong cách, giọng điệu rất riêng giúp phù hợp với tâm lý và thị hiếu của người đọc trong từng thời kỳ. Và mỗi chuyên mục riêng đó, ông đều viết với ngữ điệu khác nhau khiến người đọc dễ tiếp thu, tiếp nhận những ý kiến, tư tưởng mà nhà báo muốn truyền đạt như chuyên mục Nhời đàn bà, và một loạt bài Xét tật mình… được đăng trên Đăng cổ tùng báo và Đông Dương tạp chí.

Hầu hết các bài trong mục Nhời đàn bà trên cả Đăng Cổ tùng báo (20 bài) và Đông Dương tạp chí (53 bài) đều không có tựa đề riêng mà chỉ gộp chung lại trong mục Nhời đàn bà và đều ký tên Đào Thị Loan. Các bài trong mục Nhời đàn bà bàn đến mọi vấn đề, mọi góc cạnh trong đời sống của người phụ nữ: từ chuyện mang thai, nuôi dạy con, chăm sóc chồng con, trang phục, vệ sinh, nữ công gia chánh, đối nhân xử thế…Giọng điệu trong các bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh ở mục này đã mở ra hơi hướng của thể loại báo chí phiếm đàm (hoặc phiếm luận, nhàn đàm…) trên báo chí quốc ngữ sau này. Nhiều bài viết trong mục Nhời đàn bà đã tiến đến gần hình thức của những tiểu phẩm báo chí. Với việc viết đều kỳ cho mục Nhời đàn bà trên Đăng Cổ tùng báo và Đông Dương tạp chí, Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những nhà báo đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam đảm nhiệm công việc viết chuyên mục dài ngày trên một tờ báo. Mặc dù được viết trong cả khoảng thời gian dài nhưng mỗi bài viết của ông luôn có nội dung mới, hấp dẫn người đọc. Nghiên cứu những bài viết nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh trên các tờ báo tiếng Việt có thể nhận thấy một văn phong rất riêng, đặc thù cho một thể loại báo chí nghị luận. Đây là đóng góp rất lớn của Nguyễn Văn Vĩnh với việc phát triển báo chí tiếng Việt. Báo chí Việt Nam sau này đã có sự thừa hưởng thành quả mà Nguyễn Văn Vĩnh đã vô tình hay hữu ý để lại .

Bên cạnh chuyên mục Nhời đàn bà Nguyễn Văn Vĩnh còn viết 19 bài Xét tật mình đăng nhiều kỳ thành hẳn một mục độc lập trên Đông Dương tạp chí nêu lên tất cả những tật xấu của quan lại và người dân Việt Nam như: Tính ỷ lại trong cuộc sống số 8; Coi ăn uống là việc quan trọng hàng đầu số 10; Ăn mặc suồng sã hớ hênh số 14; Lối học cổ hủ thông qua tiếng Trung Hoa, tác hại đến hoạt động trí tuệ của dân tộc số 16; Lợi dụng đau khổ của đồng bào để trục lợi số 17….Mục đích của ông khi viết một loạt bài này là nhằm làm cho nhân dân nhanh chóng vứt bỏ những thói tục xấu, tiếp thu những tri thức mới của phương Tây. Để có được những bài viết phản ánh được đúng thực trạng xã hội đòi hỏi nhà báo phải có tri thức và phong văn hóa rộng nhưng điều quan trọng là tác giả phải dũng cảm viết đúng sự thật. Những sản phẩm để lại qua 30 năm làm báo và xuất bản của Nguyễn Văn Vĩnh đã minh chứng được: ông hội tụ được đầy đủ những tố chất của một nhà báo tài ba, chân chính và ông xứng đáng là một tấm gương sáng cho nhiều thế hệ nhà báo sau học tập.

Có thể thấy rằng theo dòng thời gian-từ Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí đến Trung Bắc Tân văn -bút lực của Nguyễn Văn Vĩnh ngày càng trở nên sắc sảo, đa dạng. Không chỉ làm công việc của một người quản lý tờ báo, ông còn đảm nhiệm viết rất nhiều mục, nhiều thể loại trên báo của mình. Đặc biệt, những bài báo nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh dù được viết dạng “chính thống” với giọng điệu nghiêm túc, chuẩn mực hay dưới dạng “phá cách” như trong mục Nhời đàn bà, Xét tật mình …Những bài viết của ông ở thể loại này dù vô tình hay hữu ý đã tạo ra một phong cách riêng biệt và trở thành một trong những hình mẫu về thể loại báo chí nghị luận mà báo chí quốc ngữ đã tựa vào đó để hình thành và phát triển trong nhiều năm sau này.
Một trong những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh trong việc phát triển báo chí tiếng Việt là ở chỗ ông là một trong những người đi tiên phong trong việc viết phóng sự. Qua hai phóng sự Từ triều đình Huế trở về và Một tháng với những người đi tìm vàng (đang viết dở thì ông chết) được đăng trên tờ L’Annam nouveau. Tuy chưa hẳn đã là những hình mẫu chuẩn mực của phóng sự nhưng rõ ràng đây là những bài đầu tiên mang đậm dấu ấn thể loại phóng sự mà nhiều nhà báo sau này đã vận dụng và tiếp tục sáng tạo trong nền báo chí tiếng Việt.

Một đóng góp rất quan trọng khác của Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử báo chí tiếng Việt là việc ông với vai trò là chủ bút Đông Dương tạp chí, đã cho đăng rất nhiều công trình dịch thuật của các tác phẩm văn chương đặc sắc của nước ngoài. Nhưng người có nhiều công trình dịch thuật nhất lại chính là Nguyễn Văn Vĩnh. Ông dịch tất cả các thể loại, không chỉ riêng tiếng Pháp mà cả chữ Hán, chữ Nôm, và dịch ngược từ chữ Nôm ra chữ Pháp, nổi tiếng nhất là Truyện Kiều. Tìm hiểu các công trình dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên Đông Dương tạp chí và Trung Bắc tân văn, ta thấy có sự thay đổi đáng lưu ý. Lúc đầu ông thường thiên về dịch các tác phẩm học thuật tư tưởng của các bậc danh sĩ nổi tiếng nước Pháp như Emile Zola, Pascal. Nhưng dần về sau, ông chuyển sang dịch tiểu thuyết và hài kịch. Có lẽ, ông muốn thu hút nhiều người đọc báo hơn, vì đọc tiểu thuyết và hài kịch thường gây lối cuốn hơn đọc tư tưởng triết học. Những tác tác phẩm dịch tiểu thuyết, văn xuôi, thơ… của Nguyễn Văn Vĩnh giúp cho người dân Việt Nam hiểu biết những tư tưởng mới, những điều hay của Phương Tây và phương Tây cũng qua những tác phẩm dịch ngược của ông mà biết được nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam và Phương Đông. Do đó, có thể khẳng định Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những người đầu tiên bắc chiếc cầu nối giữa hai nền văn hóa Đông và Tây. Đây là đóng góp rất lớn của Nguyễn Văn Vĩnh với nền văn hóa Việt Nam nói chung và nền báo chí nói riêng những năm đầu thế kỷ XX.

Nghiên cứu một cách hệ thống các tác phẩm báo chí của Nguyễn Văn Vĩnh qua từng thời kỳ (Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn), ta có thể nhận thấy sự tiến triển rõ rệt trong các bài viết từ xây dựng cấu trúc đến tu sửa câu văn. Vì vậy, các bài viết của ông ngày càng bớt rườm rà, ngô nghê để trở nên trong sáng, giản dị và xúc tích hơn.

Về cơ bản, các tác phẩm báo chí của Nguyễn Văn Vĩnh, dù với thể loại nào, đều được thể hiện bằng một nghệ thuật báo chí bậc thầy trong thời điểm xuất hiện. Với tài sử dụng ngôn từ hiếm có và một vốn văn hóa dồi dào được tích hợp trong môi trường giao thoa văn hóa Đông -Tây, Nguyễn Văn Vĩnh đã thể hiện xuất sắc các tác phẩm báo chí, mang lại cho chúng những giá trị lâu bền.

3. Những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh với việc cổ vũ và truyền bá chữ Quốc ngữ
Phát minh ra chữ Quốc ngữ là công của các giáo sĩ phương Tây (Francisco de Pina, Gaspar do Ammarl, Antonio de Barbosa, Alexandre de Rhodes). Tuy nhiên, vào thời kỳ đầu (TK XVII-XIX) chữ Quốc ngữ chỉ là chữ dùng mẫu tự La tinh để thể hiện ngữ âm Việt Nam, giúp các giáo sĩ dễ dàng truyền đạo vào Việt Nam. Cho đến giữa thế kỷ XIX rất ít người Việt Nam biết và dùng được chữ Quốc ngữ. Phải đến khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ thì chữ Quốc ngữ mới đắt đầu được dạy và được phổ biến.

Người Việt Nam có công truyền bá chữ Quốc ngữ đầu tiên là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của. Khi đó Trương Vĩnh Ký đã đem những sách đọc dễ hiểu và gần gũi với tâm lý người Việt như Lục súc tranh công, Phan Trần truyện, Lục Vân Tiên in ra bằng chữ Quốc ngữ. Mục đích của ông là để truyền bá dễ dàng chữ Quốc ngữ trong nhân dân. Năm 1868, Trương Vĩnh Ký viết sách: “Tiếng Annam thực hành, dùng cho trường thông ngôn”. Năm 1876, ông xuất bản cuốn: “Sách học đánh vần quốc ngữ”. Tuy nhiên, cả hai ông lại không phát động, hô hào và dấy lên một phong trào học chữ Quốc ngữ sâu rộng như Nguyễn Văn Vĩnh sau này ở miền Bắc. Nguyễn Văn Vĩnh và nhóm Đông Dương tạp chí (Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học…) đã sớm nhận thấy ở chữ Quốc ngữ là một thứ vũ khí lợi hại cần thiết cho dân tộc ta trong sự nghiệp phục hưng nước nhà. Nguyễn Văn Vĩnh từng nói năm 1907: “Nước ta sau này hay hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ”. Và ông đã lấy chính chữ Quốc ngữ để truyền tải những điều mới lạ của văn hoá phương Tây cho đông đảo nhân dân ta, như ông đã nêu rõ tại Hội quán Trí Tri (ngày 4-8-1907): “… Nước Nam ta muốn chóng bước lên đường tiến hoá thì phải mau thu thái lấy những tư tưởng mới. Muốn cho những tư tưởng mới trong văn hoá Âu Tây truyền bá khắp trong dân gian, thì phải cần phiên dịch những sách chữ nước ngoài ra Việt Nam…”. Sáu năm sau (1913), ông lại đưa vấn đề này trên báo Đông Dương tạp chí: “Bản quán định đem hết những bài luận hay về các công nghệ, về việc buôn bán, dịch ra quốc văn cho người Annam được tận hưởng” [3].

Từ khi bắt đầu bước vào nghề làm báo và tham gia giảng dạy ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Nguyễn Văn Vĩnh đã cổ động nhân dân học chữ Quốc ngữ. Năm 1913, trên số 2 của tờ Đông Dương tạp chí, ông đã cổ động nhân dân Việt Nam học chữ Quốc ngữ để thay thế chữ Hán, chữ Nôm: “Mở ngay tờ nhật báo này ra mà ngẫm xem bấy nhiêu điều luận trong báo, thử nghĩ: giá thử luận bằng chữ Nho thì có mấy người đọc được, mà trong những người đọc được, thì có mấy người hiểu cho hết nghĩa. Thế mà chữ Quốc ngữ, thì không những là người biết chữ Quốc ngữ đọc được, hiểu được, một người đọc cả nhà nghe cùng hiểu được, từ đàn ông cho đến các bà (không dám nói đàn bà sợ các bà quở) trẻ con cũng nghe được mà chỉ với chúng ta trong cuộc luận bàn thế sự thì có phải nó vui việc ra là bao nhiêu”. Đồng thời, ông cũng cho rằng để đọc, viết được chữ Quốc ngữ rất dễ “ai có ý chí vài ngày, ngu đần là một tháng cũng phải thông” [4]. Trong khi đó học chữ Nho thì phải “mất hàng nửa đời người, mà trăm người học không được một người hay, học được hay cũng chỉ ích lấy một mình, không đem ra mà dùng cho đời được nhờ cái học vấn của mình chẳng qua là một cái thú rung đùi mà thôi” [5]. Còn chữ Nôm thì dễ hơn, nhưng có cái khó là mỗi miền, mỗi người lại có cách viết và hiểu khác nhau. Do vậy nó cũng gây khó khăn cho việc học, hiểu và phổ biến rộng rãi.

Ý thức được rằng sẽ rất khó khăn nếu chỉ một mình xông xáo trong cuộc cách mạng chữ viết, truyền bá nó tới tất cả mọi người, Nguyễn Văn Vĩnh luôn vận động, kêu gọi “những bậc tài hoa, những người có học thức trong nước, phải chuyên vào nghề văn quốc ngữ”, và cả những “bậc có Pháp học, thì tuy rằng cái ngoại tài ấy phải chuyên làm cách tren – cạnh, làm mối kiếm ăn, nhưng hễ muốn nhân việc lập thân mà lại có ích cho cả đồng bào mình, thì phàm luyện được chút tài nào của người, cũng nên dùng quốc văn mà phát đạt nó ra cho cả người đồng – bang được hưởng” [6].
Thời gian đầu văn chương Quốc ngữ vẫn còn vụng về, lủng củng, Nguyễn Văn Vĩnh thấy cần thiết phải khắc phục những mặt hạn chế đó để khi nói, viết diễn tả được đúng ý và chuẩn xác. Ông đã đề xuất một biện pháp đơn giản và hiệu quả là tất cả các thể loại như: báo, sách, văn chương, thơ, tiểu thuyết, nghị luận, đơn từ đến những câu đối, câu phúng, lời chúc mừng bạn bè… đều phải viết bằng chữ Quốc ngữ, để cho người dân làm quen dần và đồng thời cũng luyện cho người viết trôi chảy, chau chuốt hơn.

Bên cạnh việc vận động mọi người cùng tham gia cổ động và viết chữ Quốc ngữ, vấn đề ngữ pháp tiếng Việt cũng được ông đưa ra bàn luận để đi đến thống nhất trong toàn quốc về cách đặt câu, cách viết, chấm phẩy, cách nói, viết cho cả 3 miền và cần phải có một thể lệ chung “Nay bản báo lấy việc cổ động cho chữ Quốc ngữ làm chủ nghĩa, tưởng cũng nên đem hết các khuyết điểm, các nơi không tiện ra mà bàn lại, chẳng dám đem cách nào mới mà xin thế vào lối cũ, sợ thiên hạ lại bảo vẽ vời, song cũng nên bàn các nơi bất tiện ra để ai nấy lưu tâm vào đó, thì dễ có ngày tự dưng chẳng phải ai làm mà chữ Quốc ngữ tự đổi dần dần đi” [7].

Là người từng đi dọc 3 miền đất nước, Nguyễn Văn Vĩnh có điều kiện chú ý giọng nói, cách viết của 3 miền và thấy có sự khác biệt nhau rõ nét như chữ ch với chữ tr ngoài Bắc không phân biệt mấy nhưng “ở Nam Kỳ thì thật có phân biệt. Như con trâu mà viết thành châu (hạt châu) thì người Nam Kỳ không hiểu… Sự này tôi đã có ý nghiệm từ Thanh Hoá vô tới Quảng Nam và ở Sài Gòn”. Hay chữ s với chữ x: ngoài miền Bắc và miền Trung thì không phân biệt hai chữ này còn người miền Nam thì “chữ s uốn lưỡi như chữ ch tây, còn chữ x thì đọc như chữ s tây. Chữ gi, chữ d, chữ r thì ở Bắc Kỳ ta không phân, còn ở Nam Kỳ và Trung Kỳ phân biệt được chắc chữ r mà thôi, còn d với gi cũng đọc như chữ y, mà không mấy người biết chắc được tiếng nào đáng viết d hay gi” [8]. Mục đích của ông khi ông đưa ra sự so sánh giữa 3 miền là mỗi miền nên học những tiếng chuẩn của nhau, mỗi bên có thể “nhường nhịn” nhau một chút, như ngoài Bắc nên theo trong Nam mấy tiếng “gi thành tr, d thành nh, nh thành l… để dùng cho đều trong văn tự, ba miền cùng dễ hiểu cả”. Ông đã liệt kê ra một số từ:

“1. Gi đổi ra tr: trả để thay cho tiếng giả, trai gái – giai, trăng gió – giăng, trao đổi – giao, trầu không – giầu, tro tàn – gio, trồng cây – giồng, trở về – giở.
2. s đổi ra tr: trống mái để thay cho tiếng sống.
3. d đổi ra nh: mạng nhện để thay tiếng dện, nhọn – dọn, nhốt gà – dốt, nhơ bẩn – dơ…
4. nh đổi ra l: lạt để thay tiếng nhạt, lát (chốc) – nhát, lầm (lẫn) – nhầm, lẹ – nhẹ…” [9]. Theo ông nếu mỗi miền chịu học những từ chuẩn của nhau thì chữ Quốc ngữ ngày càng trở nên rõ ràng và trên văn tự có sự thống nhất trong cả nước.

Theo Nguyễn Văn Vĩnh chữ Quốc ngữ trong thời gian đầu “viết có mẹo mực lối lăng. Lối chỉ có một, không phân ra lắm cách như bây giờ, cho nên dễ nhận. Lối ấy, tất là lối của những người Âu châu sang đây trước nhứt, tức là các cố đạo”. Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh muốn chữ Quốc ngữ phải là một lối viết có luật lệ, có kinh điển để “xứng đáng làm văn chương riêng của nước Nam ta” [10]. Cho nên ông cho rằng sự khác biệt giữa 3 miền và việc học hời hợt chữ Quốc ngữ của một số người đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của chữ Quốc ngữ, vì nhiều khi các chữ viết không đúng đã làm cho người đọc phải suy nghĩ và dễ gây hiểu sai nghĩa. Từ thực tế đó ông sợ chữ Quốc ngữ dần dần “thành một lối chữ hỗn độn, không ai hiểu được nữa” [11]. Ông đã đề nghị các quan cai trị xét trong các đơn từ nếu đơn nào viết sai lỗi chính tả thì không nhận, trừ những việc khẩn cấp. Nếu được “như thế thì chắc rằng chẳng bao lâu bắt được người Annam phải viết chữ Quốc ngữ theo phép chớ không viết liều được nữa” [12].

Trên Đông Dương tạp chí ngay từ những số đầu năm 1913, đã có những bảng mẫu chữ cái Quốc ngữ bao gồm một số nguyên âm và phụ âm, nguyên âm đôi, các vần ghép: bơ, cơ, dơ, gơ, hơ, kơ… và một số đếm đơn giản từ 1 đến 9 và số 0. Bảng chữ cái viết hoa to và các chữ thường theo sau là cách phát âm khá chuẩn xác. Chúng tôi thấy đủ 23 chữ cái, 6 nguyên âm ngắn và 11 phụ âm. Cách phát âm các từ này có kèm theo tranh vẽ dễ hiểu như sách học vần của các em lớp 1 hiện nay, ví dụ: Dép (vẽ đôi dép), Tháp (vẽ cái tháp), lọ (vẽ cái lọ), người mẹ, cái chợ, con quạ… đều có vẽ tranh nhỏ minh họa. Đặc biệt ở Đông Dương tạp chí năm 1918 còn có bài hướng dẫn cách cầm bút, cách ngồi, cách viết… Tất cả những công việc này đều có đóng góp quan trọng bậc nhất của chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh, người đã hết lòng cho việc cổ suý chữ Quốc ngữ phát triển sâu rộng trong quảng đại quần chúng nhân dân.

Để chữ Quốc ngữ ngày càng hoàn chỉnh, giúp cho mọi người đọc và hiểu được dễ dàng, bên cạnh việc chỉnh sửa những chữ còn sai khi nói và viết (chính tả) thì cần phải thống nhất cách phiên âm tên đất, tên người nước ngoài khi dịch ra chữ Quốc ngữ. Thông thường người dịch theo tiếng Trung Quốc, mặc dù rất dễ đọc và nhớ nhưng lại bị sai với nguyên bản, còn nếu dịch thẳng từ tiếng nước ngoài ra chữ Quốc ngữ thì nhiều người lại không hiểu, còn để nguyên như bản gốc thì những người không biết tiếng nước ngoài lại không đọc được. Từ những khó khăn đó Nguyễn Văn Vĩnh đã đưa ra hai cách phiên âm: “Bao nhiêu những tên nước lớn, ai cũng biết theo tiếng Tàu rồi như là Pháp, Anh, Nga, Đức, Bỉ-lị-thì, áo, thì cứ để tiếng biết rồi mà dùng… Còn bao nhiêu những chỗ chưa mấy biết thì dịch theo cách mới, lấy cho gần nguyên âm”, tức là “ khi viết lẫn những tên ấy vào văn quốc ngữ thì nên viết tiếng dịch trước rồi vòng hai bên hai cái viết nguyên dạng chữ vào sau cho người đã biết tiếng Tây dễ nhận ra” [13]. Đây là một vấn đề rất cần thiết và rất thời sự đối với báo chí, xuất bản lúc bấy giờ.

Với mong muốn đưa chữ Quốc ngữ nhanh chóng trở thành một chữ viết phổ thông, Nguyễn Văn Vĩnh đã tham gia viết nhiều thể loại, từ nghị luận, dịch tiểu thuyết, thơ ngụ ngôn… bằng chính chữ Quốc ngữ, để chữ Quốc ngữ dần hoàn chỉnh, có khả năng truyền tải được tất cả tư tưởng, tình cảm của con người. Những người không biết chữ Hán và chữ Pháp thì qua chữ Quốc ngữ cũng có thể tiếp cận được những áng văn hay, những tư tưởng mới của nước ngoài. Nguyễn Văn Vĩnh còn biên soạn một quyển sách tự học chữ Quốc ngữ để phát cho những người mua báo. Nguyễn Văn Vĩnh luôn tận dụng mọi điều kiện, mọi khả năng về phương diện báo chí mà mình có để có thể tuyên truyền cho chữ Quốc ngữ.

Chữ Quốc ngữ có tới 5 dấu thanh: nặng, sắc, huyền, hỏi, ngã và những râu ở chữ đ, ơ, ư. Nguyễn Văn Vĩnh đã đề xướng cải cách ngay trên tờ báo do ông làm chủ bút (Đông Dương tạp chí, Trung Bắc Tân văn). Theo đó chữ F thay dấu huyền, chữ W thay dấu sắc… Sự cải cách của ông rất tiện lợi trong thời kỳ máy chữ mua của Pháp. Nhưng những việc làm đó của ông không được nhiều người cùng thời hưởng ứng. Mãi sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, và sau ngày hoà bình lập lại, ngành bưu điện Việt Nam đã áp dụng chính hệ thống “chữ Quốc ngữ cải cách của Nguyễn Văn Vĩnh” trong các điện tín.

Trong số những người cùng chí hướng với ông thời gian đó như Phan Kế Bính, Trần Trọng Kim, Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Quỳnh… thì Nguyễn Văn Vĩnh được coi là người đứng đầu của phong trào cổ vũ và truyền bá chữ Quốc ngữ ở Việt Nam. Ông luôn thực hiện bằng cả hai hình thức: diễn thuyết và xuất bản (hay ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết).

Với mục đích đào tạo một số người trở thành phiên dịch phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, cho nên trong chương trình giảng dạy, chữ Quốc ngữ chỉ chiếm thời lượng rất ít mà phần lớn thời gian dành cho việc học chữ Pháp. Vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh, cùng với việc truyền bá văn hoá phương Tây đã rất tích cực tuyên truyền, cổ vũ người dân học chữ Quốc ngữ, dùng chữ Quốc ngữ để truyền tải những cái hay cái đẹp của nền văn minh Việt, phổ biến những tư tưởng Đông – Tây để làm cho nhân dân vừa hiểu được nền văn hoá Pháp, vừa giữ được bản sắc văn hoá dân tộc. Ông đã từng nói “Nước Nam ta mất vì những trí thức nho học chỉ biết làm văn Tàu. Chúng ta bây giờ đừng để trở thành những người trí thức mới chỉ biết làm văn chương Tây” [14].
Chữ Quốc ngữ lúc đầu rất phức tạp vì chữ có rất nhiều nguyên âm (72 nguyên âm), cho nên việc in ấn gặp rất nhiều khó khăn do các máy chữ mua của phương Tây không có nhiều dấu như vậy. Do đó, việc cải cách chữ Quốc ngữ cho bớt dấu đi là rất cấp thiết và quan trọng. Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những người đầu tiên đề xướng việc cải cách chữ Quốc ngữ để tiện in ấn, xuất bản. Theo Hồ Lân Trinh trong “Sự cải cách vần chữ Việt” thì “Muốn cho chủ và thợ nhà in áp dụng những tiến bộ về kỹ thuật ấn loát cho chữ Việt, thì phải cải cách chữ viết thế nào cho ít dấu chữ chừng nào hay chừng nấy. Đi từ ý này và đưa ý đó đến chỗ cùng tột, Nguyễn Văn Vĩnh đề nghị hạn chế các dấu lại còn 26: đó là số người Anh hùng. Như vậy bất cứ máy sắp chữ mua ở thị trường nào trên thế giới cũng có thể “phụng sự” chữ Việt được. Nhưng làm sao để nhốt 72 nguyên âm Việt vào trong phạm vi chật chội của 7 nguyên âm Anh? Nguyễn Văn Vĩnh liền đề nghị hai ước lệ: thay thế một số nguyên âm bằng những nguyên âm đôi và đánh dấu giọng thấp cao bằng những phụ âm không ở cuối vần mà người sẽ để ở chót tiếng” [15].

Đến năm 1918 [16] năm kết thúc của tờ Đông Dương tạp chí, đồng thời cũng là năm chữ Quốc ngữ thắng lợi hoàn toàn, thì không còn ai có thể nghi ngờ khả năng của chữ Quốc ngữ nữa. Chữ Quốc ngữ đã có thể dịch được tất cả những áng văn hay của nước ngoài, cũng như diễn tả được những tư tưởng và cảm xúc một cách chân thực. Chữ Quốc ngữ đã được sử dụng rộng rãi thay thế chữ Hán và chữ Nôm (chữ Hán bị bãi bỏ trong thi cử năm 1915 ở Bắc Kỳ, và chấm dứt trên cả nước năm 1919 ở Trung Kỳ). Từ đây chữ Quốc ngữ đã trở thành thứ chữ phổ thông chiếm vị trí quan trọng và được tất cả người dân Việt Nam ưa dùng.

Để đạt được thành quả đó, những người đi tiên phong cổ vũ và cải cách chữ Quốc ngữ như Nguyễn Văn Vĩnh đã trải qua rất nhiều khó khăn. Vì trong chương trình học của nước ta lúc đó, chỉ 3 năm đầu cấp tiểu học được học bằng chữ Quốc ngữ, đến bậc trung học chữ Quốc ngữ chỉ còn là một môn sinh ngữ, trong khi tiếng Pháp được nâng lên trong tất cả các môn học. Và đến bậc cao đẳng, đại học thì chữ Việt mất hẳn, chỉ còn lại chữ Pháp. Đồng thời, họ phải đối đầu với ý thức hệ phong kiến lạc hậu, bảo thủ trong xã hội Việt Nam. Vì vậy việc cổ động cho việc học chữ Quốc ngữ từ thành thị đến nông thôn là một việc rất vất vả. Trước thực tế đó việc lên tiếng bảo vệ, cổ động cho chữ Quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh và những người cùng chí hướng với ông là một việc làm rất đáng kể, rất đáng trân trọng.

Mặc dù chữ Quốc ngữ và những người truyền bá chữ này được đặt dưới sự bảo trợ của Chính quyền thuộc địa, nhưng người Pháp không thể ngờ rằng, khi loại chữ này đã trở thành chữ viết của dân chúng để truyền đạt tư tưởng và nguyện vọng, thì chính quyền thuộc địa lúc này đã không thể kiểm soát được nữa và nó đã trở thành nhân tố quan trọng trong công cuộc giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam sau này cũng nhận thấy việc truyền bá chữ Quốc ngữ là một biện pháp để giáo dục quần chúng và đưa quần chúng đi theo con đường cách mạng của Đảng và Mặt trận Việt Minh tiến tới Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Chữ Quốc ngữ đã được giảng dạy trong tất cả các trường từ bậc tiểu học đến đại học.

4. Một vài nhận xét về Nguyễn Văn Vĩnh
Những năm cuối đời, Nguyễn Văn Vĩnh gặp nhiều khó khăn trong công việc báo chí, xuất bản lẫn trong chính trường. Từ năm 1930 trở đi, Nguyễn Văn Vĩnh đã nợ Ngân hàng Đông Dương rất nhiều tiền nên chính quyền thuộc địa Pháp buộc ông phải lựa chọn một trong ba con đường do Pháp đặt ra: Một là vào Huế làm quan Thượng thư; Hai là vào tù; Cuối cùng là phải đi biệt xứ sang Lào tìm vàng về trả nợ. Ông đã chọn phương án thứ ba để bảo vệ nhân cách của mình, đồng thời ông cũng muốn qua chuyến đi này có thể khảo sát thêm và có điều kiện tiếp tục viết báo. Nhưng ông đã chết trong lần thứ hai đi tìm vàng trên dòng sông Sê-băng-ghi, trên một chiếc thuyền độc mộc, trong người không có lấy một đồng xu, nhưng trên tay vẫn đang cầm một quản bút và một bài phóng sự đang viết dở “Một tháng với những người đi tìm vàng”, mà mấy bài đầu ông gửi về đăng trên tờ Annam Nouveau. Ông mất vào ngày 1-5-1936.

Như phần trên đã nói, Nguyễn Văn Vĩnh lúc đầu gặp nhiều hạn chế về học hành, nhưng bù lại ông lại có một trí thông minh tuyệt vời. Bằng nỗ lực cá nhân ông đã vươn lên và trưởng thành một cách nhanh chóng. Về chữ Quốc ngữ ông là người đóng góp nhiều và quan trọng nhất, để có được một thứ chữ như ngày hôm nay cho chúng ta dùng. Nguyễn Văn Vĩnh còn là người mở đầu và có đóng góp rất lớn cho một ngành mới trong những năm đầu thế kỷ XX: đó là ngành báo chí mà bây giờ rất phát triển và quan trọng. Đồng thời ông cũng mở đầu cho một nghề mới: nghề in ấn và xuất bản.
Nghề này, được phát triển nhanh chóng và trở thành nghề tối quan trọng không thể thiếu được ở các quốc gia văn minh. Nguyễn Văn Vĩnh cũng là người khởi đầu cho các thể loại như thơ mới, truyện ngắn, tiểu thuyết mà đến những năm 1930-1945 đạt đến đỉnh cao và giai đoạn này đã ghi được một nét sâu đậm trong lịch sử phát triển của nước nhà. Đồng thời, ông còn là người khơi nguồn và cổ động nhiệt tình cho một loại hình nghệ thuật hoàn toàn mới mẻ đối với dân tộc Việt Nam lúc đó là kịch nói và điện ảnh. Về văn hoá ông đóng góp rất lớn trong việc truyền bá văn hoá phương Tây vào Việt Nam thông qua dịch thuật. Những tác phẩm của ông để lại bây giờ theo thống kê của con cháu ông có đến hàng ngàn cuốn sách viết, dịch và hàng vạn bài báo bằng tiếng Việt, tiếng Pháp. Có thể nói, cho đến ngày hôm nay cái tài viết của ông gồm đủ các thể loại, với nội dung phong phú từ viết tin, dịch thơ, phóng sự, khảo cứu, dịch tiểu thuyết, dịch hài kịch.. . ít ai vượt qua được. Một khối lượng khổng lồ làm ra trong vòng có 30 năm (1906-1936), quả thật đáng kính nể và là những tài liệu quý.

Cụ Hoàng Đạo Thuý, một trí thức yêu nước người Hà Nội đã nhận xét về Nguyễn Văn Vĩnh: “Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những thông ngôn đầu tiên giỏi tiếng Pháp, có học thức, tinh khôn, tài hoa, lại có óc kinh doanh. Vĩnh rất hăng hái trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ… Sau Nguyễn Văn Vĩnh kinh doanh nghề in, cải tiến nhà in, ra được nhiều sách đẹp, lại làm việc kinh doanh nữa. Đã kinh doanh thì va ngay vào các quyền lực tài chính của thực dân Pháp và bị đè bẹp” [17]. Khi ông mất có rất nhiều các bậc danh tiếng thời đó như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Trọng Kim, Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Tố… đã gửi tới viếng ông những câu đối, trướng, liễn với biết bao tình cảm tiếc thương và kính trọng.

Việc nghiên cứu, đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh còn cần phải đầu tư nhiều công sức và thời gian.

Bài viết này chỉ góp một phần rất nhỏ vào việc nhận định, đánh giá một số đóng góp Nguyễn Văn Vĩnh về văn hóa như phát triển báo chí tiếng Việt và cổ vũ và truyền bá chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX.

20 thg 7, 2009

Thị trấn Tân Châu bị Bà Thủy nuốt cũng do nạn này !

“Rút ruột” sông Hậu - Hồ Hùng
(TBKTSG 20/7/2009, 09:45 GMT+7) - Hai tháng nay, sông Hậu đang trở thành điểm nóng về khai thác cát bừa bãi. Trong khi đó, chính quyền địa phương vẫn chưa có giải pháp nào để hạn chế và cứ mặc dòng sông bị “rút ruột”.


Tranh nhau tài nguyên
Năm 2008, được phép của phía Việt Nam nên mỗi ngày đều đặn có 4 - 5 tàu Singapore vào Cần Thơ thu gom cát. Đây là loại cát tốt, được khai thác trên sông Mêkông, đoạn chảy qua Campuchia. Tuy nhiên, từ tháng 5-2009, phía Campuchia đã cấm hẳn việc khai thác cát trên sông Mêkông, khiến các nhà cung ứng điêu đứng.
Ngay lập tức, họ kéo phương tiện sang phía Việt Nam, đến đoạn sông Hậu chảy qua địa bàn Cần Thơ, Đồng Tháp... ung dung khai thác để cung ứng tiếp cho tàu Singapore và các đơn đặt hàng trong nước. Theo Phòng Cảnh sát giao thông đường thủy (Công an thành phố Cần Thơ), đó là lý do mà hiện nay các tàu Singapore vẫn đều đặn hàng ngày vào Cần Thơ nhận cát.

Ngoài ra, một số tỉnh, thành phía Bắc cũng tạm ngưng một vài hoạt động khai thác khoáng sản, nên các phương tiện khai thác cũng được kéo về hoạt động tại sông Tiền và sông Hậu. Một cán bộ Phòng Cảnh sát giao thông đường thủy Cần Thơ cho biết, chỉ riêng từ Hải Dương, đã có khoảng 85 sà lan từ 400-1.500 tấn được kéo vào ĐBSCL hoạt động.

Theo ông Đặng Hữu Phước, Trưởng phòng Tài nguyên - Khoáng sản - Nước - Khí tượng thủy văn (Sở Tài nguyên - Môi trường), tại đoạn sông Hậu chảy qua Cần Thơ hiện có hơn 100 sà lan đang khai thác cát, dù sở này chỉ cho đăng ký 31 phương tiện được phép hoạt động. Các sà lan vừa nạo cát, vừa trang bị cả máy bơm hiện đại để hút trực tiếp cát từ đáy sông.

Các phương tiện khai thác “chui” mang bảng đăng ký ở Đồng Nai, Long An, An Giang, Cà Mau... và thường hoạt động vào ban đêm để “né” lực lượng kiểm tra. Theo ông Nguyễn Thanh Dũng, Chủ tich UBND quận Thốt Nốt, một chiếc sà lan khai thác cát có thể đạt lợi nhuận 30-40 triệu đồng/đêm nên các chủ phương tiện đua nhau “rút” cát hết mức có thể. “Tình hình đã vượt tầm kiểm soát”, ông nói.
Hiện tại, cồn Tân Lộc, cồn Khương... đang đứng trước nguy cơ sạt lở rất lớn do các phương tiện “bu” vào khai thác xung quanh. Còn ở cồn Cái Đôi (Thốt Nốt), người dân liên tục gửi đơn khiếu nại đến Sở và Bộ Tài nguyên - Môi trường do tình trạng sạt lở liên tục diễn ra bởi các sà lan khai thác cát, nhưng tình hình vẫn không biến chuyển.

Ở Campuchia trước đây, mỗi chiếc cần cẩu đăng ký khai thác cát phải nộp 22.000-25.000 đô la Mỹ, sau đó tiếp tục đóng 1,5-2,5 đô la Mỹ trên mỗi mét khối cát khai thác được. Còn tại Cần Thơ, theo ông Nguyễn Viết Thân, Cục phó Cục Thuế Cần Thơ, với bảy doanh nghiệp còn đang hoạt động khai thác có giấy phép, hàng năm ngành thuế chỉ thu được vài trăm triệu đồng cho ngân sách. Còn các phương tiện khai thác chui thì không hề thu được đồng nào, dù tài nguyên đang bị móc ruột ngày đêm!

Bó tay vì quản lý yếu

Ông Phước cho rằng, việc kiểm tra và xử lý các phương tiện khai thác chui là rất khó do thiếu kinh phí và cán bộ. “Khi đến kiểm tra, họ đổ rằng chủ sà lan đang đi vắng, giấy tờ ông chủ cất... nên cương quyết không chịu ký biên bản. Nhưng nếu muốn xử lý kiên quyết bằng cách kéo phương tiện về thì chúng tôi lại không biết... điều khiển”, ông nói.
Thực tế, thời gian qua Phòng Cảnh sát giao thông đường thủy đã kiểm tra xử phạt 22 phương tiện. Tuy nhiên mức phạt chỉ từ vài triệu đồng hoặc 30-40 triệu đồng, chỉ tương đương lợi nhuận một đêm mà một sà lan mang lại, nên không đủ sức răn đe. Trong khi đó, phương án xử lý nặng nhất là tịch thu phương tiện, hiện chỉ mới được đưa ra bàn bạc.

Hiện đang có 10 mỏ cát ở Cần Thơ được Sở Tài nguyên - Môi trường cho “mở cửa”, với 16 doanh nghiệp được cấp phép khai thác trên tổng diện tích 558,88 héc ta, trữ lượng trên 25,2 triệu mét khối. Nhưng ngay cả các phương tiện khai thác có đăng ký, Sở Tài nguyên - Môi trường cũng không thể quản lý nổi lượng cát mà họ khai thác được hàng tháng là bao nhiêu, có khai thác đúng vị trí cấp phép để tránh sạt lở hay không... Chỉ tại quận Thốt Nốt, theo ông Dũng, qua kiểm tra 38 trường hợp thì một nửa trong số đó đã vi phạm về vị trí khai thác... Trong khi đó, sở này đã cấp một số giấy phép có thời hạn đến... 10 năm.

Ông Dũng nói: “Ngay cả bốn mỏ cát ở Thốt Nốt mà Sở Tài nguyên - Môi trường đã cấp phép, đúng ra chưa nên cho khai thác. Bởi khai thác kiểu này thì không còn chỗ nào trên dòng sông còn bồi lắng”. Theo ông, sau khi được cấp phép, hầu như các doanh nghiệp đều bán lại hợp đồng khai thác cho một số phương tiện chui, sau đó photocopy giấy phép phát cho chủ các phương tiện để đối phó khi có kiểm tra. “Không ai biết được hiện một mỏ cát có bao nhiêu phương tiện khai thác”, ông Dũng khẳng định.

NHỮNG KỶ-NIỆM VỀ THẦY DƯƠNG-VĂN-ÚT

Thầy Dương-văn-Út, là một nhà giáo đã có hơn 50 năm cống hiến cho việc giáo dục quận Tân Châu, tỉnh Châu-Đốc nay là Huyện Tân-Châu,Tỉnh An-Giang.Thầy đã đào tạo biết bao thế-hệ học trò và những học trò của Thầy đa số đã thành đạt và cống hiến nhiều cho xã-hội, nay vẫn còn một số học trò cũ của Thầy hãy còn phục vụ cho quê hương, đất nước.


Tôi được biết Thầy khi tôi rời trường ở làng quê ra chợ học bậc Tiểu-học; lúc ấy Thầy đang là giáo-viên Trường Nam Tiểu-Học Tân-Châu.

Mặc dù không được học với Thầy nhưng tôi rất yêu kính Thầy và thường hay đeo bám cửa lớp của Thầy đang dạy để xem Thầy dạy, nhất là nghe Thầy tập cho học-trò hát thật vui là bài “Con Chuột" Thầy hát: "Một con chuột, có một cái đuôi, hai tai, hai mắt, một đầu, bốn chân…” Bài hát đựơc phổ-biến rộng rãi, dễ nhớ, từ giáo-viên đến học-sinh trong trường ai cũng thuộc. Những lớp Thầy không dạy nhưng khi có thầy, cô nào có việc đến lớp trể hoặc có việc đi ngoài, lớp ồn ào, mất trật tự thì Thầy đến ngay để giữ lớp giùm và thế là Thầy lấy bài hát “Con chuột” ra dạy cho học trò .

Khi quận Tân-Châu được mở trường Trung-học Công-Lập, tôi là một trong những giáo-viên được bổ-dụng về dạy Trường nầy.Vì là trường mới thành-lập chưa có cơ sở nên Trường Trung-học Công-lập Tân-Châu lúc bấy giờ phải mượn phòng học của Trường Nam Tiểu-Học và Bộ Giáo-Dục đề-cử Thầy Dương-văn-Út, lúc nầy đang đảm nhiệm chức vụ Hiệu-Trưởng Trường Nam kiêm Quản-Đốc Trường Trung-Học Công-Lập Tân-Châu. Do đó, tôi có dịp gặp lại Thầy dưới mái trường ngày xưa mà tôi đã có rất nhiều kỷ-niệm .Tôi cũng vô cùng xúc động, phấn-khởi khi gặp lại những Thầy cũ của tôi nay vẫn còn đứng lớp cùng với lớp giáo viên trẻ mới ra trường …

Lúc bấy giờ Thầy rất bận rộn vì ngoài việc điều hành trường Nam Tiểu Học Thầy phải kiêm nhiệm thêm việc điều hành mấy lóp Trung-học Công-lập mới mở.

Trước tấm lòng nhiệt huyết của Thầy đối với giáo dục địa phương, chúng tôi, những người mới rời trường học để ra làm thầy cũng như những giáo viên đang cộng tác với Thầy lâu năm bên Tiểu-học đều hết lòng tiếp tay, tiếp sức với Thầy trong công việc điều hành.Chính nhờ vậy mà trong thời gian gần gủi với Thầy tôi học hỏi ở Thầy nhiều kinh nghiệm trong cách đối nhân xử thế, cách điều hành …cho đến khi ngôi trường Trung-học Công -Lập Tân-Châu được hợp-thức hóa thành một trường đúng chuẩn bậc Trung-học và tôi được Bộ Giáo- Dục đề cử chức vụ Hiệu-Trưởng thay thế Thầy.

Thầy thường kể cho chúng tôi nghe những chuyện vui nhất là chuyện vui trong nghề giáo có pha chút tiếu-lâm nên chúng tôi có những dịp “cười đến chảy nước mắt”.

Chuyện “ngáp phải ruồi”, chuyện nầy xảy ra thời Pháp ở Việt Nam do Thầy kể :

Một gíáo-viên dạy tiểu-học, kém tinh thần trách nhiệm, không làm sổ sách, cộng sổ điểm để xếp hạng mỗi tuần cho học trò ở lớp mình dạy, nên hay bị ông Đốc học (Hiệu Trưởng) nhà trường nhắc nhở, cảnh cáo …thường xuyên nhưng tình trạng cũng không cải thiện. Một hôm, nhằm ngày chủ nhật có viên thanh- tra giáo dục địa-phương là người Pháp đến trường để đánh quần-vợt với mấy thầy giáo tại sân trường (sân trường ngày trước thường tráng xi-măng để vừa làm sân chơi cho học sinh vừa làm sân quần vợt ).

Trong giờ giải lao, viên thanh tra nầy nhìn thấy có một cửa lớp học đang mở (các lớp khác đóng cửa im- ỉm vì là ngày nghỉ).Thấy lạ, viên thanh-tra nầy ngạc-nhiên đi đến và nhìn vào thì gặp người giáo viên vừa kể đang chăm chú làm sổ sách.Viên thanh tra đi vào vồn-vả, bắt tay, khen nức-nở người giáo viên và kêu ông Đốc- học trường đến chỉ thị lập hồ sơ khen thưởng về sự “tận tụy, yêu nghề”cho giáo viên nầy !

Ông Đốc-học trường đành làm theo lịnh thanh-tra dù ông Đốc-học biết rằng hôm nay vì có cuộc cự cải với bà xã ở nhà nên ông thầy giáo nhà mình mới vào mở cửa lơp làm siêng một bữa mà lại gặp hên ngay như vậy!.

Thầy Dương-văn-Út còn kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện vui khác liên quan đến nghề thầy như chuyện “Cơm hà"...

Rất tiếc vì sạt lở nên cơ sở ngôi trường NamTiểu-học Tân Châu không còn, chỉ còn lại cái cổng trường với tên hiệu và tuồng chữ kẻ trên trụ cột xi măng của thầy Võ-văn-Nhiệm ; tấm bảng ghi câu “NHIỆM-VỤ CỦA NHÀ GIÁO CHƯA CHẤM DỨT SAU BUỔI HỌC CHIỀU”,câu mà tôi luôn tâm niệm khi theo nghề giáo, treo ở dãy hành lang giữa, tôi cũng không tìm thấy ở đâu!

NG-NG

16 thg 7, 2009

Nội y thì cấm, đồ tắm thì... OK ! (Thanh Niên Online)

Quyết định số 39 do UBND TP.HCM ban hành ngày 5.6 về việc cấm dùng ma-nơ-canh (mannequin) trưng bày trang phục lót, quảng cáo poster hình người mẫu mặc trang phục lót nơi công cộng, cửa hiệu, cửa hàng, nơi sản xuất kinh doanh... gây thắc mắc cho nhiều người cả mua lẫn bán.

Quy định mới này nhằm mục đích “tạo vẻ mỹ quan” cho đô thị. Từ 15.6, trên địa bàn TP.HCM, các cửa hàng, cửa hiệu, nơi sản xuất, nơi công cộng không được dùng hình ảnh, sản phẩm minh họa quần áo lót, băng vệ sinh, tã lót để quảng cáo, kinh doanh.

Rất nhiều chủ cửa hàng kinh doanh trang phục lót tại TP cho biết họ sẽ khoác thêm lên ma-nơ-canh áo mỏng hoặc choàng tấm khăn voan để “lách luật”. Vì quy định chỉ cấm ma-nơ-canh mặc trang phục lót, không cấm phủ thêm áo khoác hay khăn voan.

Nghịch lý hiện nay là dù không cho phép biểu diễn trang phục lót, áo tắm trên sàn diễn thời trang nhưng tại các cuộc thi hoa hậu, hoa khôi, người đẹp ban tổ chức vẫn có thể cho các thí sinh trình diễn trang phục áo tắm 1 mảnh hay 2 mảnh bằng cách choàng thêm tấm khăn voan mỏng.

Trong khi đó, cũng có “họ hàng” với nội y là đồ tắm thì được phép trưng bày, quảng cáo, vì theo một cán bộ Sở VH-TT-DL TP thì: “Đồ tắm là trang phục mặc nơi bãi biển, nơi công cộng nên hoàn toàn được phép trưng bày, quảng bá. Còn nội y không phải là trang phục mặc nơi công cộng nên không được phép”.

Thực ra, đi trên đường nhìn vào một cửa hiệu, người tiêu dùng khó mà phân biệt rõ trang phục lót hay đồ tắm nếu không quan sát thật kỹ lưỡng. Thậm chí nếu xét về thuần phong mỹ tục, nhiều bộ đồ tắm còn “thiếu vải” và khêu gợi hơn cả những bộ trang phục lót bình thường. Trang phục lót ở đây phải hiểu gồm cả áo thun lót dành cho nam, quần đùi nam, áo lót nữ dạng áo thun 3 lỗ ôm sát dùng chơi thể thao, áo lót liền quần của nữ, quần dài lót của nữ, váy lót, đồ lót body fit (toàn thân)...

Quy định 39 không nêu trang phục ngủ có bị cấm trưng bày hay không.

Chỉ TP.HCM là cấm, các nơi khác thì không

Ma-nơ-canh trưng bày trang phục lót hiện vẫn nhìn thấy ở cửa hiệu tại TP.HCM dù có quy định cấm từ ngày 15.6 - ảnh: Đ.T

Điều đặc biệt, cấm ma-nơ-canh mặc đồ lót chỉ áp dụng tại TP.HCM, trong khi các tỉnh thành khác trong cả nước, kể cả tại thủ đô Hà Nội thì không hề cấm! Như vậy, cùng một công ty sản xuất trang phục lót sẽ xảy ra điều nghịch lý: cấm trưng bày quảng cáo sản phẩm tại TP.HCM còn các tỉnh thành khác thì vô tư!

Nhìn sang các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Philippines... không nước nào có quy định cấm ma-nơ-canh mặc trang phục lót như tại TP.HCM!

Đến nay, các đơn vị, công ty, cửa hàng sản xuất, bày bán, kinh doanh trang phục lót vẫn chưa nhận được công văn hướng dẫn cụ thể về việc cấm trưng bày ma-nơ-canh mặc đồ lót kèm hình thức chế tài nếu vi phạm. Vì thế, nếu dạo quanh một vòng các phố thời trang tại TP dễ thấy vẫn còn rất nhiều cửa hàng trưng bày ma-nơ-canh mặc trang phục lót.

Một TP có mỹ quan hay không, chắc chắn không phải vì chuyện ma-nơ-canh mặc hay không mặc đồ nội y. Và chắc chắn Hà Nội hay các tỉnh thành khác không có quy định cấm trưng bày ma-nơ-canh mặc đồ lót thì không có nghĩa là những nơi ấy thiếu mỹ quan.

Hình ảnh Long Xuyên









Chùa Hang - Châu Đốc - An Giang





15 thg 7, 2009

Long Xuyên 2009

Bờ sông công viên Nguyễn Du


Đường bên Hồ Nguyễn Du


Chùa Hang Châu Đốc